Tại Đà Nẵng, thành phố đang khẳng định vị thế rõ nét của một “MICE city” tầm cỡ quốc tế, mọi tâm điểm đổ dồn về Lễ hội Pháo hoa Quốc tế Đà Nẵng (DIFF), sự kiện văn hóa biểu tượng thu hút hơn 1,2 triệu lượt du khách mỗi năm, biến thành phố bên sông Hàn trở thành sàn diễn ánh sáng đầy sống động. Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện lần đầu tiên của thương hiệu phong cách sống lừng danh thế giới tại Đông Nam Á – Nobu Danang như một lời khẳng định đắt giá cho tiềm năng của thành phố.
Tọa lạc ngay tại mặt biển Mỹ Khê – một trong những bãi biển đẹp nhất hành tinh, các căn hộ ở đây mang đến một định nghĩa mới về không gian sống. Khi một vị trí chiến lược mang tầm quốc tế kết hợp cùng cái tên bảo chứng cho đẳng cấp toàn cầu, Nobu Danang đã chọn chiến lược khởi xướng kỷ nguyên “nền kinh tế bản sắc” (“The Taste Economy”) cho những không gian sống tinh tuyển của mình. Trọng tâm của chiến dịch là sự kết nối giữa những “tastemakers” – những người định hình gu thẩm mỹ – để cùng tạo nên một cộng đồng có chung thế giới quan và phong cách sống thượng lưu gắn liền với DNA thương hiệu.
Dưới lăng kính thiết kế tinh tế, không gian của Nobu Danang trong mùa lễ hội là sự giao thoa nguyên bản giữa tinh thần tối giản của phong cách nội thất Japandi và sự phóng khoáng của bờ biển Mỹ Khê. Không lạm dụng những trang trí rực rỡ đại trà, từng góc không gian, ánh sáng và chất liệu tự nhiên đều được sắp đặt có chủ đích, tôn vinh nét đẹp của sự tinh giản và tĩnh lặng. Đây chính là phông nền hoàn hảo cho những cuộc đối thoại có chiều sâu của giới tinh hoa.
Đặc biệt, những căn hộ Studio và 1 phòng ngủ được thiết kế đồng nhất với tiêu chuẩn lưu trú của những minh tinh hạng A và tỷ phú thế giới tại Nobu Hotel. Vượt lên mọi kỳ vọng về không gian, Studio và căn hộ 1 phòng ngủ của Nobu Danang trong thế giới bất động sản hàng hiệu đang hé mở chân trời trải nghiệm đầy mê hoặc. Và cũng có thể bạn chưa biết, nếu sở hữu 1 căn hộ Studio tại đây, bạn sẽ chẳng bao giờ phải mua vé xem pháo hoa DIFF hằng năm nữa nhờ vị trí đắc địa bậc nhất và độ cao lý tưởng của khối căn hộ.
Điểm nhấn cốt lõi đưa Nobu trở thành biểu tượng toàn cầu chính là nghệ thuật ẩm thực độc bản. Qua bàn tay tài hoa của các bậc thầy bếp trưởng, thực đơn lễ hội là một hành trình đa giác quan đầy cảm xúc. Đặc biệt, đón chờ thực khách là một thực đơn bí mật sẽ được siêu đầu bếp Nobu Matsuhisa thiết kế riêng cho “nhà hàng Nobu view biển cao nhất thế giới” tại Nobu Danang.
Chia sẻ về định hướng khác biệt này, đại diện Nobu Danang nhận định: “Khách hàng của Nobu không tìm kiếm những gì quá phô diễn. Họ là những người có trải nghiệm phong phú, đủ tinh tế để nhận ra giá trị của những điều được chắt lọc kỹ lưỡng. Chúng tôi không cố gắng ‘gào thét’ để thu hút sự chú ý của số đông. Nobu Danang được sinh ra để là một điểm hẹn văn hóa, nơi mỗi chi tiết nhỏ nhất đều tự cất tiếng nói bằng sự tinh tế và đẳng cấp riêng, kết nối những tâm hồn đồng điệu.”
Với sự đầu tư bài bản và triết lý thương hiệu khác biệt, Nobu Danang dự kiến sẽ đi vào hoạt động vào năm 2027, đang được kỳ vọng sẽ trở thành tâm điểm trên các ấn phẩm lối sống thượng lưu và văn hóa hàng đầu, đồng thời tái định nghĩa lại tiêu chuẩn về một kỳ nghỉ xa xỉ đích thực tại châu Á.
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Lời giải để huy động 38,5 triệu tỷ đồng cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam sẽ cần tới khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư phát triển. Trong bối cảnh dư địa ngân sách và tín dụng có hạn, bài toán huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân, thị trường vốn và dòng vốn quốc tế đang trở thành yêu cầu cấp thiết.
Trong cuộc trò chuyện với Người Đưa Tin (NĐT), GS.TS Hoàng Văn Cường - Đại biểu Quốc hội khóa XIV, XV; nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư Nhà nước nhiệm kỳ 2024-2029 đã phân tích các kênh dẫn vốn tiềm năng, những điều kiện để khơi thông nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
NĐT: Thưa ông, trong báo cáo giải trình mới đây về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026-2030, Bộ Tài chính cho biết Việt Nam sẽ cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng để đạt mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên. Theo ông, đâu là những kênh dẫn vốn hiệu quả và thực tế nhất hiện nay, đặc biệt để thu hút dòng vốn tư nhân và vốn quốc tế?
GS.TS Hoàng Văn Cường: Về mặt kinh tế, tăng trưởng là kết quả của đầu tư, cùng với các yếu tố như công nghệ và lao động. Muốn tăng trưởng cao thì không thể không gia tăng đầu tư. Vì vậy, nguồn vốn đầu tư là yếu tố mang tính then chốt, quyết định tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
Trong nhiều năm qua, tăng trưởng của Việt Nam vẫn phụ thuộc rất lớn vào tăng đầu tư vốn. Mặc dù hiện nay chúng ta đang chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhưng trong giai đoạn chuyển tiếp này chưa thể ngay lập tức thay thế vốn bằng công nghệ. Chúng ta vẫn phải tiếp tục đầu tư lớn để tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi đó. Vì vậy, đáp ứng nhu cầu vốn là nhiệm vụ có tính quyết định.
Nguồn vốn ngân sách, như Bộ Tài chính nêu, chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ. Điều đó có nghĩa là nguồn vốn ngoài ngân sách phải trở thành động lực căn bản cho tăng trưởng.
Từ trước đến nay, huy động vốn ngoài ngân sách ở Việt Nam chủ yếu dựa vào tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, tín dụng ngân hàng không thể mãi là trụ cột cho tăng trưởng cao. Chẳng hạn, năm 2025 khi tăng trưởng đạt khoảng 8,5%, tín dụng đã phải tăng tới 19,5%, kéo theo nhiều áp lực như lãi suất tăng để đảm bảo thanh khoản hệ thống.
Nếu tiếp tục phụ thuộc vào tín dụng, lãi suất sẽ bị đẩy lên, làm tăng chi phí vốn và gây khó khăn cho mục tiêu kiểm soát lạm phát. Vì vậy, năm 2026, chính sách tài chính - tiền tệ phải ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, nên Chính phủ cũng đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng tối đa khoảng 15%. Do đó, phần vốn còn thiếu phải được huy động từ các kênh khác, thay vì tín dụng truyền thống.
Trước hết là thị trường vốn dài hạn như thị trường trái phiếu và cổ phiếu. Đây là các kênh có khả năng huy động nguồn vốn nhỏ lẻ, ngắn hạn để chuyển hóa thành vốn đầu tư dài hạn cho nền kinh tế.
Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, thị trường trái phiếu là kênh rất cần được thúc đẩy. Trước đây thị trường trái phiếu từng phát triển nóng do khuôn khổ pháp lý và công cụ giám sát chưa hoàn thiện, dẫn tới rủi ro. Nhưng hiện nay, chúng ta đã có nhiều điều kiện thuận lợi hơn như hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp, thể chế quản lý được hoàn thiện hơn, kinh nghiệm quản lý thị trường cũng tốt hơn.
Trái phiếu có thể bao gồm trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu công trình, trái phiếu cho các dự án hạ tầng lớn. Đặc biệt là trái phiếu xanh cho các lĩnh vực chuyển đổi năng lượng, năng lượng tái tạo, metro, giao thông xanh… Đây là thị trường rất tiềm năng để huy động nguồn lực.
Kênh thứ hai là hợp tác công - tư (PPP). Đây là phương thức kết hợp giữa Nhà nước và tư nhân, trong đó Nhà nước không phải bỏ quá nhiều vốn mà huy động nguồn lực tư nhân vào các lĩnh vực trước đây vốn do Nhà nước đầu tư.
Tuy nhiên, muốn PPP hấp dẫn hơn thì phải hoàn thiện cơ chế chia sẻ rủi ro, đảm bảo công bằng lợi ích cho nhà đầu tư. Dù vậy, tôi cho rằng đây vẫn là kênh có tiềm năng rất lớn, không chỉ trong hạ tầng mà còn có thể mở rộng sang văn hóa, thể thao, giáo dục, y tế và dịch vụ công.
Ngoài ra, FDI vẫn luôn là nguồn vốn rất quan trọng vì đi kèm với công nghệ. Nếu thu hút được FDI thế hệ mới, Việt Nam sẽ vừa có vốn, vừa tiếp cận được các công nghệ mới trong các lĩnh vực ưu tiên như AI, chip bán dẫn…
Đặc biệt, việc xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế tại Tp.HCM và Đà Nẵng cũng có thể trở thành đầu mối thu hút dòng vốn tài chính quốc tế vào Việt Nam.
Bên cạnh đó, cần khơi thông nguồn vốn trong dân và trong doanh nghiệp. Đây là nguồn lực rất lớn. Nếu có cơ chế phù hợp để người dân chuyển tài sản tích trữ thành vốn đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua quỹ đầu tư, trái phiếu, thị trường tài chính…, chúng ta sẽ tạo được nguồn lực rất mạnh cho phát triển.
NĐT: Theo kế hoạch, khoảng 25,5 triệu tỷ đồng sẽ phải huy động từ khu vực tư nhân. Theo ông, mục tiêu này có khả thi trong vòng 5 năm tới không?
GS.TS Hoàng Văn Cường: Theo tôi, tính khả thi không phụ thuộc vào con số lớn hay nhỏ, mà phụ thuộc vào cơ chế huy động vốn. Nếu có cơ chế tốt thì ngay cả nguồn lực đang nằm trong dân như vàng tích trữ cũng có thể chuyển thành vốn đầu tư. Điều quan trọng nhất là thể chế.
Nếu chúng ta có môi trường đầu tư hấp dẫn, nhà đầu tư nước ngoài sẽ mạnh dạn rót vốn. Nếu trung tâm tài chính quốc tế hoạt động hiệu quả và thu hút được các định chế tài chính lớn thì dòng vốn đổ vào Việt Nam sẽ rất lớn. Tương tự, PPP cũng không chỉ giới hạn ở nhà đầu tư trong nước mà hoàn toàn có thể thu hút nhà đầu tư quốc tế.
Ngoài ra, Việt Nam hiện đang được nâng hạng tín nhiệm quốc gia, khả năng trả nợ được đánh giá tích cực hơn. Thị trường chứng khoán cũng vừa được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp. Đây là những điều kiện thuận lợi để huy động cả vốn đầu tư trực tiếp lẫn gián tiếp.
NĐT: Thưa ông, tăng đầu tư quy mô lớn thường đi kèm nhiều rủi ro. Theo ông, cần làm gì để vừa đạt tăng trưởng cao vừa kiểm soát được lạm phát, nợ công và ổn định ngân sách?
GS.TS Hoàng Văn Cường: Đúng là khi gia tăng quy mô đầu tư và dòng vốn thì nguy cơ xảy ra tăng trưởng nóng là điều phải đặc biệt lưu ý. Nếu chạy theo mục tiêu tăng trưởng mà dồn vốn vào những lĩnh vực hấp thụ vốn nhanh nhưng thiếu bền vững, có thể tạo ra tăng trưởng cao trong ngắn hạn nhưng sẽ dẫn đến mất cân đối và bất ổn kinh tế.
Do đó, tăng trưởng phải luôn gắn với ổn định kinh tế vĩ mô. Hai mục tiêu này phải song hành với nhau. Ổn định vĩ mô tốt sẽ tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, từ đó thu hút thêm nguồn lực đầu tư. Ngược lại, tăng trưởng hiệu quả cũng giúp củng cố ổn định vĩ mô.
Điều quan trọng là Nhà nước phải định hướng dòng vốn, cả vốn công và vốn tư, vào những lĩnh vực tạo ra tăng trưởng bền vững, tránh dồn vào các tài sản mang tính đầu cơ như bất động sản hay chứng khoán. Nếu vốn chảy quá mạnh vào tài sản tài chính mà không vào sản xuất, xuất khẩu hay kinh tế thực thì sẽ dẫn đến mất cân đối và khủng hoảng.
Bên cạnh đó, Nhà nước cần tiếp tục sử dụng hiệu quả các công cụ tài khóa, tiền tệ để ổn định vĩ mô. Thời gian qua chúng ta đã làm khá tốt việc này, từ ứng phó với dịch bệnh cho tới biến động giá dầu hay khủng hoảng kinh tế thế giới.
Ngoài ra, cần xây dựng hệ thống cảnh báo sớm để phát hiện các lĩnh vực có nguy cơ rủi ro cao, từ đó kịp thời điều tiết dòng vốn.
NĐT: Thủ tướng thời gian qua cũng nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đặc biệt là giảm hệ số ICOR. Theo ông, việc giảm ICOR có ý nghĩa như thế nào đối với mục tiêu tăng trưởng 2 con số?
GS.TS Hoàng Văn Cường: ICOR phản ánh mối quan hệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng. Nói cách khác, nó đo hiệu quả của đồng vốn đầu tư. Giảm ICOR không phải là tìm cách kéo con số xuống một cách cơ học, mà là làm sao để đồng vốn đầu tư nhanh chóng chuyển thành sản phẩm và tăng trưởng. Nếu vốn đầu tư bị nằm đọng, không tạo ra sản phẩm thì ICOR sẽ tăng lên.
Do đó, muốn giảm ICOR thì phải bảo đảm dòng vốn được đưa vào những lĩnh vực có khả năng chuyển hóa nhanh thành sản phẩm, tránh đầu tư đầu cơ hoặc chôn vốn. Đặc biệt, các dự án đầu tư phải hoàn thành nhanh và đưa vào khai thác sớm. Đầu tư công nếu dàn trải sẽ khiến thời gian kéo dài, hiệu quả thấp. Ngược lại, đầu tư tập trung, trọng điểm và dứt điểm sẽ giúp giảm ICOR rõ rệt.
Không chỉ đầu tư công, nhiều dự án tư nhân hiện nay cũng đang bị đình trệ do vướng pháp lý, thủ tục hành chính. Điều này khiến vốn bị "chết", làm ICOR tăng cao. Vì vậy, cần tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý để khơi thông dòng vốn.
Quan trọng hơn, đầu tư phải gắn với tiềm năng phát triển. Khu vực nào, lĩnh vực nào có tiềm năng thì tập trung đầu tư vào đó. Nếu đầu tư vào nơi không có khả năng phát triển thì rất dễ trở thành nơi "chôn vốn".
NĐT: Bộ Tài chính cho biết khoảng 3 triệu tỷ đồng đang bị tồn đọng trong các dự án dở dang. Theo ông, đâu là giải pháp để xử lý dứt điểm tình trạng này?
GS.TS Hoàng Văn Cường: Các dự án tồn đọng, đắp chiếu đang làm chôn vùi nguồn lực rất lớn. Không chỉ vốn đầu tư bị mắc kẹt mà đất đai, cơ hội phát triển và nhiều nguồn lực liên quan khác cũng bị đình trệ.
Nguyên nhân phổ biến nhất hiện nay là vướng mắc pháp lý. Có trường hợp do thay đổi chính sách, quy hoạch; nhưng cũng có trường hợp do doanh nghiệp hoặc cơ quan quản lý vi phạm quy định dẫn tới bị thanh tra, đình lại. Quốc hội vừa qua đã ban hành nghị quyết tháo gỡ các dự án vướng mắc pháp lý. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là khâu thực thi ở địa phương.
Các địa phương phải thực sự năng động, dám làm, dám quyết định thì mới xử lý được các dự án tồn đọng. Ví dụ như việc xác định lại giá đất hay xử lý các thủ tục chuyển tiếp đều đòi hỏi trách nhiệm rất lớn từ chính quyền địa phương.
Ngoài ra, có nhiều dự án chậm do nhà đầu tư yếu năng lực. Trong trường hợp này, Nhà nước cần có cơ chế để chuyển giao cho nhà đầu tư mới có năng lực hơn tiếp tục triển khai dự án.
NĐT: Chính phủ mới ban hành 8 nghị quyết cắt giảm hàng trăm thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh. Theo ông, những cải cách này sẽ tác động thế nào tới huy động vốn và mục tiêu tăng trưởng 2 con số?
GS.TS Hoàng Văn Cường: Thủ tướng từng nói rằng cách nhanh nhất, rẻ nhất để thúc đẩy tăng trưởng là cắt giảm thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh. Tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm đó.
Việc cắt giảm này trước hết làm thay đổi tư duy quản lý, chuyển từ cơ chế "xin - cho" sang Nhà nước kiến tạo và phục vụ. Thay vì doanh nghiệp phải chờ cấp phép, Nhà nước xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn để doanh nghiệp tự tuân thủ và tự chịu trách nhiệm. Điều đó sẽ tạo môi trường kinh doanh thông thoáng hơn rất nhiều.
Khi thủ tục được cắt giảm, doanh nghiệp sẽ chủ động đầu tư, chủ động kinh doanh mà không bị ách tắc bởi các khâu xin phép. Nhờ đó, các nguồn lực trong xã hội được huy động mạnh mẽ hơn cho phát triển.
Tuy nhiên, cắt giảm thủ tục không có nghĩa là buông lỏng quản lý. Những lĩnh vực thực sự cần quản lý vẫn phải duy trì, nhưng cần chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
Nhà nước công bố tiêu chuẩn, điều kiện; doanh nghiệp tự công khai hoạt động của mình và thị trường sẽ cùng tham gia giám sát. Cách quản lý này minh bạch và hiệu quả hơn nhiều so với mô hình cấp phép truyền thống. Chính điều đó sẽ tạo ra môi trường kinh doanh cạnh tranh, minh bạch và trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Kinh Tế
Đề xuất kiểm tra, giám sát hải quan với hàng hóa xuất nhập khẩu qua thương mại điện tử

Chiều 15/7, tiếp tục chương trình phiên họp thứ 4, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan.
Trình bày tờ trình của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, Luật Hải quan hiện tại đã ban hành và thực hiện trong vòng 12 năm và đã 5 lần sửa đổi, đứng trước yêu cầu phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, nhất là thương mại điện tử cũng như yêu cầu cải cách mạnh thủ tục hành chính, sắp xếp chính quyền 2 cấp, cần thiết phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung phù hợp với điều kiện thực tế, đặc biệt là đáp ứng chuyển đổi hải quan số, hải quan thông minh.
Nhằm cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thực hiện hải quan số, dự thảo Luật sửa quy định chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan từ dạng chứng từ điện tử sang dạng thông điệp dữ liệu điện tử để thực hiện hải quan số. Đồng thời, bỏ điều kiện đại lý làm thủ tục hải quan và nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan.
Dự thảo cũng sửa đổi bổ sung theo hướng tăng thời hạn lưu giữ hàng hóa gửi kho ngoại quan, thời hạn lưu giữ hàng hóa đưa vào địa điểm thu gom hàng lẻ. Đồng thời, bỏ quy định thủ tục xin gia hạn để doanh nghiệp thuận lợi hơn, giảm việc báo cáo của doanh nghiệp, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý.
Liên quan đến phân cấp, phân quyền, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung nội dung tăng phân cấp cho Chính phủ quy định nội dung tại 8 điều. Cùng với đó, sửa đổi, bổ sung nội dung giao thêm nhiệm vụ Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết và hướng dẫn một số nội dung tại 7 điều.
Ngoài các nội dung sửa đổi, dự thảo Luật bổ sung nhiều quy định mới như: Bổ sung các khái niệm về kiểm định hải quan, khái niệm về quản lý tuân thủ trong quản lý hải quan, khái niệm địa điểm kinh doanh hàng miễn thuế.
Dự thảo cũng bổ sung quy định về kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử để phù hợp với Luật Thương mại điện tử.
Tại dự thảo Luật, Chính phủ đề xuất các nhóm nội dung sửa đổi, hoàn thiện để phù hợp với các quy định pháp luật khác và thực tiễn trong quản lý hải quan. Theo đó, sửa đổi, bổ sung 15 điều để phù hợp với chức danh, tên gọi, chức năng, nhiệm vụ theo mô hình tổ chức bộ máy mới sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; sửa đổi, bổ sung khái niệm kho ngoại quan, người khai hải quan phù hợp với Luật Thương mại điện tử, Luật Quản lý thuế.
Dự thảo cũng bổ sung trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi quy hoạch, thiết kế, xây dựng liên quan đến khu thương mại tự do.
Bên cạnh đó, bổ sung thời điểm để xác định thời hạn khai bổ sung (trước thời điểm dừng đưa hàng qua khu vực giám sát); đối với trường hợp khai bổ sung quá thời hạn hoặc khai bổ sung theo yêu cầu của cơ quan hải quan thì bị xử phạt theo quy định của pháp luật. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết điều này để kịp thời điều chỉnh khi cần thiết.
Nội dung khác được sửa đổi, bổ sung tại dự thảo Luật là quy định doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng chịu trách nhiệm thực hiện việc tiêu hủy đối với hàng hóa tồn đọng gây ô nhiễm môi trường.
Ngoài ra bổ sung quy định cơ quan hải quan có quyền chủ động tạm dừng hàng hóa quá cảnh nếu phát hiện có căn cứ rõ ràng nghi ngờ hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ; bổ sung nguyên tắc kiểm tra sau thông quan, hợp nhất thủ tục kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan và doanh nghiệp; sửa đổi thời hạn kiểm tra sau thông quan và gia hạn từ 10 ngày làm việc thành tối đa là 20 ngày và giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này...
Thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu cho biết, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và các cơ quan của Quốc hội tán thành sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan.
Liên quan đến một số nội dung cụ thể của dự thảo Luật, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp tán thành việc bổ sung quy định về kiểm định hải quan.
Uỷ ban đề nghị tiếp tục hoàn thiện quy định theo hướng làm rõ phạm vi, căn cứ, phương pháp, trình tự kiểm định, phân định với các hoạt động đánh giá chuyên ngành, quy định đầy đủ quyền khiếu nại, giá trị pháp lý của kết quả kiểm định và cơ chế xử lý khi có kết quả đánh giá khác nhau để đảm bảo tính minh bạch, khả thi trong tổ chức thực hiện.
Đối với xử lý hàng hóa tồn đọng, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cơ bản tán thành quy định về xử lý hàng hóa gây ô nhiễm môi trường nhằm kịp thời xử lý hàng tồn đọng, giảm chi phí và áp lực lưu giữ tại các cảng, kho, bãi.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Kinh Tế
LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

Hai giải thưởng - Một chiến lược phát triển bền vững
HR Asia Awards là một trong những giải thưởng uy tín hàng đầu khu vực về quản trị nhân sự, được tổ chức thường niên nhằm tôn vinh các doanh nghiệp có môi trường làm việc xuất sắc, chính sách nhân sự vượt trội và văn hóa doanh nghiệp bền vững. Với chủ đề "People First Always – Luôn đặt con người phù hợp làm trọng tâm", HR Asia Awards 2026 đề cao ba yếu tố cốt lõi gồm văn hóa áp dụng tư duy số, phát triển năng lực và khả năng thích ứng của tổ chức trước những biến động của thời đại số. Đây cũng là những định hướng xuyên suốt trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực mà LPBank kiên trì theo đuổi nhiều năm qua.
Với gần 10.000 cán bộ nhân viên trên toàn hệ thống, Ngân hàng xác định văn hoá con người LPBank là năng lực cạnh tranh và tăng trưởng bền vững và không xem phát triển nhân sự là một hoạt động riêng lẻ mà là một chiến lược gắn chặt với quá trình chuyển đổi toàn diện. Trong những năm qua, LPBank triển khai đồng bộ chương trình chuyển đổi quản trị nhân sự theo hướng hiện đại, từ tái cơ cấu mô hình tổ chức, chuẩn hóa hệ thống chức danh, tinh gọn quy trình vận hành đến xây dựng môi trường làm việc minh bạch, công bằng và giàu cơ hội phát triển. Toàn bộ hành trình tuyển dụng, đào tạo, đánh giá hiệu quả công việc, quy hoạch và phát triển đội ngũ kế cận đều được chuẩn hóa theo hướng lấy năng lực và hiệu quả làm thước đo, giúp mỗi cán bộ nhân viên phát huy tối đa năng lực và phát triển lâu dài cùng tổ chức.
Bà Nguyễn Hồng Nhung, Thành viên Ban Điều hành LPBank, đại diện nhận giải thưởng Nơi làm việc tốt nhất Châu Á 2026 và Doanh nghiệp dẫn đầu công nghệ tại sự kiện
Bên cạnh đó, LPBank còn triển khai hệ thống chính sách đãi ngộ theo hướng hiện đại và lấy hiệu quả làm trung tâm. Ngân hàng chuyển dịch từ tư duy trả lương theo tính hành chính sang mô hình quản trị hiệu suất, trong đó thu nhập được xác định dựa trên mức độ đóng góp thực chất, bảo đảm tính minh bạch và công bằng. Đồng thời, Ngân hàng thường xuyên triển khai các chương trình chăm lo đời sống tinh thần, hoạt động gắn kết nội bộ, khuyến khích đổi mới sáng tạo và xây dựng văn hóa phản hồi tích cực. Với LPBank, hạnh phúc của người lao động không chỉ là một giá trị văn hóa mà còn là nền tảng để mỗi cá nhân phát triển, cống hiến và đồng hành lâu dài cùng tổ chức. Đây cũng là những yếu tố quan trọng giúp LPBank được HR Asia vinh danh là "Nơi làm việc tốt nhất châu Á 2026".
Cú đúp giải thưởng tại HR Asia Awards là sự ghi nhận cho chiến lược phát triển nhân sự bền vững tại LPBank
Đặc biệt, giải thưởng Doanh nghiệp Dẫn đầu công nghệ 2026 được trao cho LPBank ngay trong lần đầu tham gia đã cho thấy chiến lược đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng công nghệ, chuyển đổi số nội bộ và xây dựng môi trường làm việc số hiện đại. Thay vì coi công nghệ chỉ là công cụ nâng cao hiệu quả vận hành, LPBank hướng tới việc kiến tạo một "văn hóa số", nơi công nghệ, dữ liệu và con người cùng cộng hưởng để nâng cao trải nghiệm của cán bộ nhân viên và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Văn hóa doanh nghiệp - "chất keo" giữ chân nhân tài
Nếu chính sách đãi ngộ giúp thu hút nhân sự thì văn hóa doanh nghiệp chính là yếu tố tạo nên sự gắn kết bền vững. Trong bối cảnh ngành tài chính - ngân hàng cạnh tranh quyết liệt về nguồn nhân lực chất lượng cao, LPBank coi văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là lợi thế cạnh tranh chiến lược. Bộ giá trị văn hóa được cụ thể hóa thông qua ba trụ cột gồm Văn hóa lãnh đạo - Văn hóa làm việc - Văn hóa cán bộ nhân viên, cùng hệ thống 10 ADN hành vi như minh bạch, trách nhiệm đến cùng, thực thi xuất sắc, đổi mới sáng tạo, tư duy số, lãnh đạo làm gương... Chính những gen ADN LPBank này đã góp phần xây dựng một môi trường làm việc nơi mỗi nhân sự được lắng nghe, được ghi nhận và có cơ hội phát huy tối đa năng lực của mình.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

