Trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu tiềm ẩn nhiều biến động do tình hình địa chính trị tại Trung Đông, việc hoàn thành nâng công suất tái hóa kho LNG nhằm đáp ứng yêu cầu cấp khí cho phát điện mùa khô để khẳng định năng lực chủ động, linh hoạt trong đảm bảo nguồn cung trong nước, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Theo đó, ngày 2-4, chi nhánh logistics – đơn vị trực thuộc PV Gas đã phối hợp cùng các bên liên quan hoàn thành chương trình chạy thử nâng công suất tái hóa kho LNG Thị Vải, sau các đợt triển khai vào ngày 18 đến 19-3 và 1 đến 2-4.
Kết quả cho thấy hệ thống vận hành an toàn, ổn định ở mức 288 tấn/giờ (so với công suất thiết kế ban đầu 171 tấn/giờ), tương đương khoảng 9,5 triệu sm³/ngày, đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật và điều kiện vận hành.
PV Gas cho hay toàn bộ hệ thống đã được kiểm định, đánh giá theo tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế, với sự giám sát của tổ chức đăng kiểm DNV.
Việc nâng công suất giúp PV Gas gia tăng đáng kể năng lực cấp khí, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu huy động cho các nhà máy điện theo điều độ của Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO) trong cao điểm mùa khô.
Đơn vị có thị phần cung cấp khí lớn nhất nước cho hay, việc vận hành kho LNG Thị Vải ổn định ở mức công suất cao hơn thiết kế ban đầu đòi hỏi trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm vận hành cao. Việc chạy thử được duy trì giám sát liên tục 24/7, đảm bảo kiểm soát chặt chẽ các thông số vận hành then chốt như nhiệt độ, áp suất, độ rung và chuyển vị thiết bị.
Việc nâng công suất kho LNG Thị Vải có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu tiềm ẩn rủi ro. Hạ tầng này tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung cấp khí, góp phần đảm bảo nguồn nhiên liệu ổn định cho sản xuất điện tại khu vực Đông Nam Bộ.
Với nền tảng hạ tầng ngày càng hoàn thiện, năng lực vận hành được khẳng định và khả năng thích ứng linh hoạt, PV Gas tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong ngành công nghiệp khí Việt Nam, góp phần đảm bảo vững chắc an ninh năng lượng quốc gia và đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng của nền kinh tế.

Trao đổi thêm với báo Tuổi Trẻ, ông Đậu Anh Tuấn - Phó tổng thư ký, kiêm Trưởng ban pháp chế VCCI - nói:
Sau một giai đoạn dài xây dựng hoàn thiện, hệ thống pháp luật kinh doanh của chúng ta đã khá đầy đủ và toàn diện. Nhưng có nhiều luật đôi khi lại chồng lên nhau, mâu thuẫn nhau và mỗi nơi hiểu một kiểu.
Ví dụ doanh nghiệp (DN) muốn triển khai một dự án đầu tư sản xuất, họ phải đồng thời tuân thủ Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Phòng cháy chữa cháy... Mỗi luật riêng lẻ có thể hợp lý, nhưng các thủ tục yêu cầu lẫn nhau làm điều kiện tiên quyết, tạo thành một vòng lặp mà DN không biết bắt đầu từ đâu.
* Các luật đều được thẩm định kỹ, câu chuyện ông nói cụ thể thế nào?
Ví dụ để triển khai một dự án, DN cần chấp thuận chủ trương đầu tư để xin giao đất, nhưng hồ sơ chấp thuận đầu tư lại cần thông tin về đất đai. Muốn xin giấy phép xây dựng thì phải có quyền sử dụng đất và đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt.
Nhưng để lập báo cáo đánh giá môi trường lại cần có thiết kế cơ sở đủ chi tiết, mà thiết kế cơ sở chỉ có ý nghĩa khi đã xác định được mặt bằng. Các thủ tục cứ yêu cầu lẫn nhau, DN không biết bắt đầu từ đâu.
Giải pháp mà chúng tôi kiến nghị với Bộ Tư pháp rất rõ ràng: phải thay đổi cách rà soát pháp luật. Lâu nay chúng ta rà soát theo từng luật, đó là góc nhìn của cơ quan quản lý. Nhưng DN không sống theo từng luật, DN sống theo chuỗi hoạt động kinh doanh - từ thành lập, đầu tư, xây dựng, sản xuất, xuất nhập khẩu cho đến giải thể.
Chỉ khi nào chúng ta đặt mình vào vị trí của người phải tuân thủ, đi theo hành trình của họ, thì mới nhìn thấy hết những điểm nghẽn, chồng chéo mà DN đang gánh chịu hàng ngày.
Bên cạnh đó, khâu thực thi cần có cơ chế giải thích pháp luật thống nhất. Hiện cùng một điều luật mà cơ quan thuế có thể hiểu một đằng, cơ quan đất đai hiểu một nẻo, DN bị kẹt ở giữa và chịu rủi ro pháp lý. DN cần biết trước hệ quả pháp lý của quyết định kinh doanh của mình. Đó là điều kiện tối thiểu để họ dám đầu tư, dám mở rộng sản xuất.
* Theo VCCI, nhiều ngành vẫn duy trì cơ chế "xin cho" dưới hình thức giấy phép con, ý kiến chấp thuận, văn bản xác nhận... Liệu có giải pháp rốt ráo nào không?
Những năm qua, Chính phủ đã quyết liệt cắt bỏ hàng nghìn điều kiện kinh doanh, nhưng thực tế cho thấy nhiều ngành vẫn duy trì cơ chế "xin cho" dưới những cái tên mới như chứng nhận đủ điều kiện, ý kiến chấp thuận, văn bản xác nhận... Tên gọi thay đổi, nhưng bản chất tiền kiểm vẫn nguyên. DN vẫn phải xếp hàng chờ đợi.
Có một nghịch lý: khi chuyển sang hậu kiểm thì năng lực thanh tra, kiểm tra lại chưa theo kịp. Kết quả là hoặc buông lỏng, hoặc thanh tra kiểm tra tràn lan, chồng chéo, gây phiền hà không kém gì tiền kiểm.
Chúng tôi kiến nghị ba việc cần làm đồng thời. Thứ nhất, tổng rà soát thực chất tất cả các loại giấy phép, điều kiện kinh doanh. Với từng loại phải trả lời được ba câu hỏi: có thực sự cần thiết? có thể thay thế bằng hậu kiểm? chi phí tuân thủ bao nhiêu? Nếu không trả lời được thì nên bỏ.
Thứ hai, đề nghị nghiên cứu áp dụng nguyên tắc mỗi điều kiện kinh doanh mới phải đi kèm bãi bỏ ít nhất một điều kiện cũ có gánh nặng tuân thủ tương đương. Các nước Anh, Đức, Hàn Quốc đã áp dụng thành công mô hình này. Nó tạo ra một kỷ luật tự nhiên cho cơ quan quản lý.
Thứ ba, phải xây dựng năng lực hậu kiểm dựa trên rủi ro. Không thể thanh tra đại trà tất cả DN như nhau. Phải ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để phân loại rủi ro.
* Nhiều DN nói pháp luật thay đổi nhanh, họ không thể lập kế hoạch kinh doanh ổn định trong dài hạn, ông nghĩ sao?
Đây là một trong những phản ánh mà chúng tôi nhận được nhiều, đặc biệt từ các nhà đầu tư nước ngoài và các DN có dự án dài hạn.
Hãy hình dung thế này, một DN đầu tư một nhà máy, vòng đời dự án 10 - 15 năm. Họ tính toán từ ưu đãi thuế, điều kiện sử dụng đất, quy chuẩn môi trường, chi phí lao động... Nhưng chưa đầy 1 - 2 năm, luật thay đổi, nghị định mới ra đời, thông tư hướng dẫn chưa kịp ban hành thì luật đã bị sửa.
Tác động có hai tầng. Thứ nhất là chi phí tuân thủ trực tiếp, DN phải chỉnh quy trình nội bộ, đào tạo lại nhân sự, thậm chí thuê thêm luật sư và tư vấn xem mình có vi phạm gì không. Với DN nhỏ và vừa, chi phí này là gánh nặng lớn.
Tầng thứ hai nguy hiểm hơn: DN trì hoãn đầu tư, ngại mở rộng, không dám đổi mới. Đó là tổn thất mà chúng ta không nhìn thấy trên sổ sách nhưng rất thực.
Chúng tôi không đề nghị pháp luật đứng yên. Nhưng thời gian chuyển tiếp tối thiểu cần 12 - 24 tháng, trừ trường hợp khẩn cấp. Với dự án đầu tư lớn và dài hạn, cần áp dụng điều khoản ổn định đầu tư - tức là cam kết không áp dụng hồi tố các thay đổi bất lợi về thuế, ưu đãi đầu tư trong một thời hạn nhất định. Đây là thông lệ quốc tế nhiều nước trong khu vực đã áp dụng.
* Việt Nam đẩy mạnh phân cấp phân quyền, vì sao VCCI kiến nghị bổ sung nguyên tắc "thống nhất thị trường quốc gia"?
Cộng đồng DN hoàn toàn ủng hộ việc phân cấp phân quyền nhưng phải có giới hạn là sự thống nhất của thị trường quốc gia.
Các DN hoạt động đa tỉnh thành phản ánh rất nhiều với chúng tôi rằng cùng một quy định pháp luật nhưng mỗi tỉnh hiểu và áp dụng một khác. Cùng một loại hàng hóa, ở tỉnh A thì được phép, sang tỉnh B thì bị yêu cầu thêm giấy phép.
Cùng một quy chuẩn phòng cháy chữa cháy, tỉnh này áp dụng thoáng, tỉnh kia áp dụng chặt... DN có nhà máy ở ba bốn tỉnh phải đối phó với ba bốn bộ quy tắc khác nhau.
Điều này gây ra chi phí tuân thủ tăng, bất bình đẳng, có thể đánh mất lợi thế quy mô. Vì vậy VCCI kiến nghị chính quyền địa phương không được ban hành quy định tạo ra rào cản đối với lưu thông hàng hóa, dịch vụ, lao động, vốn giữa các địa phương.
Chính phủ cần tăng cường kiểm tra, rà soát. Đồng thời cần xây dựng cơ sở dữ liệu công khai về cách áp dụng pháp luật của từng địa phương trong các lĩnh vực trọng yếu để DN có thể tra cứu và so sánh. Khi mọi thứ minh bạch, sự khác biệt vô lý sẽ tự động bị phát hiện và điều chỉnh.
Nguồn: https://tuoitre.vn/cai-cach-the-che-thuc-day-tang-truong-hai-con-so-20260405230658314.htm

Công ty cổ phần Nhiệt điện Hải Phòng (HND) vừa công bố thông tin bất thường liên quan đến việc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bị khởi tố, bắt tạm giam.
Trước đó, 3 doanh nghiệp ngành điện niêm yết khác trên sàn cũng công bố thông tin về lãnh đạo bị khởi tố, tạm giam gồm: Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Điện 1 (PECC1 - TV1); Công ty cổ phần Tập đoàn PC1 (PC1) và Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Điện 2 (PECC2 - TV2).
Báo cáo tài chính quý 1-2026 cho thấy các doanh nghiệp điện nêu trên đều ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận sau thuế.
Cụ thể, PC1 đạt khoảng 2.168 tỉ đồng doanh thu thuần, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm 2025. Lợi nhuận sau thuế đạt khoảng 270 tỉ đồng, tăng tới 86,2%. Doanh nghiệp cho biết lợi nhuận tăng trưởng chủ yếu nhờ lĩnh vực bất động sản dân dụng tiếp tục ghi nhận doanh thu, lợi nhuận từ dự án Tháp Vàng. Cùng kỳ năm 2025 dự án này vẫn đang trong quá trình triển khai.
Nhiệt điện Hải Phòng cũng ghi nhận gần cỡ 2.545 tỉ đồng doanh thu thuần trong quý vừa qua, giảm 4,2% so với cùng kỳ năm 2025. Lợi nhuận sau thuế đạt 216 tỉ đồng, tăng 30,1%.
Hai doanh nghiệp tư vấn điện còn lại có doanh thu thấp hơn hẳn. TV1 đạt khoảng 145 tỉ đồng doanh thu thuần trong quý 1-2026, tăng 28,3%. TV2 đạt cỡ 244 tỉ đồng, giảm 21% Đso với quý 1-2025. Lợi nhuận sau thuế của TV1 và TV2 lần lượt đạt hơn 32 tỉ đồng và hơn 53 tỉ đồng, tăng tương ứng 5,2% và 92,1% so với cùng kỳ năm ngoái.
TV2 giải trình lợi nhuận tăng mạnh do trong năm 2026 hoạt động của các công ty liên kết của doanh nghiệp được cải thiện tích cực và sự gia tăng của doanh thu tài chính.
Bên cạnh số lợi nhuận tuyệt đối, có thể so sánh khả năng sinh lời các doanh nghiệp ngành điện này dựa vào chỉ số biên lợi nhuận sau thuế. Đây là chỉ số thể hiện lợi nhuận cuối cùng mà doanh nghiệp giữ lại được sau khi trừ hết tất cả chi phí từ sản xuất, vận hành đến thuế và lãi vay.
TV1 đứng đầu về biên lợi nhuận sau thuế với tỉ lệ 22,2% trong quý 1-2026. TV2 xếp thứ 2 với 21,9%. PC1 xếp thứ 3 với mức sinh lời 12,5%. Nhiệt điện Hải Phòng ghi nhận mức biên lợi nhuận xấp xỉ 8,5%.
Số liệu năm 2024 và 2025 cũng thấy TV1 đứng đầu về khả năng sinh lời. Nhiệt điện Hải Phòng có biên lợi nhuận thấp nhất trong nhóm do sự khác biệt về mô hình kinh doanh.
Hoạt động chính của TV1 và TV2 là tư vấn khảo sát, thiết kế, cung cấp dịch vụ tư vấn kỹ thuật cho các công trình nguồn điện, lưới điện, thủy lợi và các công trình công nghiệp dân dụng khác. Biên lợi nhuận gộp của 2 doanh nghiệp này vào lần lượt 34,2% và 14,9% trong quý 1-2026.
Đối với PC1, nhờ hoạt động sản xuất kinh doanh đa ngành từ bán điện, vật tư hàng hoá, xây lắp cung ứng điện đến bất động sản nên mức biên lãi gộp cũng đạt mức 21,6%.
Trong khi đó, Nhiệt điện Hải Phòng trực tiếp sản xuất và cung ứng điện nên biên lợi nhuận gộp chỉ khoảng 10,6%.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Phía Bắc, dấu ấn hạ tầng của T&T Group hiện diện rõ nét trên trục Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, một trong những tuyến giao thương lớn nhất khu vực phía Bắc, nơi tập trung các khu công nghiệp, cảng biển và chuỗi sản xuất hướng tới thị trường Trung Quốc và ASEAN.
Trên tuyến kết nối này, Vietnam SuperPort™ tại Phú Thọ được định vị như một "siêu cảng cạn" đa phương thức. Dự án đóng vai trò điểm gom hàng và trung chuyển trên tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, kết nối hàng hóa với hệ thống cảng biển, đường sắt và mạng lưới vận tải liên vùng.
Dịch về Đông Bắc, từ năm 2015, T&T Group tham gia Cảng Quảng Ninh với vai trò cổ đông chiến lược. Sau hơn một thập niên, cảng trở thành đầu mối logistics quan trọng tại khu vực Cái Lân, hiện chiếm hơn 90% thị phần dịch vụ cảng và logistics đối với mặt hàng nông sản rời tại miền Bắc.
Cùng nằm trên trục phát triển kinh tế phía Bắc, dự án thành phần 3 thuộc Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội mà T&T tham gia đầu tư là một trong những công trình trọng điểm quốc gia. Với chiều dài hơn 113 km và tổng mức đầu tư hơn 56.000 tỉ đồng theo hình thức PPP, dự án được kỳ vọng góp phần tái định hình không gian phát triển của Hà Nội và các địa phương lân cận.
Khi tuyến đường hoàn thành, các trung tâm công nghiệp của Hà Nội, Hưng Yên và Bắc Ninh sẽ được kết nối hiệu quả hơn trong cùng một không gian logistics. Dòng hàng hóa, hoạt động sản xuất và các dịch vụ hỗ trợ cũng có điều kiện phát triển theo quy mô liên vùng thay vì phân tán như trước.
Tại miền Trung, sân bay Quảng Trị là một trong những dự án đáng chú ý trong chiến lược đầu tư hạ tầng của T&T Group. Khi đi vào khai thác, sân bay sẽ kết nối với các tuyến giao thông trọng điểm như cao tốc Cam Lộ - La Sơn, Quốc lộ 15D, cao tốc Lao Bảo - Cam Lộ và cảng nước sâu Mỹ Thủy, tạo thêm động lực phát triển cho khu vực.
Cũng tại Quảng Trị, T&T Group đang triển khai Trung tâm điện khí LNG Hải Lăng - Giai đoạn 1. Nếu sân bay Quảng Trị mở rộng khả năng kết nối giao thông LNG Hải Lăng đóng vai trò hạ tầng năng lượng, tạo tiền đề cho sự phát triển của công nghiệp quy mô lớn, logistics và các chuỗi sản xuất mới tại miền Trung.
Ở phía Nam, cách tiếp cận đặt dự án trên các hành lang kinh tế trọng điểm tiếp tục được thể hiện qua những dự án giao thông và khu công nghiệp quy mô lớn.
Tại Lâm Đồng, cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương nằm trên trục kết nối TP.HCM với Tây Nguyên. Tuyến đường dài gần 74 km này là đoạn cuối cùng trên trục Dầu Giây - Liên Khương. Khi toàn tuyến được khép kín, khoảng cách giữa Tây Nguyên với TP.HCM, hệ thống cảng biển phía Nam và sân bay Long Thành sẽ được rút ngắn đáng kể, góp phần giảm chi phí logistics và mở rộng không gian phát triển cho khu vực Tây Nguyên - Nam Trung Bộ.
Bản đồ đầu tư của T&T Group cũng kéo dài xuống Đồng bằng sông Cửu Long với Khu công nghiệp Vàm Cống tại An Giang. Nằm trên trục Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, dự án có lợi thế kết nối với hệ thống thủy vận sông Hậu, các tuyến cao tốc liên vùng và mạng lưới giao thương nông nghiệp của khu vực, hướng tới vai trò trung tâm chế biến và logistics phục vụ chuỗi giá trị nông sản.
Nhìn tổng thể, các dự án từ Bắc vào Nam cho thấy T&T Group không chỉ mở rộng đầu tư đa ngành mà đang từng bước hình thành một mạng lưới hạ tầng trải dài trên những tuyến kết nối quan trọng của nền kinh tế.
Đầu năm 2026, Nhà máy điện gió Savan 1 tại Savannakhet (Lào) chính thức vận hành thương mại, đưa dòng điện sạch từ Lào về Việt Nam. Đây là dự án đòi hỏi việc xử lý đồng thời nhiều bài toán về địa hình, giao thông, vận chuyển thiết bị siêu trường siêu trọng cũng như hạ tầng truyền tải điện xuyên biên giới.
Đáng chú ý, toàn bộ quá trình từ hoàn thiện pháp lý, ký kết hợp đồng, xây dựng cho tới đầu tư hệ thống truyền tải và kết nối lưới điện được hoàn thành trong khoảng 16 tháng. Với giới quan sát, Savan 1 không chỉ là một dự án năng lượng tái tạo mà còn cho thấy khả năng triển khai các công trình hạ tầng có yếu tố xuyên biên giới của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam.
Nếu các dự án trong nước tạo nên mạng lưới kết nối Bắc – Nam, thì Savan 1 mở ra một lớp kết nối mới giữa năng lượng, logistics và thương mại trong khu vực.
Ở lĩnh vực logistics, Vietnam SuperPort™ được xem là một trong những dự án tiên phong trong mạng lưới logistics thông minh ASEAN. Với khả năng kết nối đường bộ, đường sắt, hàng không và đường biển, dự án hướng tới vai trò cửa ngõ liên kết giữa Trung Quốc, Đông Nam Á và thị trường toàn cầu.
Tại miền Trung, sân bay Quảng Trị cũng được đánh giá có vị trí thuận lợi trên tuyến Hành lang kinh tế Đông - Tây, kết nối Myanmar, Thái Lan, Lào với Biển Đông. Khi đi vào hoạt động, dự án có thể mở ra thêm dư địa phát triển cho vận tải đa phương thức, logistics cửa khẩu và giao thương khu vực.
Trên không, Vietravel Airlines góp phần hoàn thiện mảnh ghép cuối cùng trong hệ sinh thái kết nối của T&T Group, đặc biệt ở lĩnh vực vận tải hàng hóa hàng không - phân khúc được dự báo tiếp tục tăng trưởng cùng thương mại điện tử và chuỗi cung ứng khu vực.
Nhìn tổng thể, các dự án của T&T Group không nằm rời rạc mà đang dần tạo thành một mạng lưới kết nối trải dài từ Bắc vào Nam, đồng thời mở rộng sang các hành lang kinh tế khu vực. Từ logistics, giao thông, năng lượng đến hàng không, doanh nghiệp này đang lựa chọn hiện diện ở những lĩnh vực mang tính nền tảng đối với tăng trưởng dài hạn.
Đây cũng là xu hướng ngày càng rõ nét của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam khi tham gia sâu hơn vào các dự án hạ tầng quy mô lớn, đòi hỏi nguồn lực dài hạn và năng lực triển khai đồng bộ.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

