Theo số liệu thống kê sơ bộ được Cục Hải quan (Bộ Tài chính) công bố hôm nay 21.4, từ đầu năm đến hết ngày 15.4, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 297,06 tỉ USD, tăng 24,5% (tương ứng tăng 58,47 tỉ USD) so với cùng kỳ năm 2025.
Trong đó, xuất khẩu đạt 144,58 tỉ USD, tăng 20,3%; nhập khẩu đạt 152,48 tỉ USD, tăng 28,8%.
Từ 1 – 15.4, Việt Nam nhập siêu 4,25 tỉ USD, nâng mức nhập siêu từ đầu năm đến hết ngày 15.4 lên 7,9 tỉ USD.
TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, nhập siêu 7,9 tỉ USD có thể khiến nhiều người lo ngại. Tuy nhiên, dưới góc nhìn vĩ mô, đây không phải là “bức tranh xấu”, mà là tín hiệu phản ánh sự vận động rất mạnh của nền sản xuất trong nước.
“Nguyên nhân cốt lõi khiến Việt Nam nhập siêu nằm ở cấu trúc nhập khẩu. Phần lớn kim ngạch nhập khẩu gia tăng thuộc nhóm tư liệu sản xuất: máy móc, thiết bị, linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu dệt may, da giày, hóa chất, sắt thép… Đây đều là đầu vào cho sản xuất và xuất khẩu trong các quý tiếp theo. Nói cách khác, nền kinh tế đang mua nguyên liệu để chuẩn bị cho một chu kỳ xuất khẩu lớn hơn phía sau”, ông Nhân nói.
Ngoài ra, dòng vốn FDI tiếp tục mở rộng sản xuất tại Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực điện tử, bán dẫn, thiết bị công nghệ cao. Các doanh nghiệp FDI thường có đặc điểm nhập khẩu rất lớn ở giai đoạn đầu năm để lắp đặt dây chuyền, dự trữ linh kiện. Điều này làm cán cân thương mại nghiêng về nhập khẩu trong ngắn hạn, nhưng lại là tiền đề cho kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh về sau…
Quan trọng hơn, nếu so sánh tương quan, mức nhập siêu 7,9 tỉ USD trên tổng kim ngạch hơn 297 tỉ USD chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, hoàn toàn trong ngưỡng an toàn của cán cân thanh toán quốc gia.
“Có thể nói, bức tranh xuất nhập khẩu trong 3 tháng rưỡi đầu năm không phản ánh sự suy yếu mà cho thấy nền kinh tế đang bước vào pha tăng tốc sản xuất. Nhập siêu lần này mang tính chuẩn bị cho xuất siêu trong các quý sau, hơn là một dấu hiệu rủi ro vĩ mô”, ông Nhân khẳng định.
TS Vũ Thị Kim Oanh, giảng viên cấp cao ngành kinh doanh quốc tế (Đại học RMIT Việt Nam), cũng nhìn nhận việc Việt Nam nhập siêu như trên chưa đáng lo.
Tuy vậy, nếu tình trạng nhập siêu kéo dài sang các quý sau, cũng như có sự thay đổi trong cấu trúc nhập khẩu (nhập khẩu của Việt Nam tăng vào nhóm tiêu dùng không thiết yếu, do chi phí logistics hay do giá nhiên liệu tăng…) thì phải lưu ý.
Theo bà Oanh, thời gian tới, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sẽ phải đối mặt với không ít khó khăn.
Không phải doanh nghiệp xuất khẩu nào cũng đương đầu được với “cú sốc” gia tăng chi phí trong bối cảnh biến động thương mại và xung đột địa chính trị không ngừng, từ đó dẫn tới áp lực “gồng gánh”.
Ngoài ra, khó khăn còn tới từ sự thiếu chắc chắn từ các đối tác bên ngoài về nhu cầu nhập khẩu từ Việt Nam khi họ cũng chịu tác động từ sự bất định của tình hình xung đột hiện nay.
“Chi phí nhập khẩu đầu vào tăng, rõ ràng nhất là năng lượng, logistics, nguyên vật liệu, trong khi cơ cấu nhập khẩu của chúng ta phần lớn là tư liệu sản xuất. Hậu quả cho doanh nghiệp là biên độ lợi nhuận thu hẹp”, bà Oanh nói.
Vị chuyên gia nhận định, trong 2026, khả năng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam vẫn tăng, song xuất siêu sẽ khiêm tốn hơn năm 2025.
Còn ông Nhân phân tích, trong 2026, bối cảnh quốc tế thay đổi nhanh và phức tạp hơn nhiều. Dư địa tăng trưởng kim ngạch tuyệt đối vẫn còn khá lớn.
Dòng dịch chuyển đầu tư, đặc biệt trong các ngành điện tử, thiết bị công nghệ cao, năng lượng tái tạo, tiếp tục chọn Việt Nam như một cứ điểm sản xuất quan trọng trong chuỗi cung ứng khu vực. Điều này tạo nền tảng để xuất khẩu tiếp tục tăng, nhất là vào các thị trường lớn như Mỹ và EU.
Tuy nhiên, 2026 không còn là giai đoạn tăng trưởng theo quán tính. Các thị trường nhập khẩu đang áp dụng dày đặc tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm môi trường và lao động. Nếu doanh nghiệp Việt Nam không chuyển đổi kịp, tốc độ tăng xuất khẩu có thể chậm lại, dù năng lực sản xuất vẫn tăng.
“Kỳ tích năm 2026, nếu có, sẽ không chỉ được đo bằng con số tổng kim ngạch, mà bằng chất lượng tăng trưởng thương mại: tỷ lệ nội địa hóa cao hơn, giá trị gia tăng lớn hơn, ít phụ thuộc đầu vào nhập khẩu hơn. Nếu làm được điều này, Việt Nam hoàn toàn có thể vừa duy trì đà tăng kim ngạch, vừa nối dài chuỗi xuất siêu một cách bền vững”, ông Nhân nhấn mạnh.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 254/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật Quản lý thuế 2025 về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử (có hiệu lực từ ngày 1.7).
Theo nghị định này, có 8 trường hợp không phải sử dụng hóa đơn điện tử.
Thứ nhất, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh (hộ kinh doanh) bán hàng hóa, dịch vụ thuộc trường hợp lập bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ theo quy định pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp trừ trường hợp đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử.
Thứ hai, hộ kinh doanh có thu nhập từ hoạt động cho thuê bất động sản; thu nhập từ hoạt động cung cấp sản phẩm và dịch vụ nội dung thông tin số về giải trí, trò chơi điện tử, phim số, ảnh số, nhạc số, quảng cáo số cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.
Thứ ba, hộ kinh doanh làm đại lý xổ số, đại lý bảo hiểm, đại lý bán hàng đa cấp mà doanh nghiệp xổ số, bảo hiểm, bán hàng đa cấp đã khấu trừ thuế theo quy định pháp luật quản lý thuế.
Thứ tư, các khoản phí và các khoản thu khác phát sinh từ hoạt động tái bảo hiểm (bao gồm nhượng tái bảo hiểm, các khoản thu hoa hồng nhượng tái bảo hiểm và các khoản thu khác về nhượng tái bảo hiểm), nhận tiền gửi, hoạt động tài chính (phát hành chứng chỉ tiền gửi, phát hành chứng khoán sơ cấp, phát hành giấy tờ có giá), bán nợ, giao dịch ngoại tệ và sản phẩm phái sinh.
Thứ năm, góp vốn bằng tài sản của tổ chức, cá nhân kinh doanh vào tổ chức kinh tế.
Thứ sáu, tài sản điều chuyển từ công ty mẹ đến các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc và ngược lại, giữa các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong cơ sở kinh doanh; tài sản điều chuyển khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.
Thứ bảy, máy móc, thiết bị cho mượn là tài sản cố định và công cụ, dụng cụ phục vụ gia công hàng hóa của bên cho mượn, không thu tiền, không chuyển quyền sở hữu.
Thứ tám gồm 3 trường hợp: hàng hóa, dịch vụ sử dụng để tiếp tục quá trình sản xuất, kinh doanh của cơ sở kinh doanh như hàng hóa được xuất để chuyển kho nội bộ, xuất vật tư, bán thành phẩm để tiếp tục quá trình sản xuất, kinh doanh trong một cơ sở kinh doanh.
Hàng hóa, dịch vụ do cơ sở kinh doanh xuất hoặc cung cấp để sử dụng phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh (bao gồm cả tài sản cố định do cơ sở kinh doanh tự xây dựng, tự sản xuất).
Các khoản thu không liên quan đến bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ của cơ sở kinh doanh: các khoản thu về bồi thường bằng tiền (bao gồm cả tiền bồi thường về đất và tài sản trên đất khi bị thu hồi đất theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền), tiền thưởng, thu đòi người thứ ba của hoạt động bảo hiểm, các khoản thu hộ, các khoản thu thù lao từ cơ quan nhà nước do thực hiện hoạt động thu hộ, chi hộ các cơ quan nhà nước, các khoản thu tài chính.
Theo Nghị định 254/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hộ kinh doanh tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử được miễn phí dịch vụ trong thời gian 12 tháng kể từ khi sử dụng.
Cục Thuế (Bộ Tài chính) thực hiện hoặc ủy thác cho tổ chức cung cấp dịch vụ về hóa đơn điện tử thực hiện cung cấp hóa đơn điện tử được miễn phí dịch vụ.
Các tổ chức kinh tế, hộ kinh doanh không thuộc trường hợp nêu trên, khi sử dụng hóa đơn điện tử thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử thì trả tiền dịch vụ theo hợp đồng ký giữa các bên.
Kể từ ngày 1.7, các nghị định sau đây hết hiệu lực thi hành: Nghị định 123/2020/NĐ-CP; điều 1 Nghị định 41/2022/NĐ-CP; Nghị định 70/2025/NĐ-CP.
Tại Hội đàm, Bộ trưởng Nirmala Sitharaman đã nhiệt liệt chào mừng Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cùng đoàn công tác Bộ Tài chính Việt Nam tới thăm Bộ Tài chính Ấn Độ, nhấn mạnh đây là cơ hội để hai bên trao đổi về tình hình kinh tế vĩ mô, định hướng chính sách tài khóa, cải cách thể chế cũng như các định hướng tăng cường hợp tác kinh tế - tài chính giữa hai nước.
Cảm ơn sự đón tiếp trọng thị của Bộ trưởng Nirmala Sitharaman, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh Việt Nam luôn coi trọng và đánh giá cao quan hệ hữu nghị truyền thống với Ấn Độ – một trong những đối tác chiến lược toàn diện quan trọng của Việt Nam tại khu vực.
Quan hệ hai nước có nền tảng lịch sử lâu dài, được thiết lập từ năm 1972, không ngừng được củng cố, nâng cấp, đặc biệt kể từ khi hai bên thiết lập Đối tác chiến lược toàn diện vào tháng 9/2016. Trên nền tảng đó, hợp tác kinh tế – tài chính ngày càng trở thành một trụ cột quan trọng, đóng góp thiết thực vào sự phát triển của mỗi nước.
Đặc biệt, nhân dịp chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Ấn Độ theo lời mời của Tổng thống và Thủ tướng Ấn Độ, hai bên đã thống nhất nâng cấp quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam – Ấn Độ lên thành "Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường", mở ra giai đoạn hợp tác mới sâu sắc và thực chất hơn giữa hai nước.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, Việt Nam đánh giá cao vai trò và vị thế của Ấn Độ như một trong những nền kinh tế lớn, năng động hàng đầu thế giới, với thế mạnh nổi bật về công nghệ thông tin, đổi mới sáng tạo, công nghiệp dược phẩm và năng lượng. Những thành tựu phát triển của Ấn Độ trong thời gian qua là nguồn cảm hứng và kinh nghiệm quý báu đối với các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đánh giá cao và mong muốn học hỏi từ Ấn Độ về các bài học thành công ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách chính sách thuế hiệu quả, thúc đẩy đầu tư công và hình thành năng lực tự chủ chiến lược trong một số ngành lĩnh vực thiết yếu của bền kinh tế.
Tại hội đàm, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đã dành thời gian chia sẻ về tình hình kinh tế Việt Nam trong thời gian qua và những định hướng lớn thời gian tới để đạt tốc độ tăng trưởng trên 10%.
Về hợp tác kinh tế - đầu tư giữa Việt Nam và Ấn Độ, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, Việt Nam nhận thấy tiềm năng hợp tác giữa hai nước vẫn còn rất lớn và chưa được khai thác tương xứng. Mặc dù số lượng dự án tương đối nhiều, quy mô bình quân còn khiêm tốn, cho thấy dư địa để hai bên nâng tầm hợp tác theo hướng chiến lược, dài hạn và có chiều sâu hơn.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng mong muốn mở rộng đầu tư sang Ấn Độ – một thị trường quy mô lớn với hơn 1,4 tỷ dân, tuy nhiên hiện nay quy mô đầu tư của Việt Nam sang Ấn Độ còn khiêm tốn. Việt Nam đề nghị hai bên tiếp tục trao đổi nhằm cải thiện điều kiện tiếp cận thị trường, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp hai nước.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn mong muốn hai bên tiếp tục tăng cường hợp tác theo hướng thực chất, hiệu quả hơn, trong đó: tiếp tục phát huy các cơ chế hợp tác hiện có, tăng cường trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ kỹ thuật; đồng thời thúc đẩy kết nối thị trường, tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư, hướng tới xây dựng môi trường tài chính minh bạch, ổn định và hiệu quả hơn.
Xem xét giao các cấp kỹ thuật triển khai có biện pháp cụ thể để chia sẻ kinh nghiệm thành công, tăng cường năng lực lẫn nhau trên những lĩnh vực mà cả hai bên có thế mạnh và có nhu cầu ưu tiên, như cải cách chính sách thuế, đặc biệt là đối với khu vực doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ, và thúc đẩy đầu tư công theo hướng tăng cường cả về quy mô và hiệu quả.
Bộ trưởng Nirmala Sitharaman ấn tượng trước những quan tâm nghiên cứu sâu của Đoàn công tác Bộ Tài chính Việt Nam với nền kinh tế Ấn Độ. Đồng thời chia sẻ cho Đoàn những kinh nghiệm, ưu tiên phát triển của Ấn Độ trong giai đoạn tới
Trước những chia sẻ của Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, Bộ trưởng Nirmala Sitharaman cho biết bà đặc biệt ấn tượng trước sự quan tâm và nghiên cứu sâu của phía Việt Nam đối với kinh tế Ấn Độ, nhất là các chính sách thúc đẩy đầu tư công, cải cách thuế và hỗ trợ doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa.
Bộ trưởng Nirmala Sitharaman cũng đánh giá cao những thành tựu phát triển của Việt Nam, cho rằng nhiều nội dung cải cách của Việt Nam có tính tương đồng cao với các ưu tiên phát triển của Ấn Độ hiện nay, như cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và kiểm soát lạm phát gắn với duy trì tăng trưởng.
Bộ trưởng Nirmala Sitharaman cho rằng việc duy trì cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát lạm phát luôn là thách thức lớn đối với các nền kinh tế đang phát triển. Theo đó, Ấn Độ hiện vẫn duy trì mục tiêu kiểm soát lạm phát quanh mức 4%, qua đó tạo dư địa để tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng và mở rộng đầu tư công dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Narendra Modi.
Chia sẻ kinh nghiệm của Ấn Độ về đầu tư công, Bộ trưởng Nirmala Sitharaman cho biết sau đại dịch COVID-19, Chính phủ Ấn Độ đã lựa chọn đầu tư công là động lực chủ yếu để phục hồi kinh tế. Theo đó, quy mô đầu tư công của Ấn Độ hiện đã tăng mạnh từ khoảng 2.000 tỷ Rupee/năm lên hơn 12.000 tỷ Rupee/năm, tập trung vào các lĩnh vực như đường bộ, cảng biển, đường sắt, sân bay, hạ tầng số, bệnh viện và hạ tầng xã hội.
Bộ trưởng Tài chính Ấn Độ cũng chia sẻ về nền tảng số PM Gati Shakti – hệ thống đánh giá, điều phối và lựa chọn các dự án đầu tư công trên cơ sở phân tích liên kết vùng, khả năng tạo việc làm, tác động tới doanh nghiệp vừa và nhỏ, logistics và hiệu quả kinh tế tổng thể.
Theo Bộ trưởng, mỗi dự án đầu tư công đều phải trải qua hàng nghìn tiêu chí đánh giá liên quan đến khả năng kết nối hạ tầng, tác động lan tỏa tới nền kinh tế và khả năng tạo việc làm trước khi được phê duyệt, qua đó bảo đảm tính liên kết và hiệu quả đầu tư.
Bày tỏ quan tâm đối với mô hình này, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đề nghị phía Ấn Độ chia sẻ kinh nghiệm và khả năng hỗ trợ Việt Nam tiếp cận nền tảng PM Gati Shakti để phục vụ công tác quản lý và lựa chọn dự án đầu tư công. Bộ trưởng Nirmala Sitharaman khẳng định sẽ chuyển đề nghị này tới các cơ quan liên quan của Ấn Độ nhằm nghiên cứu khả năng hỗ trợ Việt Nam xây dựng mô hình phù hợp với điều kiện thực tế.
Hai Bộ trưởng cũng trao đổi sâu về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSME). Bộ trưởng Nirmala Sitharaman cho biết Ấn Độ đã thực hiện nhiều cải cách mạnh mẽ nhằm đơn giản hóa thủ tục thuế, trong đó cho phép doanh nghiệp nhỏ kê khai thuế hoàn toàn điện tử mà không cần xác nhận của kiểm toán viên; đồng thời áp dụng ngưỡng miễn đăng ký thuế GST đối với các doanh nghiệp có doanh thu nhỏ.
Ấn Độ hiện nay cũng đã đẩy mạnh số hóa toàn diện trong quản lý thuế và tài chính công, hướng tới mô hình "không tiếp xúc trực tiếp", trong đó hầu hết quy trình kê khai, xử lý hồ sơ và quản lý thuế đều được thực hiện trên nền tảng số.
Ngân hàng Nhà nước tăng tỷ giá trung tâm 8 đồng, lên 25.181 đồng/USD. Giá USD tại các ngân hàng thương mại tăng 9 đồng, Vietcombank mua vào 26.090 - 26.120 đồng, bán ra 26.440 đồng. ACB mua vào 26.110 - 26.140 đồng, bán ra 26.440 đồng. Vietinbank mua vào 26.132 đồng, bán ra 26.440 đồng…
Các ngoại tệ khác trong ngân hàng tiếp tục giảm. Tại Vietcombank, giá EUR giảm 134 đồng, mua vào 29.404 - 29.701 đồng, bán ra 30.954 đồng; bảng Anh giảm 250 đồng, mua với giá 33.889 - 34.231 đồng, bán ra 35.327 đồng; đô la Úc giảm 30 đồng, giá mua 17.990 - 18.171 đồng, bán ra 18.753 đồng…
Báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước về doanh số giao dịch bằng USD quy đổi ra VND trong tuần (từ ngày 8 - 12.6) đạt khoảng 806.640 tỉ đồng, bình quân 161.328 tỉ đồng/ngày, giảm 5.655 tỉ đồng/ngày so với tuần trước đó. Các kỳ hạn có doanh số lớn nhất là kỳ hạn qua đêm và 1 tuần với tỷ trọng lần lượt 93% và 2%. Lãi suất USD bình quân có xu hướng ít biến động ở một số kỳ hạn chủ chốt so với tuần trước. Cụ thể, lãi suất bình quân kỳ hạn qua đêm không đổi so với tuần trước và vẫn giữ ở mức 3,63%/năm; lãi suất bình quân kỳ hạn 1 tuần tăng nhẹ 0,01%/năm lên mức 3,68%/năm. Lãi suất USD thấp hơn tiền đồng từ 2 - 2,5%/năm ở các kỳ hạn.
Giá USD trên thị trường thế giới tăng mạnh, chỉ số USD-Index thêm 0,72 điểm, lên 100,81 điểm. USD đã tăng lên mức cao nhất trong vòng một năm sau khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) phát đi tín hiệu khiến giới đầu tư gia tăng kỳ vọng vào khả năng nâng lãi suất trong năm nay. Diễn biến này kéo đồng yen Nhật xuống mức thấp nhất trong hai năm và buộc các quan chức Nhật Bản phải lên tiếng cảnh báo.
Việc Fed quyết định giữ nguyên lãi suất trong biên độ từ 3,5% đến 3,75% tại cuộc họp đầu tiên dưới sự điều hành của Chủ tịch Fed Kevin Warsh, đồng thời khởi động một cuộc rà soát toàn diện về chính sách tiền tệ. Các dự báo lãi suất được cập nhật cho thấy, gần một nửa số nhà hoạch định chính sách hiện kỳ vọng sẽ có ít nhất một đợt tăng lãi suất trong năm nay do lo ngại lạm phát gia tăng, mặc dù tân Chủ tịch Fed chưa đưa ra quan điểm cá nhân về hướng đi chính sách. Theo dữ liệu từ Sở Giao dịch Chứng khoán London (LSE), thị trường hợp đồng tương lai lãi suất Fed hiện dự đoán 68% khả năng Fed sẽ nâng lãi suất vào tháng 9 tới.
Triển vọng tăng trưởng kinh tế Mỹ mạnh hơn cũng đang củng cố kỳ vọng thắt chặt chính sách tiền tệ. Ba báo cáo việc làm phi nông nghiệp gần đây đều ghi nhận số lượng việc làm mới vượt xa dự báo của các nhà kinh tế. Số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại Mỹ đã giảm trong tuần qua, phản ánh tình trạng sa thải lao động vẫn ở mức thấp.