Khi mùa du lịch hè tại Nhật Bản cận kề, ngành dịch vụ ăn uống đối mặt sức ép nhân sự nghiêm trọng sau quyết định tạm dừng tiếp nhận lao động nước ngoài theo diện visa Người lao động Kỹ năng Đặc biệt (SSW) từ ngày 13/4 của Cơ quan Dịch vụ Xuất nhập cảnh.
Theo số liệu sơ bộ của chính phủ Nhật Bản, đến cuối tháng 2, khoảng 46.000 lao động nước ngoài đang làm việc trong ngành nhà hàng theo diện này, tiến sát hạn ngạch 50.000 người được đặt ra đến hết năm tài chính 2028. Cơ quan Dịch vụ Xuất nhập cảnh Nhật Bản vì vậy phải tạm dừng tiếp nhận hồ sơ mới, dù các nhà hàng Nhật Bản dựa đáng kể vào lao động nước ngoài.
Chương trình SSW được Nhật Bản triển khai từ năm 2019 nhằm thu hút lao động nước ngoài vào các lĩnh vực khó tuyển dụng trong nước. Người lao động phải vượt qua các kỳ thi đánh giá kỹ năng chuyên môn và năng lực tiếng Nhật.
Với SSW loại I, phổ biến ở ngành nhà hàng, họ được làm việc tối đa 5 năm nhưng không được bảo lãnh gia đình. Trong khi đó, loại II có yêu cầu kỹ năng cao hơn nhưng cho phép lưu trú không giới hạn và được đưa người thân sang cùng.
Sự thay đổi đột ngột khiến nhiều doanh nghiệp rơi vào thế bị động.
Trả lời phỏng vấn của đài NHK, một chuỗi ramen tại Nhật Bản với khoảng 200 cửa hàng trên toàn quốc cho biết khoảng 75 nhân viên, tương đương 1/4 đội ngũ toàn thời gian, là lao động diện SSW làm việc tại bếp và chạy bàn. Doanh nghiệp này đã gấp rút tuyển thêm 20 lao động nước ngoài trước khi lệnh tạm dừng có hiệu lực, do đang lên kế hoạch mở thêm cửa hàng trong năm tài chính hiện tại.
Công ty cũng từng dự định tuyển các du học sinh quốc tế sau khi tốt nghiệp theo diện thị thực này, thậm chí đã gửi thư mời làm việc. Tuy nhiên, kế hoạch nay bị đảo lộn, buộc doanh nghiệp cân nhắc chuyển hướng sang diện lao động tay nghề cao và đào tạo họ cho các vị trí như quản lý, tập sự.
Hang, một nhân viên người Việt đang làm việc tại chi nhánh ở tỉnh Chiba, nói với NHK cô từng tham gia chương trình thực tập sinh kỹ thuật, làm việc tại một nhà máy chế biến thực phẩm ở tỉnh Aichi khoảng 10 năm trước.
Cô quay lại Nhật Bản năm 2022 theo diện SSW để có thu nhập tốt hơn. Hang cho biết công việc nhà hàng được nhiều lao động Việt Nam quan tâm vì tập trung ở các đô thị lớn và tạo nhiều cơ hội sử dụng tiếng Nhật hơn môi trường nhà máy.
Mos Food Services, đơn vị vận hành chuỗi Mos Burger, cho biết họ đã hỗ trợ lao động Việt Nam chuẩn bị xin thị thực kỹ năng đặc biệt để sang Nhật làm việc trong ngành dịch vụ ăn uống. Việc chính sách thay đổi đột ngột làm dấy lên lo ngại về khả năng gián đoạn nguồn cung lao động từ một trong những thị trường tuyển dụng quan trọng của Nhật Bản.
Hiệp hội Dịch vụ Thực phẩm Nhật Bản, đại diện khoảng 400 doanh nghiệp, cảnh báo việc đình chỉ cấp thị thực có thể ảnh hưởng đến kế hoạch mở cửa hàng mới, thời gian hoạt động, thậm chí làm gia tăng tranh giành lao động giữa các doanh nghiệp.
Korekawa Yu, chuyên gia trong lĩnh vực nhân khẩu học, nhận định rằng nhu cầu lao động trong ngành dịch vụ ăn uống ở Nhật Bản tăng nhanh hơn dự kiến sau đại dịch khi lượng khách quốc tế phục hồi mạnh, khiến giới hạn 50.000 là không phù hợp. “Chính phủ đã tính toán sai số lượng lao động cần tiếp nhận”, ông nói.
Theo ông, thay vì coi con số dự kiến như một hạn mức cứng, Nhật Bản nên xây dựng cơ chế linh hoạt hơn để tiếp nhận lao động nước ngoài, xem đây là mốc tham chiếu có thể điều chỉnh theo nhu cầu của thị trường.
Bộ Thương mại Trung Quốc đã nêu tên 5 công ty nói trên là Hengli Petrochemical (Dalian) Refinery, Shandong Jincheng Petrochemical Group, Hebei Xinhai Chemical Group, Shouguang Luqing Petrochemical và Shandong Shengxing Chemical, theo Reuters.
Trong tháng trước, Bộ Tài chính Mỹ đã áp đặt lệnh cấm vận đối với Hengli Petrochemical (Dalian) Refinery, cáo buộc công ty này mua dầu của Iran trị giá hàng tỉ USD, trong một động thái gia tăng nỗ lực lâu dài của Washington nhằm hạn chế doanh thu dầu mỏ của Tehran.
Chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump năm ngoái đã áp đặt lệnh cấm vận đối với 4 công ty còn lại, cùng với một số nhà máy khác.
Bộ Thương mại Trung Quốc khẳng định động thái của Mỹ vi phạm "luật pháp quốc tế và các chuẩn mực cơ bản của quan hệ quốc tế".
Do đó, bộ này thông báo đã ban hành một lệnh cấm. "Lệnh cấm này quy định Mỹ không thể công nhận, thực hiện hoặc tuân thủ các lệnh cấm vận áp đặt lên 5 công ty Trung Quốc nói trên", Bộ Thương mại Trung Quốc nhấn mạnh.
Các lệnh cấm vận của Mỹ đã tạo ra một số trở ngại cho 5 công ty Trung Quốc, như gặp khó khăn trong việc tiếp nhận dầu thô, và phải bán các sản phẩm lọc dầu dưới những tên gọi khác nhau, theo Reuters.
Theo báo South China Morning Post ngày 20-4, dữ liệu mới công bố từ cơ quan hải quan Trung Quốc cho biết nhập khẩu từ Iran trong tháng 3-2026 đã giảm 48% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi xuất khẩu sang nước này lao dốc tới 90%.
Trên phạm vi rộng hơn, xuất khẩu của Trung Quốc sang tám nền kinh tế vùng vịnh Ba Tư - bao gồm Saudi Arabia và Qatar - giảm 57%, còn nhập khẩu giảm gần 33%.
Nguyên nhân chính của sự sụt giảm này đến từ eo biển Hormuz - tuyến hàng hải huyết mạch của thế giới - bị hạn chế nghiêm trọng, trong bối cảnh xung đột giữa Mỹ - Israel và Iran leo thang.
Trong tháng 3, nhập khẩu dầu của Trung Quốc từ khu vực vùng Vịnh đã giảm 25% so với cùng kỳ, phản ánh rõ mức độ ảnh hưởng của việc tắc nghẽn tuyến đường này.
Tình hình trở nên phức tạp hơn khi Iran từng mở lại eo biển trong thời gian ngắn, nhưng nhanh chóng đảo ngược quyết định chỉ sau một ngày, trong khi Mỹ duy trì phong tỏa hải quân đối với các tàu ra và vào cảng Iran.
Các chuyên gia nhận định eo biển Hormuz giờ đây không chỉ là tuyến vận chuyển năng lượng, mà đã trở thành một đòn bẩy địa chính trị quan trọng.
Theo ông Alfredo Montufar-Helu từ công ty tư vấn Ankura China Advisors có trụ sở ở Mỹ, ngay cả khi đạt được lệnh ngừng bắn, chi phí bảo hiểm năng lượng và vận tải biển vẫn khó giảm do rủi ro an ninh còn kéo dài.
Trong bối cảnh đó, Trung Quốc đã tìm cách giảm thiểu thiệt hại bằng cách tăng nhập khẩu từ Nga, Indonesia và Malaysia. Nhờ vậy, tổng mức suy giảm nhập khẩu dầu của nước này chỉ ở mức 2,24% - thấp hơn nhiều so với mức giảm từ riêng khu vực vùng Vịnh.
Tuy nhiên, không phải mọi mặt hàng đều có thể bù đắp dễ dàng. Nguồn cung lưu huỳnh - hơn một nửa vốn phụ thuộc vào Trung Đông - đã giảm tới 42% trong thời gian xung đột, cho thấy những điểm nghẽn khó thay thế trong chuỗi cung ứng.
Triển vọng ngừng bắn sắp tới vẫn cho thấy nhiều bất ổn. Lệnh ngừng bắn mong manh giữa Mỹ - Iran dự kiến hết hiệu lực trong tuần này, làm dấy lên nguy cơ xung đột tái leo thang.
Sự bất định này không chỉ ảnh hưởng đến thương mại và năng lượng, mà còn lan sang nội bộ Mỹ. Cuộc khảo sát của Đài NBC News ngày 19-4 cho thấy tỉ lệ ủng hộ Tổng thống Trump đã giảm xuống 37%, trong bối cảnh người dân lo ngại về tình hình kinh tế và cách xử lý khủng hoảng Iran.
Theo giới phân tích, giá năng lượng duy trì ở mức cao sẽ tiếp tục gây áp lực buộc Washington phải tìm kiếm giải pháp.
Tuy nhiên, các yêu cầu cốt lõi của Mỹ - như việc Iran từ bỏ chương trình hạt nhân - vẫn là "lằn ranh đỏ" đối với Tehran, khiến khả năng đạt được đột phá trong đàm phán trở nên mong manh.
Tại phiên điều trần trước quốc hội Mỹ ngày 21/5, quyền Bộ trưởng Hải quân Hùng Cao bị chất vấn về thương vụ bán vũ khí trị giá 14 tỷ USD cho Đài Loan đang bị đình trệ.
Ông cho hay Washington chỉ đang "tạm ngừng" thương vụ để bảo đảm đủ đạn dược cho chiến dịch Cơn thịnh nộ Kinh hoàng ở Trung Đông, song khẳng định lực lượng Mỹ vẫn có đủ nguồn dự trữ vũ khí. "Chúng tôi chỉ đang bảo đảm có đầy đủ mọi thứ. Các thương vụ bán khí tài quân sự cho đối tác sẽ tiếp tục khi chính quyền thấy cần thiết", ông nói.
Bộ Ngoại giao Mỹ và Lầu Năm Góc chưa bình luận về phát biểu của quyền Bộ trưởng Hải quân.
Phát biểu làm dấy thêm lo ngại về cam kết của Tổng thống Donald Trump đối với hỗ trợ Đài Loan.
Trung Quốc luôn xem đảo Đài Loan là phần lãnh thổ không thể tách rời và sẵn sàng sử dụng mọi biện pháp để thống nhất. Mỹ cam kết tôn trọng nguyên tắc "Một Trung Quốc" và không ủng hộ Đài Loan độc lập, nhưng cũng thường tránh công khai tuyên bố phản đối sự độc lập của hòn đảo.
Theo Đạo luật Quan hệ với Đài Loan được tổng thống Jimmy Carter ký sau khi Washington thiết lập quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh năm 1979, Mỹ phải hỗ trợ khả năng phòng thủ cho đảo Đài Loan. Dù vậy, Washington vẫn giữ lập trường mơ hồ về khả năng quân đội nước này can thiệp hỗ trợ hòn đảo nếu xung đột bùng phát.
Tổng thống Mỹ đến nay chưa cam kết thúc đẩy thương vụ bán vũ khí cho hòn đảo. Trước chuyến thăm Trung Quốc hồi đầu tháng, ông Trump xác nhận sẽ trao đổi với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình về vấn đề bán vũ khí cho đảo Đài Loan, khác với lập trường trước đây của Washington rằng họ không cần tham vấn Bắc Kinh về vấn đề này.
Cuối chuyến thăm, ông Trump tuyên bố không đưa ra cam kết nào với ông Tập liên quan đến Đài Loan, song chưa muốn công bố quyết định về thương vụ bán vũ khí.
Trả lời phóng viên sau khi rời Bắc Kinh, Tổng thống Trump xác nhận Chủ tịch Tập đã nêu vấn đề Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan. Tuy nhiên, ông cho biết không cam kết theo hướng nào và từ chối khẳng định liệu Mỹ có bảo vệ Đài Loan hay không nếu hòn đảo bị tấn công.