Theo Công ty SJC, đang xuất hiện các đối tượng làm giả fanpage mạo danh Công ty SJC nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người có nhu cầu mua vàng tích trữ. Các đối tượng có rất nhiều fanpage giả (có cả tích xanh) và copy toàn bộ nội dung bài viết gốc từ fanpage của SJC nhằm mục đích gây nhầm lẫn với fanpage chính thức này của SJC.
Các đối tượng sẽ đẩy quảng cáo bài và video có nội dung thông báo cách thức đăng ký mua vàng miếng SJC lên bảng tin của người dùng có hành vi quan tâm đến vàng miếng SJC. Sau khi có người liên hệ hỏi về thủ tục đăng ký, chúng sẽ dẫn dụ con mồi vào kịch bản được dựng sẵn. Đó là đăng ký mua và thanh toán trước để đến nơi nhận ngay, không phải xếp hàng chờ.
Các đối tượng sẽ yêu cầu nạn nhân cung cấp thông tin để đưa lên 1 tờ hóa đơn giả có kèm mã QR thanh toán. Thông tin hóa đơn là của Công ty SJC nhưng tài khoản nhận chuyển khoản sẽ là một công ty khác. Các công ty này đa số sẽ là công ty vừa được cấp phép hoạt động thời gian chưa đầy 1 tuần, trong tên đăng ký có lồng chữ “SJC” để hạn chế sự nghi ngờ. Khách hàng có thể kiểm tra công ty trên trang website https://masothue.com/.
Nếu cảm thấy bị nghi ngờ, kẻ lừa đảo sẽ tung hỏa mù lên nạn nhân bằng chương trình tri ân khách hàng “Mua vàng tặng vàng”, mục đích đánh vào lòng tham và loại bỏ sự đề phòng của nạn nhân. Nếu thấy không dẫn dụ được chúng sẽ block ngay lập tức.
Công ty SJC lưu ý khách hàng không thực hiện bất kỳ giao dịch tiền bạc nào qua không gian mạng. Công ty cũng không yêu cầu khách hàng đặt cọc giữ hàng cũng như thanh toán trước. Tất cả giao dịch chỉ được thực hiện trực tiếp tại các địa điểm giao dịch chính thức đã được thông báo của SJC. Khách hàng tuyệt đối không chuyển khoản hoặc thực hiện giao dịch với các fanpage/fakepage, website mạo danh SJC. Đồng thời không cung cấp thông tin cá nhân, tài khoản ngân hàng cho các trang mạo danh hoặc không chính thống.
Nguồn: https://thanhnien.vn/mao-danh-cong-ty-sjc-lua-khach-hang-mua-vang-185260403163020533.htm

Bộ Công thương đang lấy ý kiến dự thảo thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 60/2025 về thực hiện giá bán điện. Từ đó áp dụng khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường mới của hệ thống điện quốc gia.
Theo Quyết định 963 của Bộ Công thương quy định về khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia.
Khung giờ cao điểm được dồn vào buổi tối từ 17 giờ 30 đến 22 giờ 30, thay vì theo khung giờ điện cao điểm hiện tại là từ 9 giờ 30 - 11 giờ 30 và từ 17 giờ 30 đến 20 giờ 30, từ thứ hai đến thứ bảy hàng tuần. Riêng Chủ nhật không áp dụng giờ cao điểm.
Khung giờ bình thường là từ 6 - 17 giờ 30 và từ 22 giờ 30 đến 24 giờ (13 giờ/ngày), từ thứ hai đến thứ bảy hàng tuần. Riêng chủ nhật thì giờ bình thường được áp dụng liên tục từ 6 - 24 giờ.
Còn lại, khung giờ thấp điểm được áp dụng từ 0 - 6 giờ hàng ngày trong tuần.
Tuy nhiên, thay đổi này hiện vẫn chưa được Bộ Công thương áp dụng do quy định tại Thông tư 60/2025, khung giờ mới chỉ được áp dụng khi có đợt điều chỉnh giá điện bình quân. Năm nay, giá điện bình quân chưa có đợt điều chỉnh. Thế nên, tại dự thảo thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 60 quy định về thực hiện giá bán điện, Bộ Công thương đã đề nghị bỏ quy định chuyển tiếp về tiếp tục áp dụng khung giờ cũ cho đến khi có đợt điều chỉnh giá điện bình quân gần nhất.
Do vậy, Bộ đề nghị nghiên cứu áp dụng khung giờ mới ngay trong mùa nắng nóng 2026 và quy định sẽ có hiệu lực ngay tại thời điểm ký ban hành. Các ý kiến đóng góp dự thảo thông tư sửa đổi được yêu cầu gửi về Bộ trước ngày 28.5.2026.
Theo Bộ Công thương, việc điều chỉnh hợp lý khung giờ cao điểm, thấp điểm của hệ thống điện quốc gia sẽ góp phần nâng cao hiệu quả vận hành của hệ thống điện. Khi biểu đồ phụ tải được phân bổ đều hơn theo thời gian, hệ thống điện sẽ giảm được áp lực huy động các nguồn điện truyền thống trong giờ cao điểm, đồng thời hạn chế tình trạng thừa công suất vào các giờ thấp điểm. Điều này giúp nâng cao độ tin cậy, an toàn và tính linh hoạt trong vận hành hệ thống điện.
Ngooài ra, thông qua cơ chế giá điện theo khung giờ cao điểm, thấp điểm, khách hàng sẽ có động cơ điều chỉnh hành vi tiêu thụ điện để giảm chi phí mua điện; giảm sử dụng vào giờ cao điểm và chuyển dịch sang khung giờ thấp điểm, giờ bình thường. Điều này giúp làm phẳng biểu đồ phụ tải, giảm chênh lệch giữa công suất cực đại và công suất trung bình, từ đó nâng cao hiệu quả khai thác các nguồn điện, giảm áp lực cho hệ thống điện trong thời gian cao điểm.
Với các hệ thống điện có tỷ lệ năng lượng tái tạo đáng kể như Việt Nam, thiết kế khung giờ cao điểm ngược với giờ phát cao của các nguồn năng lượng tái tạo (lệch khỏi khung giờ có nguồn năng lượng tái tạo đang phát cao và/hoặc trùng vào thời điểm các nguồn năng lượng tái tạo đang giảm) sẽ tạo động lực để các khách hàng phát triển thiết bị lưu trữ công suất nhằm tự cân đối lại nguồn phát năng lượng tái tạo vào những thời điểm hệ thống cần bổ sung nguồn.
Lý giải thêm việc thay đổi khung giờ này, Bộ Công thương cho biết thêm, từ khi khung giờ điện cao điểm, thấp điểm của hệ thống điện quốc gia được áp dụng từ 2014, đến nay, đã 12 năm và có sự thay đổi nhiều. Đặc biệt, từ năm 2019, tỷ trọng nguồn điện mặt trời gia tăng nhanh trong cơ cấu nguồn điện, khiến biểu đồ huy động công suất các loại hình nguồn điện đã có sự thay đổi đáng kể. Thế nên, việc điều chỉnh khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường mới này hoàn toàn phù hợp với biểu đồ phụ tải của hệ thống điện quốc gia hiện nay.
Tin Gốc: Thanh Niên

Hơn 3 năm qua, Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HoREA) vẫn kiên trì kiến nghị bãi bỏ các quy định này. Khảo sát của Thanh Niên với nhiều doanh nghiệp cho thấy quy định này vẫn làm khó họ dù đã "tạm ngưng".
Cụ thể, khoản 9 điều 8 của Thông tư 39 cấm cho vay để góp vốn thực hiện dự án đầu tư không đủ điều kiện đưa vào kinh doanh tại thời điểm quyết định cho vay.
Lãnh đạo một doanh nghiệp bất động sản diễn giải: Quy định này đồng nghĩa với việc dự án bất động sản phải được cơ quan có thẩm quyền ra thông báo đủ điều kiện bán nhà ở hình thành trong tương lai thì mới được vay vốn ngân hàng. Ông nhìn nhận quy định này giúp bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng, nhưng mặt khác, doanh nghiệp sẽ vô cùng khó khăn để phát triển dự án. Bởi bên cạnh quy định này còn có thêm quy định dự án muốn chuyển nhượng phải có sổ hồng. Như vậy, trong trường hợp doanh nghiệp có dự án nhưng do khó khăn hoặc không đủ nguồn lực, kinh nghiệm để triển khai thì muốn bán cũng không được mà muốn vay vốn từ ngân hàng cũng không xong. Chỉ còn cách "ôm" dự án chịu chết mòn theo thời gian.
"Quy định này bất cập và không phù hợp thực tế. Vì để có đất sạch, doanh nghiệp đã phải bỏ ra một số tiền rất lớn để mua. Mới đây chúng tôi mua lại một dự án ở khu vực H.Nhà Bè cũ (TP.HCM) với số tiền gần 1.000 tỉ đồng. Mua xong là cạn tiền, muốn triển khai tiếp thì buộc phải vay vốn từ ngân hàng nhưng chiếu theo quy định trên thì lại không được. Để được vay tiền, chúng tôi buộc phải lách luật bằng cách lập các công ty con để vay tăng vốn điều lệ hoặc phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Tài sản thế chấp cũng chính bằng miếng đất. Ngân hàng khi giải ngân đều biết số tiền trên được dùng để phát triển dự án thay vì dùng đúng mục đích như quy định trong hợp đồng tín dụng", vị lãnh đạo doanh nghiệp nói thẳng.
Ở một góc nhìn khác, ông Phan Viết Nuôi, Chủ tịch HĐQT Công ty Tư vấn và Đầu tư NHQ, nói thêm hiện nay theo luật Đầu tư, khi doanh nghiệp đã có đất sạch, cơ quan chức năng sẽ lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án bằng các hình thức như: chấp thuận nhà đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư. Trong trường hợp chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư, khi đó doanh nghiệp đã tạo lập được quỹ đất nên mới được cơ quan có thẩm quyền lựa chọn đầu tư thực hiện dự án. Tới lúc này dự án gần như đã hoàn thiện pháp lý vì hiện nay luật cũng đã bỏ thủ tục cấp phép xây dựng.
"Tại thời điểm này thường phát sinh nhu cầu vay vốn tín dụng để triển khai dự án đến khi dự án đủ điều kiện đưa vào kinh doanh. Đây là nhu cầu có thật và rất bức thiết, chính đáng. Trong giai đoạn này, dù dự án chưa đủ điều kiện đưa vào kinh doanh, nhưng khả năng phát sinh nợ xấu của khoản vay tín dụng là rất thấp. Nên quy định không cho vay ở giai đoạn này là chưa hợp lý", ông Nuôi nhấn mạnh.
Cũng vì các bất cập trên, từ đầu năm 2023, khi Ngân hàng Nhà nước lấy ý kiến góp ý dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 39, HoREA đã đề xuất không nên bổ sung khoản 8, khoản 9, khoản 10 điều 8 vào Thông tư số 39. Sau đó, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 10 ngày 23.8 "tạm ngưng hiệu lực thi hành khoản 8, khoản 9 và khoản 10 điều 8 của Thông tư số 39" từ ngày 1.9.2023 kéo dài cho đến hiện nay.
Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch HoREA, nhấn mạnh quy định nói trên đã bộc lộ một số bất cập, chưa thật phù hợp và chưa bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với các quy định pháp luật có liên quan. Bởi theo luật Kinh doanh bất động sản 2023, dự án đủ điều kiện đưa vào kinh doanh khi đã được nghiệm thu việc hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Trường hợp là nhà chung cư, tòa nhà hỗn hợp phải có giấy tờ chứng minh đã được nghiệm thu hoàn thành xây dựng phần móng. Nghĩa là tại thời điểm dự án đã đủ điều kiện bán nhà ở hình thành trong tương lai thì chủ đầu tư được bán, huy động vốn từ khách hàng và không còn nhu cầu vay vốn tín dụng.
Chủ tịch HoREA chỉ rõ các tổ chức tín dụng không cho nhà đầu tư vay vốn để thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tạo lập quỹ đất đầu tư dự án. Đồng thời, luật Kinh doanh bất động sản 2023 quy định doanh nghiệp kinh doanh bất động sản phải có vốn chủ sở hữu không thấp hơn 20% tổng vốn đầu tư đối với dự án có quy mô sử dụng đất dưới 20 ha, không thấp hơn 15% với dự án có quy mô sử dụng đất từ 20 ha trở lên và phải bảo đảm khả năng huy động vốn để thực hiện dự án đầu tư. Trường hợp doanh nghiệp thực hiện nhiều dự án vốn chủ sở hữu cũng phải đủ phân bổ để bảo đảm tỷ lệ nêu trên. Vì thế đến lúc này, hầu hết họ đều có nhu cầu vay vốn tín dụng để phát triển dự án đến khi đủ điều kiện đưa vào kinh doanh.
"Đây là nhu cầu vay vốn chính đáng và có mục đích sử dụng vốn hợp pháp. Do vậy cần sửa Thông tư số 39 theo hướng cho dự án được vay khi đã có chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư hoặc có văn bản giao chủ đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời giao chủ đầu tư hoặc thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi", ông Châu kiến nghị.
Ông Châu chia sẻ Thông tư 39 ban hành đã 10 năm, Thông tư 10 "tạm ngưng" các điều khoản bất cập như phân tích trên cũng đã 3 năm nên HoREA tiếp tục kiến nghị bãi bỏ các quy định nói trên cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay.
Nguồn: https://thanhnien.vn/de-xuat-bo-quy-dinh-lam-kho-doanh-nghiep-vay-von-18526040720434605.htm
Kinh Tế
Chính phủ đặt mục tiêu ít nhất 30% người trưởng thành có tiền gửi tiết kiệm

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng vừa ký ban hành Quyết định số 928 phê duyệt "Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026-2030", đặt mục tiêu mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính cho mọi người dân và doanh nghiệp, đặc biệt là các nhóm yếu thế, khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Theo Chiến lược, đối tượng áp dụng là toàn bộ người dân và doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trong đó, nhóm ưu tiên gồm người dân ở vùng nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo; hộ nghèo, cận nghèo, hộ thu nhập thấp; học sinh, sinh viên; doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh; cùng các nhóm yếu thế khác trong xã hội.
Chiến lược nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm mọi người dân và doanh nghiệp được tiếp cận bình đẳng, toàn diện các sản phẩm và dịch vụ tài chính hiện đại, an toàn, với chi phí hợp lý.
Theo Chính phủ, mục tiêu tổng quát của Chiến lược là hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện hiện đại, an toàn và bao trùm, góp phần nâng cao chất lượng sống của người dân, thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội và bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.
Một trong những mục tiêu đáng chú ý nhất được đặt ra là đến năm 2030, khoảng 95% dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khác. Bên cạnh đó, Chiến lược đặt mục tiêu giá trị thanh toán không dùng tiền mặt đạt gấp 30 lần GDP; ít nhất 30% người trưởng thành có tiền gửi tiết kiệm tại các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Đối với khu vực doanh nghiệp, Chính phủ phấn đấu đến năm 2030 sẽ có ít nhất 300.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa có dư nợ tín dụng tại các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, dư nợ tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn dự kiến chiếm khoảng 25% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế. Đối với lĩnh vực bảo hiểm, Chiến lược đặt mục tiêu doanh thu toàn ngành đạt quy mô khoảng 3,3-3,5% GDP vào năm 2030.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Chiến lược đưa ra hàng loạt giải pháp về hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng tài chính số, mở rộng mạng lưới cung ứng dịch vụ và thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Trong đó, Chính phủ yêu cầu phát triển đa dạng các tổ chức cung ứng sản phẩm, dịch vụ tài chính và các kênh phân phối hiện đại dựa trên công nghệ số nhằm giúp người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ tài chính thuận tiện hơn, nhất là tại vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo.
Chiến lược cũng nhấn mạnh việc mở rộng độ bao phủ các điểm cung ứng dịch vụ tài chính tại những khu vực còn hạn chế về tiếp cận ngân hàng truyền thống. Cùng với đó, Chính phủ định hướng thúc đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế; tạo điều kiện để người dân dễ dàng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ thanh toán điện tử.
Ngoài mục tiêu mở rộng tiếp cận tín dụng và dịch vụ ngân hàng, Chiến lược cũng dành trọng tâm lớn cho phát triển tài chính xanh và tài chính bền vững. Theo đó, các tổ chức tín dụng và tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính được khuyến khích ưu tiên nguồn vốn cho vay đối với các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn và các hoạt động đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Chính phủ cũng định hướng phát triển đa dạng các sản phẩm tài chính xanh, tín dụng xanh nhằm hỗ trợ người dân và doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi xanh.
Bên cạnh đó, Chiến lược khuyến khích mở rộng các sản phẩm tín dụng vi mô, phát triển bảo hiểm thương mại, bảo hiểm hưu trí bổ sung và thúc đẩy ứng dụng công nghệ tài chính nhằm nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính của người dân.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

