Với đặc thù của thời tiết nhiệt đới, mùa mưa kéo dài, cùng với một số khu vực có nguy cơ úng ngập cục bộ, CDC Hà Nội cho biết, thành phố từng ghi nhận ca bệnh rải rác trong những năm gần đây.
Theo CDC Hà Nội, Whitmore là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Burkholderia pseudomallei gây ra. Vi khuẩn này tồn tại phổ biến trong đất, bùn và nguồn nước ô nhiễm. Người có thể nhiễm bệnh khi tiếp xúc với đất, bùn, nước bẩn qua vết thương hở; hít phải bụi hoặc giọt nước chứa vi khuẩn hay sử dụng nguồn nước hoặc thực phẩm bị ô nhiễm.
Bệnh hiếm khi lây từ người sang người, vì vậy không có nguy cơ bùng phát thành dịch lớn, nhưng vẫn tiềm ẩn nguy hiểm nếu không phát hiện sớm.
Đáng lưu ý, bệnh có các triệu chứng đa dạng, dễ nhầm lẫn với nhiều bệnh khác. Các triệu chứng ban đầu tương tự như với các bệnh thường gặp: sốt cao kéo dài, mệt mỏi; ho, đau ngực, khó thở; sau đó, diễn tiến nặng hơn: nhiễm trùng da, sưng đau, áp xe; đau đầu, đau cơ, chán ăn và tiến triển nặng gây nhiễm trùng huyết, sốc nhiễm trùng.
Whitmore là bệnh nhiễm khuẩn nặng, có thể gây viêm phổi, nhiễm trùng máu, tổn thương nhiều cơ quan như gan, thận, não. Nếu không điều trị kịp thời, tỷ lệ tử vong dao động từ 10 – 50%, thậm chí cao hơn trong trường hợp nặng. Hiện bệnh chưa có vắc xin phòng ngừa, việc điều trị chủ yếu bằng kháng sinh kéo dài và cần tuân thủ chặt chẽ theo chỉ định của bác sĩ.
Cũng theo CDC Hà Nội, thách thức trong kiểm soát bệnh Whitmore là việc chẩn đoán sớm gặp khó khăn do triệu chứng không đặc hiệu. Do đó, người dân cần nâng cao cảnh giác và chủ động đi khám khi có dấu hiệu nghi ngờ. Trong đó, lưu ý yếu tố nguy cơ: triệu chứng có thể xuất hiện sau 1 – 3 tuần tiếp xúc với vi khuẩn, nhưng cũng có trường hợp tiềm ẩn lâu hơn hoặc tái phát sau nhiều tháng.
Mặc dù ai cũng có thể mắc bệnh, nhưng nguy cơ cao hơn ở người mắc bệnh mạn tính: đái tháo đường, gan, thận, phổi hay người suy giảm miễn dịch; người thường xuyên tiếp xúc với đất, bùn, nước bẩn.
Đặc biệt, bệnh có nguy cơ tăng cao sau mưa bão, ngập lụt, vì là điều kiện thuận lợi để vi khuẩn phát triển và lan rộng trong môi trường.
Phản ánh về thực tế điều trị bệnh Whitmore, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới T.Ư dẫn lại ca bệnh nhân nam 35 tuổi ở Nghệ An, sinh sống và làm việc tại Thái Lan.
Khoảng 5 tuần trước khi về Việt Nam điều trị, bệnh nhân sốt cao liên tục, khó thở, phải cấp cứu tại một cơ sở y tế ở Thái Lan. Tại đây, bệnh nhân được đặt nội khí quản thở máy; kết quả cấy máu xác định nhiễm Burkholderia pseudomallei, tác nhân gây bệnh Whitmore. Do bệnh vẫn diễn tiến nặng nên gia đình xin chuyển về Việt Nam để tiếp tục điều trị. Sau đó, bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng, sốt cao liên tục, rối loạn ý thức, được chuyển gấp ra Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới T.Ư.
Về ca bệnh này, bác sĩ nội trú Kim Anh (Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới T.Ư) đánh giá, đây là một trong những thể tối cấp của Whitmore, là tình trạng nhiễm khuẩn huyết nặng, suy đa tạng, rối loạn chuyển hóa sâu và nguy cơ tử vong rất lớn trong thời gian rất ngắn nếu không được hồi sức tích cực ngay lập tức.
Bệnh nhân đã được áp dụng các biện pháp điều trị: an thần sâu để kiểm soát kích thích và bảo vệ não; hạ thân nhiệt chủ động nhằm khống chế tình trạng tăng thân nhiệt ác tính; thiết lập đường truyền trung tâm, theo dõi huyết động liên tục; phối hợp kháng sinh theo phác đồ điều trị và lọc máu liên tục nhiều ngày để hỗ trợ chức năng thận, loại bỏ độc chất và giảm gánh nặng viêm. Bệnh nhân được ra viện sau 3 tuần điều trị tích cực.
Bác sĩ Kim Anh chia sẻ thêm, Whitmore là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có thể gây suy đa tạng và tử vong nhanh, đặc biệt ở những người có bệnh nền như đái tháo đường, bệnh gan mạn hoặc những người làm việc lâu năm trong môi trường đất, nước ẩm.
Bệnh có thể khởi phát không điển hình với các triệu chứng như sốt kéo dài, mệt mỏi, đau đầu, đau cơ, ho, sụt cân hoặc rối loạn tri giác, rất dễ bị bỏ sót. Người dân có yếu tố nguy cơ hoặc triệu chứng sốt kéo dài không rõ nguyên nhân cần đến các cơ sở chuyên khoa truyền nhiễm để được xét nghiệm, chẩn đoán và điều trị kịp thời, đồng thời tuân thủ đầy đủ phác đồ kháng sinh kéo dài để tránh tái phát. Cộng đồng không nên chủ quan với những cơn sốt kéo dài, đặc biệt ở người có bệnh nền và sinh sống, làm việc trong vùng dịch tễ của Whitmore.
Tại Bệnh viện Bạch Mai, các bác sĩ cũng từng tiếp cận ca bệnh Whitmore bị vi khuẩn “ăn” cánh mũi. Bệnh nhân là nữ, trước khi được chuyển đến Bệnh viện Bạch Mai, bệnh nhân được chẩn đoán bị nhiễm trùng huyết do tụ cầu. Thực hiện cấy máu và mủ ở vết thương đã cho kết quả dương tính với vi khuẩn Whitmore.
Một chuyên gia bệnh truyền nhiễm của Bệnh viện Bạch Mai chia sẻ, do bệnh cảnh lâm sàng đa dạng nên đã có một số bệnh nhân Whitmore bị chẩn đoán nhầm với các bệnh khác như viêm phổi, lao phổi, áp xe cơ, nhiễm trùng huyết do các vi khuẩn khác như tụ cầu, liên cầu…, được điều trị các chuyên khoa hô hấp hoặc nội tiết, da liễu trước khi được chẩn đoán bệnh Whitmore.
Theo ông Chu Quốc Thịnh, Quyền Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm, hoạt động kiểm tra được thực hiện theo hình thức đột xuất, thời hạn 15 ngày kể từ ngày công bố là 1/4.
Danh sách cơ sở được kiểm tra do Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm Hà Nội và Chi cục An toàn thực phẩm tỉnh Ninh Bình lựa chọn. Theo ông Thịnh, Hà Nội và Ninh Bình là hai địa điểm liên quan đến đường dây giết mổ và tiêu thụ 3.600 con lợn mắc dịch tả châu Phi, tương đương 300 tấn, vừa được Công an Hà Nội phát hiện.
Các đoàn kiểm tra sẽ tập trung vào việc thực hiện các quy định pháp luật về bảo đảm an toàn thực phẩm tại cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, bếp ăn tập thể theo quy định hiện hành. Cục An toàn thực phẩm đã thành lập 2 đoàn kiểm tra với thành phần gồm đại diện Cục, Viện Kiểm nghiệm An toàn vệ sinh thực phẩm Quốc gia và Chi cục địa phương.
Động thái kiểm tra này diễn ra trong bối cảnh Công an Hà Nội xác định Công ty Cường Phát là đầu mối tiêu thụ và phân phối, cung cấp thịt cho một số trường học. Danh sách trường học sử dụng thực phẩm từ công ty Cường Phát hiện chưa được công bố.
Bộ Y tế đánh giá vụ việc làm gia tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh, đe dọa an toàn thực phẩm và ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe người dân, nhất là trẻ em, học sinh, sinh viên và người lao động. Hôm qua, Bộ Y tế cũng yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố chấn chỉnh công tác quản lý bếp ăn tập thể sau vụ việc, tăng cường thanh kiểm tra đột xuất.
Đối với trường học có bếp ăn nội trú, bán trú và căng tin, Bộ Y tế yêu cầu nâng cao trách nhiệm của nhà trường, tăng cường tuyên truyền kiến thức an toàn thực phẩm cho giáo viên và học sinh. Đồng thời, huy động phụ huynh và các tổ chức trong trường tham gia giám sát hoạt động bếp ăn.
Dịch tả heo châu Phi (ASF) là bệnh truyền nhiễm chỉ xảy ra ở lợn, bao gồm lợn nhà và lợn rừng. Virus gây bệnh (ASFV) có khả năng lây lan cực nhanh và gây tỷ lệ tử vong gần như 100% ở lợn bị nhiễm. Virus tồn tại lâu trong môi trường và dễ lây lan qua hô hấp lẫn tiêu hóa giữa các con lợn. Người tiếp xúc với chuồng trại, xe vận chuyển hoặc thực phẩm từ lợn bệnh có thể phát tán virus.
Lợn mắc tả còn dễ nhiễm thêm các bệnh khác như tai xanh, cúm, thương hàn...Dù đã nấu chín, độc tố vẫn còn lại trong thịt. Khi ăn phải, người dùng có thể bị tiêu chảy, nôn, thậm chí sốc nhiễm trùng máu, có thể tử vong. Mặt khác, thịt lợn ốm, chết có thể bị nhiễm các loại vi khuẩn, ký sinh trùng khác (như giun sán, khuẩn Salmonella, E.coli) gây ngộ độc hoặc các bệnh tiêu hóa nguy hiểm cho người.
Một nghiên cứu mới vừa được công bố trên tạp chí khoa học Journal of Nutrition, đã tìm ra mối liên hệ giữa việc tiêu thụ trứng và tỷ lệ mắc bệnh Alzheimer.
Nghiên cứu do các chuyên gia tại Trường Y Đại học Loma Linda (Mỹ) thực hiện, đã phân tích dữ liệu của 39.498 người tham gia ở độ tuổi trung bình 59, được theo dõi trong hơn 15 năm. Các nhà nghiên cứu đã đánh giá chế độ ăn uống và lối sống bằng bảng câu hỏi tần suất thực phẩm, đồng thời liên kết với hồ sơ y tế để xác định các trường hợp mắc bệnh Alzheimer.
Trong thời gian nghiên cứu, có 2.858 trường hợp mắc bệnh Alzheimer.
Kết quả đã phát hiện hóa ra ăn trứng còn giúp người lớn tuổi tránh được căn bệnh thoái hóa não bộ nguy hiểm ở người lớn tuổi này.
Cụ thể, so với những người không bao giờ hoặc hiếm khi ăn trứng, tỷ lệ nguy cơ mắc bệnh Alzheimer giảm dần theo tần suất tiêu thụ:
Ngược lại, hoàn toàn không ăn trứng có nguy cơ mắc bệnh Alzheimer cao hơn đến 22%.
Các nhà nghiên cứu giải thích rằng trứng là nguồn giàu chất dinh dưỡng thiết yếu, cung cấp choline, tiền chất của acetylcholine và phosphatidylcholine rất quan trọng cho trí nhớ. Chúng chứa lutein và zeaxanthin giúp cải thiện hiệu suất nhận thức và giảm căng thẳng oxy hóa. Ngoài ra, trứng còn có protein giàu tryptophan, axit béo omega-3 DHA và vitamin B12 giúp hỗ trợ tính dẻo dai của khớp thần kinh, sự hình thành tế bào thần kinh và tính toàn vẹn của màng tế bào thần kinh. Các chất dinh dưỡng này hoạt động hiệp đồng để hỗ trợ khả năng phục hồi nhận thức.
Các nhà nghiên cứu kết luận rằng, tiêu thụ trứng ở mức độ vừa phải, đặc biệt là người lớn tuổi, giúp giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh Alzheimer. Những phát hiện này cho thấy lợi ích bảo vệ thần kinh tiềm tàng của các chất dinh dưỡng có trong trứng khi được tiêu thụ như một phần của chế độ ăn uống cân bằng.
Khuyến cáo được Bộ Y tế đưa ra chiều 29/5 trong bối cảnh dịch Ebola do chủng Bundibugyo tại Cộng hòa Dân chủ Congo và Uganda tiếp tục diễn biến phức tạp. Số ca bệnh tăng nhanh và xuất hiện nhiều yếu tố làm gia tăng nguy cơ lan rộng trong khu vực châu Phi.
Tính đến ngày 27/5, Congo ghi nhận 1.077 ca nghi nhiễm, trong đó có 238 ca tử vong nghi ngờ Ebola. Quốc gia này xác nhận 121 ca Ebola, gồm 17 ca tử vong. Uganda ghi nhận 7 ca, trong đó có một trường hợp tử vong. Tổng cộng hai nước hiện xác nhận 128 ca Ebola và 18 ca tử vong.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá nguy cơ dịch tại Congo ở mức "rất cao", và nguy cơ cấp khu vực (bao gồm Uganda) ở mức "cao". Lý do là tồn tại nguồn virus lây truyền trong cộng đồng, khả năng bỏ sót chuỗi lây nhiễm và tăng các ca liên quan di chuyển qua biên giới. Đáng chú ý, các bệnh nhân tại Uganda được xác định là ca xâm nhập từ Congo đến thủ đô Kampala, liên quan hoạt động đi lại, vận chuyển và chăm sóc y tế.
Dịch hiện xuất hiện tại 14 khu vực y tế thuộc ba tỉnh của Congo, chủ yếu ở tỉnh Ituri. Công tác truy vết gặp nhiều khó khăn do bất ổn an ninh, tình trạng di biến động dân cư lớn và hoạt động khai khoáng tại khu vực giáp biên.
Chủng Bundibugyo hiện chưa có vaccine hoặc thuốc điều trị đặc hiệu.
Theo Bộ Y tế, Việt Nam chưa ghi nhận ca bệnh và nguy cơ hiện ở mức thấp, song khả năng xuất hiện ca bệnh nhập cảnh vẫn không thể loại trừ khi hoạt động giao lưu, đi lại quốc tế tiếp tục gia tăng. Ngành y tế đã chủ động triển khai các biện pháp giám sát tại cửa khẩu, cơ sở y tế và cộng đồng; đồng thời chuẩn bị nhân lực, khu cách ly, vật tư và phương án điều trị nhằm sẵn sàng ứng phó nếu dịch xuất hiện.
Bộ Y tế khuyến cáo người dân không hoang mang nhưng cần chủ động theo dõi thông tin từ nguồn chính thống, hạn chế đến khu vực đang có dịch nếu không thực sự cần thiết. Những người buộc phải đến vùng dịch cần tránh tiếp xúc với người có triệu chứng sốt, nôn ói, tiêu chảy hoặc nghi mắc bệnh. Người trở về từ vùng dịch nếu có dấu hiệu nghi ngờ cần liên hệ cơ sở y tế gần nhất để được hướng dẫn và xử lý kịp thời.
Bộ Y tế cũng ban hành tài liệu chuyên môn Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Ebola. So với hướng dẫn ban hành năm 2014, phiên bản này có một số sự thay đổi về tác nhân gây bệnh (bổ sung 6 chủng), phương pháp xét nghiệm, tiêu chuẩn chẩn đoán ca nghi ngờ, các phương pháp điều trị...
Theo hướng dẫn, bệnh có biểu hiện lâm sàng nghiêm trọng, thường có hội chứng xuất huyết và suy đa tạng, tỷ lệ tử vong trung bình 50% (dao động từ 25% đến 90%). Thời gian ủ bệnh trung bình 2-21 ngày.
Các triệu chứng thường gặp gồm: sốt cấp tính, mệt mỏi, đau đầu, đau mỏi cơ, đau họng, nôn/buồn nôn, tiêu chảy, đau bụng, viêm kết mạc, phát ban.