Tổng thống Donald Trump ngày 5/4 thông báo quân đội Mỹ đã triển khai “chiến dịch tìm kiếm cứu nạn táo bạo nhất lịch sử”, giải cứu thành công phi công thứ hai trên chiếc F-15E bị Iran bắn rơi trước đó hai ngày.
Howard Altman, biên tập viên của chuyên trang quân sự Mỹ War Zone, đánh giá đây là một trong những nhiệm vụ phức tạp và nguy hiểm nhất mà quân đội Mỹ từng thực hiện. “Chiến dịch đòi hỏi thiết lập trạm tiếp nhiên liệu và vũ khí nằm sâu trong lãnh thổ đối phương một cách nhanh chóng, cũng như bảo vệ kỹ càng để tập kết máy bay, thiết bị và binh sĩ”, Altman cho biết.
Nhiệm vụ này thường giao cho các Phi đoàn Chiến thuật Đặc biệt (STS) trực thuộc Bộ tư lệnh Tác chiến Đặc biệt thuộc không quân Mỹ.
STS là những đơn vị tích hợp lực lượng tác chiến đường không và mặt đất, với thành phần gồm sĩ quan điều phối chiến trường, lính tìm kiếm cứu nạn và trinh sát đặc nhiệm. Họ có khả năng thiết lập sân bay dã chiến, điều phối không lưu, tiến hành giải cứu và yểm trợ hỏa lực tầm gần ở sâu trong phòng tuyến đối phương.
Kyle Rempfer, cựu thành viên STS từng tham chiến tại Afghanistan và Iraq, cho biết ngay khi nhận tin có máy bay rơi trong khu vực đối phương kiểm soát, các đơn vị đặc nhiệm không quân Mỹ sẽ truy vấn thông tin đã có về các điểm triển khai tiềm năng.
“Trong trường hợp này, có thể họ đã đánh giá khả năng dùng đường băng và sân bay thô sơ của Iran để làm khu vực đổ quân. Họ thu thập hình ảnh, dùng phần mềm để phác thảo kích thước đường băng và xác định loại máy bay có thể đáp xuống”, Rempfer nói.
Địa điểm Mỹ triển khai chiến dịch giải cứu phi công F-15E nằm gần thành phố Isfahan, một trong những đô thị chủ chốt của Iran, do đó STS có thể đã khảo sát khu vực này từ trước. Quân đội Mỹ đã huy động hai máy bay vận tải đặc nhiệm MC-130J Commando II, có thể hoạt động trên đường băng nông nghiệp dành cho máy bay phun thuốc trừ sâu, theo Rempfer.
“Quân đội Mỹ có thể triển khai sân bay dã chiến rất nhanh. Mọi thứ đều được chuẩn bị từ trước, ngay cả bên trong chiếc MC-130J. Các trực thăng AH-6 được bốc dỡ và sẵn sàng cất cánh chỉ sau vài phút, thay vì vài giờ. Đơn vị tại sân bay dã chiến sẽ bảo vệ vị trí và duy trì liên lạc với tất cả máy bay trong khu vực”, Rempfer giải thích.
Các phi cơ Mỹ làm nhiệm vụ yểm trợ hỏa lực sẽ dùng cảm biến để giám sát toàn bộ tuyến đường dẫn tới sân bay dã chiến, sẵn sàng oanh tạc để tạo ra những hố lớn trên mặt đất nhằm ngăn đối phương tiếp cận hoặc trực tiếp không kích những mối đe dọa đến căn cứ.
“Lực lượng thiết lập bãi đáp nhiều khả năng là Đơn vị Kiểm soát Chiến đấu (CCT) thuộc Phi đoàn Chiến thuật Đặc biệt số 24”, cựu quân nhân Mỹ cho hay.
Ảnh chụp từ vệ tinh và máy bay cho phép xác định địa điểm tiềm năng, song lực lượng Mỹ sẽ không nắm được mức độ chịu tải của nền đất tại đây cho tới khi trực tiếp có mặt ở thực địa.
Theo Rempfer, các binh sĩ CCT được huấn luyện để kiểm tra thực địa, dọn chướng ngại vật, theo dõi hoạt động đối phương rồi thiết lập sân bay dã chiến. “Họ dùng xe máy địa hình để kiểm tra nền đất và lắp đặt đèn dẫn hạ cánh, thiết bị này dùng tín hiệu hồng ngoại và chỉ có thể thấy được bằng kính nhìn đêm. Điều đó khiến dân địa phương rất khó phát hiện”, ông nói.
CCT sẽ được các đội đặc nhiệm như SEAL và Delta bảo vệ, đồng thời có khả năng điều phối máy bay trong khu vực để tấn công mục tiêu khi cần thiết.
Nhiệm vụ giải cứu phi công cũng đòi hỏi hoạt động tiếp liệu trên không trong điều kiện đêm tối, đồng thời hạn chế tối đa liên lạc vô tuyến để tránh đối phương nghe trộm hoặc định vị được đài thu phát sóng.
Về vụ hai máy bay MC-130J gặp sự cố, nghi là mắc kẹt trong cát và không thể cất cánh, Rempfer cho rằng đường băng sân bay dã chiến ở Iran không đáp ứng được yêu cầu của dòng Commando II hoặc không được bảo trì, do địa điểm này nằm ở khu vực xa xôi hẻo lánh và khắc nghiệt.
Reuters dẫn lời quan chức Mỹ giấu tên cho biết các đơn vị đặc nhiệm đã phải phá hủy 6 máy bay, gồm hai vận tải cơ MC-130J và 4 trực thăng, trước khi rời đi để ngăn chúng rơi vào tay Iran.
Rempfer nhận định lực lượng Mỹ đã giành được yếu tố bất ngờ trong chiến dịch này, khiến Iran không kịp điều động pháo binh hay máy bay không người lái (UAV) để đối phó.
“Mối đe dọa lớn nhất là cảnh sát địa phương và dân thường tình cờ phát hiện sân bay dã chiến. Khi chiến dịch diễn ra, tiếng ồn từ đây có thể thu hút nhiều sự chú ý và các đội đặc nhiệm Iran có thể ập tới, mang theo vũ khí cá nhân, súng cối và cả tên lửa phòng không vác vai”, ông nói.
Việc Mỹ phóng thành công tàu Orion thuộc sứ mệnh Artemis 2 mới đây đã chấm dứt hơn nửa thế kỷ vắng bóng con người trên quỹ đạo mặt trăng kể từ sứ mạng Apollo 17 năm 1972. Dù công nghệ máy tính hiện nay mạnh gấp hàng vạn lần, nhưng những rào cản về chính trị, sự đứt gãy tri thức và triết lý an toàn khắt khe đã khiến hành trình trở lại này kéo dài kỷ lục.
Rào cản lớn nhất đối với việc quay lại mặt trăng không xuất phát từ công nghệ mà từ sự thiếu nhất quán trong chính sách quốc gia của Mỹ. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, chương trình Apollo được thúc đẩy bởi ý chí chính trị tuyệt đối với ngân sách đỉnh điểm chiếm tới 4,41% tổng chi tiêu liên bang vào năm 1966. Tuy nhiên, sau khi đạt được mục tiêu đưa người đặt chân lên mặt trăng, sự quan tâm của giới chính trị sụt giảm khiến ngân sách Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) hiện nay chỉ còn chiếm chưa đầy 0,5% chi tiêu chính phủ.
Đáng chú ý trong suốt nửa thế kỷ qua, NASA luôn chịu áp lực trước những thay đổi liên tục giữa các đời tổng thống. Theo đó, dự án của chính quyền này thường bị người kế nhiệm hủy bỏ để thay thế bằng mục tiêu mới, gây lãng phí hàng chục tỉ USD. Điển hình là chương trình Constellation của Tổng thống George W. Bush đã bị người kế nhiệm Barack Obama khai tử vào năm 2010 để chuyển hướng sang các tiểu hành tinh, trước khi mục tiêu mặt trăng được khôi phục lại dưới thời ông Donald Trump và tiếp tục dưới thời ông Joe Biden.
Một nghịch lý trớ trêu là dù người Mỹ vẫn có thể sử dụng lại các tên lửa đã từng đưa người lên mặt trăng thành công năm xưa, nhưng việc chế tạo lại nó trong thế kỷ 21 là điều không hợp thời và tốn kém. Có ước tính cho rằng khoảng 75% các nhà cung cấp linh kiện từ thập niên 1960 đã ngừng hoạt động, khiến hệ sinh thái sản xuất cũ gần như tan rã hoàn toàn. Các vật liệu cũ đã lỗi thời và không còn được sản xuất, trong khi việc thay thế bằng vật liệu hiện đại đòi hỏi quy trình kiểm nghiệm lại từ đầu.
Bên cạnh đó, kỹ nghệ thủ công trong quá trình sản xuất cũng bị mai một theo thời gian. Tên lửa thời Apollo là những kiệt tác được lắp ráp bởi những thợ hàn bậc thầy từ thời Thế chiến 2, những người sở hữu kỹ năng khó có thể mô tả hoàn toàn trong văn bản kỹ thuật. Khi những chuyên gia này nghỉ hưu, các "bí kíp" thực tế đã bị mất đi, buộc các kỹ sư hiện đại phải "nghiên cứu ngược" từ các động cơ trong bảo tàng để tái thiết lập quy trình sản xuất.
Khác với thời đại Apollo là một "cuộc chạy nước rút" đầy mạo hiểm để giành chiến thắng nhất thời, chương trình Artemis hướng tới sự an toàn tuyệt đối. Sau những thảm họa kinh hoàng của các tàu con thoi Challenger và Columbia, NASA không còn chấp nhận những rủi ro cực lớn như trước. Mọi hệ thống hiện nay đều phải trải qua các quy trình kiểm tra gắt gao, ưu tiên tính mạng phi hành gia hơn là áp lực về thời gian hay tốc độ.
Cuối cùng, mục tiêu của Artemis tập trung vào việc xây dựng căn cứ bền vững trên mặt trăng và trạm dừng cho các hành trình tiến tới sao Hỏa sau này. Với mục tiêu đó, bước đầu là tìm cách khai thác băng tại cực Nam của mặt trăng để tạo ra khí oxy và nhiên liệu tên lửa. Đây là một bài toán phức tạp hơn gấp bội so với những chuyến viếng thăm ngắn ngủi trong quá khứ. Bởi thế, sự kiện phóng tàu lên quỹ đạo mặt trăng mới đây có thể xem như một bước dạo đầu cho rất nhiều thử thách mà con người phải vượt qua được trong tương lai để thực hiện được giấc mơ làm chủ trong không gian sâu.
Japan Today dẫn lại thông tin từ Đài TBS cho hay hồ sơ vụ án liên quan 3 người Thái Lan nói trên, tất cả là nam và trong độ tuổi 30, đã được chuyển cho giới công tố ở tỉnh Ibaraki hôm 7.5.
Những nghi phạm này đã bị bắt vào tháng 7.2025 vì bị nghi ngờ đột nhập một ngôi nhà ở thành phố Hokota thuộc tỉnh Ibaraki, vào ngày đầu năm mới 2024, và trộm khoảng 170.000 yên tiền mặt cùng các tài sản khác có giá trị.
Theo cảnh sát, các cuộc điều tra sau đó cho thấy 3 người đàn ông Thái Lan đã thực hiện 167 vụ trộm trong vòng 8 tháng, từ cuối tháng 10.2024 đến tháng 7.2025, đột nhập vào nhiều ngôi nhà và cơ sở khác ở 11 tỉnh thành, trong đó có tỉnh Ibaraki.
Bộ ba này đã trộm khoảng 6,4 triệu yên tiền mặt và các đồ vật trị giá 17,6 triệu yên, như đồng hồ, đồ trang sức và thiết bị âm thanh.
Cảnh sát cho biết thêm 3 nghi phạm khai rằng họ di chuyển bằng ô tô, tìm kiếm những ngôi nhà có vườn không được chăm sóc hoặc chỗ đậu xe trống.
Vào tháng 2.2025, báo The Japan News đưa tin số vụ trộm cắp nhắm vào những ngôi nhà bỏ trống, không có người ở trong thời gian dài, đã tăng mạnh ở các khu vực của Nhật Bản.
Thiệt hại do các vụ trộm cắp này gây ra đặc biệt đáng chú ý ở các vùng Tohoku, Chubu và một phần của Kyushu. Tổng số tiền bị mất đã vượt quá 1,1 tỉ yên vào năm 2024, tăng hơn 300 triệu yên so với năm 2023.
Số lượng nhà bỏ hoang ở Nhật Bản đang có xu hướng tăng. Kyodo News hồi tháng 11.2025 dẫn số liệu của chính phủ Nhật Bản cho thấy số nhà bỏ hoang ở nước này trong năm 2023 là khoảng 9 triệu căn.
"Tôi phải nộp đơn từ chức, có hiệu lực từ ngày 30/6. Chồng tôi, Abraham, được chẩn đoán mắc một dạng ung thư xương cực kỳ hiếm gặp. Anh ấy sẽ phải đối mặt với những thử thách rất lớn trong thời gian tới. Lúc này, tôi cần rời khỏi công việc phụng sự người dân để ở bên và hỗ trợ anh ấy vượt qua cuộc chiến", Giám đốc Tình báo Quốc gia Mỹ (DNI) Tulsi Gabbard viết trên mạng xã hội ngày 22/5.
Bà đăng kèm ảnh chụp đơn xin từ chức gửi Tổng thống Donald Trump. Trong thư, giám đốc Gabbard cảm ơn ông chủ Nhà Trắng vì đã tin tưởng và cho bà cơ hội để lãnh đạo Văn phòng DNI trong một năm rưỡi qua.
Tổng thống Trump sau đó ca ngợi Gabbard đã "hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ". "Bà ấy hoàn toàn đúng khi muốn ở bên cạnh, cùng chồng vượt qua cuộc chiến đầy khó khăn để giành lại sức khỏe", ông cho hay.
Lãnh đạo Mỹ thông báo Phó giám đốc Tình báo Quốc gia Aaron Lukas sẽ giữ vai trò quyền giám đốc khi bà Gabbard rời đi. Lukas là cựu sĩ quan và nhà phân tích của Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), từng phục vụ trong Hội đồng An ninh Quốc gia dưới nhiệm kỳ đầu tiên của ông Trump.
Tulsi Gabbard là nữ quan chức cấp cao thứ tư rời nội các của Tổng thống Trump trong những tháng gần đây. Tổng thống Mỹ sa thải Bộ trưởng An ninh Nội địa Kristi Noem và Bộ trưởng Tư pháp Pam Bondi lần lượt vào tháng 3 và 4. Bộ trưởng Lao động Lori Chavez-DeRemer cũng từ chức hồi tháng trước giữa hàng loạt bê bối.
Nhà Trắng bác bỏ thông tin cho rằng bà Gabbard bị ép rời chức vụ. Người phát ngôn Nhà Trắng Davis Ingle khẳng định những đồn đoán như vậy là "vu khống".
"Điều này hoàn toàn sai sự thật. Chồng bà ấy đã được chẩn đoán mắc một dạng ung thư xương hiếm gặp", Chánh văn phòng DNI Alexa Henning viết trên X.
Nghị sĩ Mark Warner, thành viên Dân chủ hàng đầu tại Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ, ngày 22/5 cho rằng công việc của bà Gabbard đã bị chính trị hóa quá mức. "Vị trí này đang cần một người độc lập, nhiều kinh nghiệm về tình báo đảm nhận hơn bao giờ hết. DNI nên tập trung vào tình báo nước ngoài, không can dự vào các sự việc bầu cử trong nước", ông nói.