Đến Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, hầu hết du khách thường hỏi về nghĩa địa có mộ “vua săn voi”, về những huyền thoại săn voi lẫy lừng. Nhưng ít ai biết, nghĩa địa này không chỉ là nơi yên nghỉ của tù trưởng Y Thu Knul, mà còn có mộ của nhiều Gru – chiến binh săn voi (theo người Ê Đê). Gru không nổi tiếng bằng “vua săn voi”, nhưng chính họ đã góp phần tạo nên cả một thời kỳ huy hoàng của nghề săn voi ở đại ngàn Tây nguyên.
Theo chỉ dẫn chắp vá của người dân địa phương, tôi lần theo con đường đất đỏ dẫn vào khu nghĩa địa. Nơi chôn cất của các Gru không bảng tên, không cổng vào rõ ràng, chỉ có hàng rào thép gai phủ kín dây leo như cố tình ngăn cách thế giới người sống với cõi đã khuất. Phải cúi người len qua những khoảng hở giữa dây thép và bụi cây mới vào được nghĩa địa.
Nắng trưa Tây nguyên vẫn hầm hập phía sau lưng, nhưng ngay khi bước vào bên trong, cảm giác lạnh buốt chạy dọc sống lưng. Không gian tĩnh lặng đến mức mỗi bước chân đều trở nên dè dặt.
Trước mắt tôi là hàng trăm ngôi mộ nằm rải rác trên khoảng đất rộng, không theo bất kỳ hàng lối nào. Có ngôi dựng thành hình tháp, có ngôi giống một căn nhà sàn thu nhỏ, có ngôi đã phủ đầy cỏ, cũng có ngôi sơn màu vàng chóe… Mỗi kiến trúc như giữ lại một câu chuyện riêng của người đã khuất.
Tôi bắt đầu tìm mộ Y Thu Knul – cái tên được nhắc đến nhiều nhất mỗi khi nói về nghề săn voi ở Buôn Đôn. Nhưng càng đi sâu, tôi càng nhận ra nơi này không thuộc về riêng một huyền thoại nào cả. Những ngôi mộ chen nhau, lặng lẽ và bình đẳng dưới thời gian.
Tôi đi vòng quanh giữa trưa nắng, mồ hôi thấm ướt lưng áo mà vẫn không phân biệt được đâu là mộ của “vua săn voi”, đâu là mộ của các Gru vô danh. Trong lúc gần như bỏ cuộc, tôi lầm rầm khấn xin “vua săn voi” đưa đường chỉ lối. Rồi như một sự linh ứng kỳ lạ, bước chân vô định của tôi dừng lại trước một ngôi mộ lớn, cũ kỹ nhưng khác biệt. Đó chính là mộ Y Thu Knul.
Nhưng khi đứng trước ngôi mộ ấy, tôi lại nhận ra điều: Nếu chỉ chăm chăm tìm một cái tên nổi tiếng, người ta sẽ bỏ quên cả một thế giới của những con người từng đối mặt với voi rừng trong những cuộc đi săn và giờ nằm lại đây trong im lặng.
Người địa phương gọi nơi này là nghĩa địa Gru dành cho những thợ săn voi xuất sắc nhất. Để được công nhận là Gru, họ phải săn được hàng chục con voi, có uy tín và đóng góp lớn cho buôn làng. Không ai tự nhận danh xưng ấy cho mình, mà phải được cộng đồng thừa nhận.
Có thể khẳng định ngôi mộ cổ nhất và nổi tiếng nhất ở nghĩa địa này thuộc về Y Thu Knul – vị tù trưởng được xem là người khai mở nghề săn và thuần dưỡng voi rừng ở Buôn Đôn.
Tương truyền, ông từng dâng voi trắng cho vua Xiêm (Thái Lan ngày nay) và được phong danh hiệu Khunjunob, được hiểu là “vua săn voi”. Mộ của ông không quá đồ sộ nhưng mang dấu ấn kiến trúc M’Nông – Lào, với những khối hình chắc khỏe và họa tiết giản dị.
Ngay bên cạnh mộ Y Thu Knul là mộ Rleo Knul, người cháu nổi tiếng không kém về việc săn voi và gọi Y Thu Knul là cậu. Ngôi mộ này mang dáng dấp đền tháp Campuchia, được cho là do vua Bảo Đại sai người dựng để ghi nhận công lao Rleo Knul dâng voi trắng.
Hai ngôi mộ ấy thường trở thành tâm điểm của mọi câu chuyện. Nhưng bao quanh hai ngôi mộ này còn là hàng chục phần mộ khác của những Gru mà tên tuổi giờ ít người còn nhớ.
Trên nhiều ngôi mộ xuất hiện tượng chim công, voi hay thú rừng. Chim công tượng trưng cho sự cao quý, voi biểu trưng cho sức mạnh, còn cồng chiêng, nồi đồng gợi về sự sung túc và niềm vui của buôn làng. Những biểu tượng ấy giống như cách người sống kể lại cuộc đời của người đã khuất.
Bên trong nhà mồ, người ta còn đặt chăn, bát đũa, vật dụng sinh hoạt, thậm chí cả xương thú săn được, như một cách để người chết tiếp tục cuộc sống ở thế giới bên kia. Trên mỗi ngôi mộ đều có một lỗ nhỏ phía trên. Theo quan niệm truyền thống, đó là nơi để người sống “cho người chết ăn” trong 3 năm đầu.
Sau khoảng thời gian ấy, lễ bỏ mả sẽ được tổ chức. Đó là nghi lễ tiễn biệt cuối cùng, nơi người sống hát múa, ăn uống cùng linh hồn người đã khuất trước khi để họ thật sự rời khỏi thế giới này.
Từ sau lễ ấy, mộ phần sẽ không còn được chăm sóc nữa. Có lẽ vì thế mà nghĩa địa Gru hôm nay mang vẻ vừa uy nghi vừa hoang vắng. Những công trình từng gắn với các chiến binh lừng danh dần phủ rêu phong theo năm tháng.
Không phải họ bị lãng quên, mà bởi đồng bào dân tộc Ê Đê tin rằng người đã khuất cần được thanh thản đi về thế giới của mình. Một người Ê Đê ở Buôn Đôn nói với tôi: “Người chết đã sang bên kia rồi, mình không được níu họ lại”. Câu nói ấy khiến tôi hiểu vì sao nơi này dù đậm dấu vết của quá khứ vẫn mang cảm giác buông bỏ nhẹ đến vậy.
Ngay cả tình yêu với voi cũng theo các Gru xuống mộ phần. Những chiếc ngà voi bằng xi măng, gỗ hoặc những hình tượng voi gắn trên phần mộ như dấu hiệu nhận biết đâu là nơi yên nghỉ của những người từng săn, thuần dưỡng voi rừng. Nhưng rồi thời gian vẫn làm một việc công bằng: Xóa nhòa khoảng cách giữa người lừng danh và những Gru vô danh. Tất cả cuối cùng đều nằm lại giữa rừng già, lặng lẽ như nhau.
Rời nghĩa địa Gru, ánh nắng ngoài kia vẫn chói chang như chưa từng có khoảng không tĩnh lặng nào tồn tại phía sau lớp dây leo và thép gai. Người ta có thể nhớ tên những “vua săn voi”, nhưng điều còn ở lại sâu nhất có lẽ là cảm giác về cả một thế hệ Gru đã sống giữa đại ngàn, mang theo tri thức rừng, lòng quả cảm và sự gắn bó đặc biệt với voi.
Giữa Buôn Đôn hôm nay, nghĩa địa ấy vẫn lặng im như một phần ký ức của Tây nguyên huy hoàng, bí ẩn và đang dần lùi xa vào quá khứ.
Sở Nội vụ TP.HCM vừa trình UBND TP.HCM chủ trương xây dựng và ban hành đề án xây dựng công sở hành chính thông minh, hướng tới mô hình quản trị hiện đại, thông minh, vận hành trên nền tảng số phi địa giới và lấy sự hài lòng và hiệu quả công việc làm thước đo.
Theo tờ trình, sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và hợp nhất, TP.HCM đối diện áp lực lớn đối với bộ máy hành chính trong bối cảnh số lượng cơ quan chuyên môn và nhân sự giảm, khối lượng công việc tăng lên đáng kể.
Kết quả khảo sát hơn 21.500 cán bộ, công chức tại 168 xã, phường và đặc khu cho thấy hơn 43% người được hỏi cho rằng hệ thống quản lý văn bản vận hành chưa tốt là trở ngại chính trong công việc.
Bên cạnh đó, tỉ lệ công chức có nhu cầu sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để hỗ trợ công vụ đạt từ gần 60% đến hơn 63%, tập trung vào các nhu cầu như trợ lý ảo, phân tích dữ liệu, cảnh báo rủi ro sai sót và tổng hợp báo cáo.
Từ cơ sở trên, Sở Nội vụ đề xuất xây dựng mô hình công sở hành chính thông minh với mục tiêu chuyển đổi từ phương thức "quản trị dựa trên sự hiện diện" sang "quản trị dựa trên hiệu suất", mang lại dịch vụ hành chính hiện đại, minh bạch, hiệu quả hơn, vừa giảm chi phí xã hội vừa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Đây là lợi ích thiết thực cho cả chính quyền (vận hành trơn tru, hiệu quả) lẫn người dân, doanh nghiệp (thuận tiện, hài lòng).
Về lộ trình, đề án chia thành 3 giai đoạn thực hiện nhằm bám sát mục tiêu chiến lược:
Giai đoạn 1 (năm 2026 - 2027): Xây dựng nền tảng tập trung ban hành khung pháp lý quy chế làm việc linh hoạt, bộ chỉ số KPI số và lắp đặt hệ thống kiosk tự phục vụ 24/7 tại khu dân cư.
Giai đoạn 2 (năm 2028 - 2029): Chuyển đổi toàn diện, áp dụng cơ chế làm việc tại nhà luân phiên cho ít nhất 30% vị trí tham mưu, nội nghiệp; vận hành kho dữ liệu dùng chung sống 100%.
Giai đoạn 3 (từ năm 2030 trở đi): Hoàn thiện hệ sinh thái quản trị thông minh. Bộ máy hành chính vận hành thông suốt hoàn toàn trên môi trường số phi địa giới hành chính vật lý; 100% quyết định chỉ đạo điều hành của lãnh đạo thành phố được hỗ trợ bởi hệ thống phân tích dữ liệu lớn và AI.
Liên quan đến vụ bà Nguyễn Thị Bình, cựu hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình (Hà Nội) bị phạt tù vì thu tiền dạy thêm sai quy định từ 13 năm trước, Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật (Bộ Tư pháp), mới đây xác định một văn bản có nội dung trái pháp luật.
Theo cáo buộc, Quyết định số 22/2013 của UBND TP.Hà Nội quy định về thu tiền dạy thêm, theo đó mức thu từ 6.000 - 26.000 đồng/học sinh/tiết. Lớp càng ít học sinh, mức thu càng cao và ngược lại.
Tuy nhiên, bà Bình bị cáo buộc chỉ đạo kế toán Nguyệt và giáo viên chủ nhiệm các khối lớp 7, lớp 8, lớp 9 thu theo một mức chung là 15.000 đồng/tiết/học sinh.
Dựa trên mức thu này, Trường THCS Ba Đình đã thu của 24 lớp các khối 7, 8, 9 với tổng số hơn 2,1 tỉ đồng, cao hơn quy định hơn 1 tỉ đồng. Khoản tiền thu chênh được chia làm 2 phần: 70% chi cho các giáo viên dạy thêm và giáo viên chủ nhiệm, 30% nộp về nhà trường, cá nhân bà Bình được 72 triệu đồng…
Quyết định số 22/2013 là một trong những căn cứ quan trọng để buộc tội bà Bình. Tuy nhiên, quá trình xét xử, bà Bình cho rằng việc thu tiền thực hiện sau khi có thỏa thuận với phụ huynh, phù hợp Thông tư 17/2012 của Bộ GD-ĐT.
Thông tư này quy định "mức thu tiền học thêm do thỏa thuận giữa cha mẹ học sinh với nhà trường", đồng thời ủy quyền cho UBND cấp tỉnh quy định "việc thu, quản lý, sử dụng", nhưng không có quyền áp mức trần.
Luật sư của bà Bình cũng khẳng định, việc quy định thu tiền dạy thêm cần áp dụng theo Thông tư 17/2012 - văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn. Song, cơ quan tiến hành tố tụng lại sử dụng Quyết định số 22/2013 - hiệu lực pháp lý thấp hơn, để buộc tội thân chủ là không phù hợp.
Tuy nhiên, viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm, đề nghị 4 - 5 năm tù. Tòa sơ thẩm sau đó tuyên phạt bà Bình mức án 3 năm tù về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.
Sau phiên sơ thẩm, bà Bình kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị xem xét tính hợp pháp của Quyết định số 22/2013 của UBND TP.Hà Nội.
Tại kết luận ban hành ngày 4.5, Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật dẫn Thông tư 17/2012 của Bộ GD-ĐT.
Theo đó, thông tư này quy định tiền học thêm do thỏa thuận giữa cha mẹ học sinh với nhà trường, không quy định hoặc giao chính quyền địa phương quy định mức thu tiền học thêm tối đa.
Do vậy, việc Quyết định số 22/2013 của UBND TP.Hà Nội giới hạn mức thu tiền học thêm tối đa là chưa phù hợp.
Sau Quyết định số 22/2013, Sở GD-ĐT TP.Hà Nội tiếp tục ban hành văn bản hướng dẫn với nội dung áp mức thu tối đa tương tự. Các quy định này được ban hành "không đúng hình thức, thẩm quyền".
Vẫn theo Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật, theo quy định hiện hành, việc dạy thêm trong nhà trường không được thu tiền học sinh; kinh phí phải sử dụng từ ngân sách nhà nước hoặc các nguồn hợp pháp khác.
Điều này đồng nghĩa quy định áp mức thu tối đa tại Quyết định số 22/2013 và văn bản hướng dẫn của Sở GD-ĐT TP.Hà Nội hiện không còn phù hợp.
Cơ quan kiểm tra kiến nghị UBND thành phố, Sở GD-ĐT TP.Hà Nội "khẩn trương xử lý" các nội dung trái pháp luật, đồng thời xem xét trách nhiệm của tập thể, cá nhân tham mưu, ban hành văn bản.
Hôm 5.5, UBND TP.Hà Nội đã ra quyết định bãi bỏ toàn bộ Quyết định số 22/2013, có hiệu lực từ ngày ký.
Phiên phúc thẩm vụ án của cựu hiệu trưởng Nguyễn Thị Bình sẽ được TAND TP.Hà Nội xét xử trong thời gian tới.
Điểm nhấn trong kết luận là quyết tâm đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, đến năm 2030, VN gia nhập nhóm 30 nền kinh tế có quy mô hàng đầu thế giới. Đồng thời, tạo lập thể chế phát triển hiện đại, bền vững; mạng lưới kết cấu hạ tầng đồng bộ; nâng cao tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chất lượng nguồn nhân lực; phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa và con người VN. Bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; xã hội dân chủ, công bằng, kỷ cương, an toàn; quốc phòng, an ninh được bảo đảm; vị thế, uy tín của VN trên trường quốc tế được nâng lên.
T.Ư yêu cầu thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng và hành động; đổi mới quản trị thực thi để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số; tập trung hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại, cạnh tranh, để tạo đột phá tăng trưởng; chuyển đổi mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực; phát triển các khu vực doanh nghiệp, các mô hình kinh tế mới.
Thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, chống khủng hoảng kinh tế; khơi thông và đa dạng hóa các chuỗi cung ứng, kênh dẫn vốn. Cạnh đó, cần tập trung phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Xây dựng và phát triển nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người VN. Đồng thời, cần hiện đại hóa nền giáo dục quốc dân, nâng cao chất lượng đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài; phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy đô thị hóa và phát triển đô thị, liên kết vùng.
Kết luận cũng yêu cầu cần quản lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống nhân dân; quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.
Củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; bảo vệ vững chắc Tổ quốc VN xã hội chủ nghĩa; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa.
Bên cạnh đó, T.Ư cũng đưa ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp tài chính quốc gia; nhiệm vụ, giải pháp vay trả nợ công; nhiệm vụ, giải pháp đầu tư trung hạn...