Từng là tiến sĩ tâm lý học thần kinh và có công ty riêng, Stu Goldberg, 74 tuổi, chưa từng nghĩ sẽ phải lái xe đưa đón người lạ sau khi nghỉ hưu. Tuy nhiên, tình hình tài chính không như dự kiến đã thúc đẩy ông quay lại làm tài xế Uber về đêm ở New York.
Goldberg chỉ là một trong số nhiều người nghỉ hưu tại Mỹ quyết định đi làm lại trong những năm gần đây. Họ trở lại thị trường lao động vì chi phí sống tăng, khoản tích lũy cho tuổi già không đủ, một phần cũng vì muốn tiếp tục làm việc và giữ các giao tiếp xã hội.
Một số người tìm việc qua ứng dụng như Uber, Rover hay Poplin, nơi họ có thể tự chọn giờ làm và khối lượng công việc.
“Uber không phải lựa chọn tồi vì tôi cũng thoải mái khi đưa đón khách, đây là cách để tôi vừa có thể kiếm thêm tiền, vừa giữ lại được phần lớn tiền tiết kiệm”, Goldberg nói.
Sau hàng chục năm làm việc tại công ty phần mềm và tiếp thị, Goldberg nghỉ hưu, rồi tham gia công tác giảng dạy. Nhưng ông cần mức thu nhập cao hơn so với khoản thù lao bấp bênh từ công việc thỉnh giảng môn thống kê.
Việc lái Uber giúp Goldberg kiếm thêm thu nhập và gặp gỡ nhiều người. Có đêm, ông trò chuyện với một nhà sử học người Scotland về bộ phim Braveheart. Đêm khác, một hành khách hỏi ông về cách thức cầu hôn bạn gái. “Tôi ngạc nhiên vì mọi người sẵn sàng kể với tôi rất nhiều chuyện về các mối quan hệ của họ”, Goldberg nói.
Ông đánh giá cao việc mình có thể tự sắp xếp giờ làm, nhưng tài xế Uber là công việc không có ngày nghỉ phép hay nghỉ ốm hưởng lương, nên mỗi khi không chạy xe vì có việc gia đình hay lý do sức khỏe đồng nghĩa mất thu nhập.
“Dù bạn thích sự linh động ấy và không phải gọi cho ai để báo ‘hôm nay tôi nghỉ’, thực tế là ngày hôm đó bạn vẫn không kiếm được tiền nhưng vẫn phải trả tiền bảo hiểm”, Goldberg nói.
Nhà xã hội học Alexandrea Ravenelle, chuyên nghiên cứu về kinh tế tại Đại học Bắc Carolina, cho rằng thu nhập của tài xế công nghệ hay người giao hàng phụ thuộc lớn vào nền tảng, trong khi gần như phải tự gánh hết rủi ro nếu gặp tai nạn hoặc bị thương khi làm việc.
Với Goldberg, việc phải ngồi lái xe trong thời gian dài có thể ảnh hưởng xấu đến lưng và chân. Việc tìm nhà vệ sinh khi đang chạy xe cũng trở nên khó khăn hơn ở tuổi của ông. Chưa kể, những chi phí phát sinh cũng có thể làm sụt giảm thu nhập.
Goldberg kể ông từng va phải ba ổ gà lớn trong ba tuần, mỗi lần mất 144 USD tiền thay lốp và ông phải chịu lỗ dù làm việc đầy đủ.
Nhiều người cao tuổi khác ở Mỹ cũng tìm đến các công việc tự do để tăng thu nhập. Cựu y tá Barbara Baratta, 72 tuổi, đã nhận việc chăm sóc thú cưng qua ứng dụng Rover sau khi nghỉ hưu vài năm. Hàng ngày, công việc của bà là dắt chó đi dạo và cho mèo uống thuốc.
Việc này giúp bà vận động nhiều hơn, nhưng Baratta cũng thừa nhận vì tuổi tác và đầu gối không còn hoàn toàn khỏe mạnh nên việc đi qua địa hình dốc hoặc gồ ghề giờ đây khá khó khăn.
Baratta cho biết bà tính phí 20 USD cho nửa tiếng dắt chó mèo đi dạo, chưa bao gồm thời gian lái xe đến địa điểm. Với việc nền tảng giữ lại 20%, bà nhận được khoảng 1.000-2.000 USD mỗi tháng, giúp phần nào trang trải các hóa đơn. “Tôi không giàu lên nhờ việc này, nhưng tôi đã gặp được rất nhiều gia đình tốt”, bà nói.
Baruch Schwartz, 78 tuổi, từng làm nhiếp ảnh gia chụp đám cưới suốt nhiều thập kỷ trước khi công việc này trở nên quá nặng nhọc để ông tiếp tục làm toàn thời gian. Sau đó, ông chuyển sang lái xe cho Uber và Lyft, và thấy hài lòng vì bản thân vẫn còn có ích.
“Tôi cảm thấy như mình đang làm một việc có ý nghĩa”, ông nói sau khi đưa một hành khách về nhà sau buổi chạy thận.
Carly Roszkowski, phó chủ tịch phụ trách khả năng phục hồi tài chính tại tổ chức phi lợi nhuận AARP tại Mỹ, nhận định tuổi thọ con người đang tăng lên, nên thời gian làm việc trong vòng đời cũng được nới dài hơn trước. Theo khảo sát của AARP hồi tháng 1/2025, trung bình cứ 5 người Mỹ trên 50 tuổi chưa nghỉ hưu thì có một người không có tiền tích lũy cho tuổi già.
“Quan niệm nghỉ hưu là một dấu mốc rõ ràng để ngừng làm việc trên thực tế đã không còn đúng với đa số người Mỹ”, Roszkowski phân tích.
Giống như hàng nghìn chủ nhà khác tại Nevada, ông Koorndyk sống phụ thuộc vào nguồn thu nhập phụ từ việc cho thuê nhà. Là một người đã nghỉ hưu, hai căn nhà cho thuê là nguồn sống quyết định tài chính và cả sức khỏe của ông. "Tôi đang bị ung thư giai đoạn 4, và số tiền này thực sự giúp tôi chi trả chi phí điều trị", ông chia sẻ.
Tuy nhiên, các nhà lập pháp Nevada đã luôn tìm cách bảo vệ các khách sạn lớn khỏi sự cạnh tranh từ chính những người dân địa phương. Từ năm 1998, chính quyền quận Clark, nơi có thủ phủ giải trí Las Vegas, đã ban hành lệnh cấm cho thuê nhà ngắn hạn tại các vùng ngoại ô. Có tới hơn 40% cư dân quận Clark sống ở các khu vực này, nơi bao trùm phần lớn Thung lũng Las Vegas và các khu nghỉ dưỡng nổi tiếng trên Đại lộ Strip.
Vì khách du lịch đến đông, người dân phớt lờ lệnh cấm và đăng nhà lên Airbnb để cho thuê. Các nền tảng như Airbnb và Vrbo không công khai địa chỉ chính xác của nơi cho thuê và không gỡ bỏ các điểm cho thuê trong quận khỏi nền tảng của họ, khiến việc thực thi lệnh cấm trở nên khó khăn.
Năm 2021, chính quyền bang Nevada yêu cầu quận Clark cho phép người dân cho thuê nhà hợp pháp bằng cách tạo ra một khung pháp lý cụ thể.
Năm sau, quận đã công bố một lộ trình cấp phép, nhưng khung pháp lý mới này bị nhiều người dân phàn nàn rằng giống như "không cấm được thì làm khó". Nhà cho thuê không được nằm trong phạm vi 760 m tính từ khách sạn, không được có quá một nhà cho thuê trong bán kính 300 m. Giới chức có quyền kiểm tra đột xuất bất cứ lúc nào không cần báo trước.
Chủ nhà có thể phải chịu trách nhiệm hình sự vì vứt rác sai chỗ hoặc khách đỗ xe dưới lòng đường. Nếu không có giấy phép mà vẫn cho thuê, chủ nhà đối mặt hình phạt 10.000 USD mỗi ngày và có nguy cơ bị đóng băng hoặc gán nợ tài sản. Các quy định mới cũng yêu cầu nền tảng như Airbnb phải gỡ bỏ các bất động sản hoạt động không có giấy phép.
Hiện có hơn 13.000 chỗ ở cho thuê trên Airbnb tại quận Clark. Tính đến tháng 5, quận chỉ cấp 220 giấy phép hoạt động và hơn 300 giấy phép đã bị từ chối. Điều đó có nghĩa là ít nhất 12.000 bất động sản đang trong tình trạng pháp lý không rõ ràng.
Hiệp hội Cho thuê ngắn hạn vùng Greater Las Vegas, do ông Koorndyk đồng sáng lập, đã cùng Airbnb đệ đơn kiện chính quyền quận lên tòa án liên bang, cáo buộc hệ thống cấp phép nói trên vi phạm hiến pháp.
Tháng 12/2025, thẩm phán liên bang Miranda Du đã ra phán quyết đình chỉ tạm thời quy định của quận Clark, ngăn chính quyền siết chặt thêm chế tài hoặc ép Airbnb gỡ các phòng cho thuê không phép. Thẩm phán Du khẳng định người dân có quyền sở hữu tài sản và cơ quan quản lý không được phép đưa ra những rào cản mang tính đánh đố, bất khả thi. Hội đồng quận Clark sau đó đã bỏ phiếu quyết định kháng cáo.
Ông Koorndyk chỉ là một trong số rất nhiều người dân Nevada đang đấu tranh với chính quyền địa phương để được phép cho thuê nhà. Nỗ lực của bang Nevada nhằm siết chặt quản lý thị trường cho thuê ngắn hạn không chỉ giới hạn ở quận Clark. Các quan chức ở Carson City, thủ phủ bang, đã dành nhiều tháng để thiết kế quy định còn khắt khe hơn. Được phê duyệt vào tháng 5, các quy định mới yêu cầu chủ nhà phải trải qua một buổi họp lấy ý kiến công khai từ cư dân, đi kèm hàng loạt yêu cầu vận hành nghiêm ngặt khác như phải thông báo cho hàng xóm, hạn chế về số người ở.
Nhà cho thuê sẽ phải chịu thuế bất động sản 8%, thay vì mức thuế nhà ở 3%, cũng như thuế cho thuê phòng. Bên cạnh đó, chủ nhà cũng phải xin giấy phép kinh doanh và giấy phép hành chính trước khi cho thuê nhà.
Cơ quan An sinh Xã hội Mỹ (SSA) và Văn phòng Tổng Thanh tra (OIG) phát cảnh báo lừa đảo giả danh ngày càng tinh vi, gây thiệt hại lớn.
Số liệu liên bang cho thấy năm 2025 ghi nhận hơn 330.000 đơn khiếu nại liên quan đến lừa đảo giả danh cơ quan chính phủ, tăng 25% so với năm trước. Thiệt hại từ các vụ việc này lên tới hàng trăm triệu USD mỗi năm, trở thành một trong những hình thức gian lận dai dẳng và nguy hiểm nhất với người tiêu dùng Mỹ.
Các thông điệp lừa đảo hiện được thiết kế giống thông báo chính thức từ SSA, thường xoay quanh số an sinh xã hội hoặc hồ sơ cá nhân. Đối tượng sử dụng những dữ kiện quen thuộc như tên, một phần số an sinh xã hội hoặc thông tin quyền lợi để tạo độ tin cậy.
Phần lớn dữ liệu này có nguồn từ các vụ rò rỉ trước đó. Khi xuất hiện trong email hoặc tin nhắn, nội dung trở nên thuyết phục hơn, khiến người nhận dễ mất cảnh giác.
Không ít trường hợp nhận email giả mạo yêu cầu tải bản sao kê an sinh qua đường dẫn đến trang web giả, nhằm đánh cắp thông tin hoặc xâm nhập thiết bị.
Mục tiêu của các đối tượng thường là thu thập dữ liệu cá nhân như số an sinh xã hội, ngày sinh, địa chỉ, thông tin đăng nhập, mã xác nhận; hoặc chiếm đoạt tài chính thông qua yêu cầu chuyển tiền, mua thẻ quà tặng, dùng tiền điện tử hay cung cấp quyền truy cập tài khoản.
Sau khi có thông tin, kẻ gian có thể vượt qua bước xác minh, mở tài khoản tín dụng mới, truy cập tài khoản hiện có hoặc thay đổi thông tin nhận trợ cấp. Dữ liệu bị đánh cắp cũng có thể bị sử dụng lâu dài để tạo danh tính giả.
SSA khẳng định không bao giờ liên lạc bất ngờ để yêu cầu cung cấp thông tin cá nhân, không yêu cầu đầy đủ số an sinh xã hội, thông tin ngân hàng hay dữ liệu đăng nhập qua điện thoại, tin nhắn hoặc email. Cơ quan này cũng không yêu cầu thanh toán để xử lý vấn đề liên quan đến quyền lợi.
Mọi yêu cầu chuyển tiền, mua thẻ quà tặng hoặc đe dọa đình chỉ số an sinh đều là dấu hiệu lừa đảo. Thông tin chính thức chỉ được gửi qua thư hoặc tài khoản trực tuyến, không kèm liên kết không xác thực.
Người dân được khuyến cáo không phản hồi, không nhấp vào liên kết nghi vấn và không gọi theo số điện thoại trong tin nhắn. Thay vào đó, cần chủ động truy cập kênh chính thức để kiểm chứng.
Nếu đã cung cấp thông tin, cần ngừng liên lạc ngay, ghi lại dữ kiện đã chia sẻ và báo cáo với OIG, SSA. Đồng thời, nên cảnh báo gian lận hoặc đóng băng tín dụng, theo dõi báo cáo tín dụng để phát hiện bất thường.
Các chuyên gia khuyến nghị sử dụng công cụ theo dõi danh tính, quét dữ liệu rò rỉ và cảnh báo khi có tài khoản mới mở. Trong bối cảnh lừa đảo ngày càng tinh vi, việc kiểm chứng thông tin qua kênh chính thức và không vội vàng trước các yêu cầu khẩn cấp vẫn là nguyên tắc then chốt.
Bộ trưởng Nhập cư New Zealand Erica Stanford cho hay trong số tiền đó có 1,49 tỉ NZD đã được đầu tư và 2,415 tỉ NZD đang được xem xét cho các dự án. Chính phủ New Zealand thông báo đã nhận được đơn đăng ký của 1.988 người kể từ khi chương trình AIP được điều chỉnh.
Chính quyền Wellington đã nới lỏng các quy định về thị thực từ ngày 1.4.2025, giảm ngưỡng đầu tư tối thiểu xuống còn 5 triệu NZD cho hạng mục "Tăng trưởng" trong 3 năm và 10 triệu NZD cho hạng mục "Cân bằng" trong 5 năm. Mức đầu tư tối thiểu trước đó là 15 triệu NZD, theo Đài phát thanh RNZ. Chính phủ New Zealand cũng đã loại bỏ yêu cầu về tiếng Anh và giảm yêu cầu về thời gian lưu trú tại quốc gia này đối với các nhà đầu tư tích cực hơn. Những thay đổi tiếp theo được công bố vào tháng 9.2025 đã cho phép người sở hữu thị thực AIP mua nhà trị giá ít nhất 5 triệu NZD.
Chính phủ New Zealand đã quảng bá chương trình thị thực AIP như một phần của chương trình nghị sự rộng lớn hơn mang tên "Hướng tới tăng trưởng" nhằm nâng cao năng suất, mở rộng doanh nghiệp và tạo việc làm, ngay cả khi các nhà phê bình về thị thực đầu tư trên toàn cầu đặt câu hỏi liệu những chương trình như thế có mang lại lợi ích kinh tế lâu dài hay không.