Gan giúp chuyển hóa chất dinh dưỡng, khử độc, còn thận lọc chất thải, điều hòa huyết áp, cân bằng nước – điện giải. Tuy nhiên, chế độ ăn nhiều thực phẩm chế biến sẵn, ít vận động, uống rượu bia hay mất ngủ kéo dài có thể khiến cả hai cơ quan này bị tổn thương theo thời gian.
Nhiều nghiên cứu và khuyến cáo từ các tổ chức y khoa cho thấy duy trì một số thói quen đơn giản mỗi ngày có thể giúp giảm gánh nặng cho gan và thận, đồng thời hạn chế nguy cơ gan nhiễm mỡ hay bệnh thận mạn.
Uống đủ nước
Nước giúp thận đào thải chất cặn, natri và độc tố qua nước tiểu, hỗ trợ gan trong quá trình chuyển hóa. Thiếu nước kéo dài có thể làm tăng nguy cơ sỏi thận và khiến cơ thể mệt mỏi, tích tụ chất thải.
Theo khuyến nghị từ các bác sĩ trên Healthline, người trưởng thành nên duy trì khoảng 1,5-2 lít nước mỗi ngày, tùy mức độ vận động và thời tiết. Người thường xuyên vận động hoặc sống ở nơi nóng bức có thể cần nhiều hơn.
Tuy nhiên, không nên uống quá nhiều nước trong thời gian ngắn vì có thể gây rối loạn điện giải. Nên chia đều lượng nước trong ngày, ưu tiên nước lọc thay vì nước ngọt hay đồ uống nhiều đường.
Ăn nhiều rau xanh, thực phẩm tươi
Rau xanh, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt và thực phẩm giàu chất xơ có lợi cho cả gan lẫn thận. Những thực phẩm này chứa chất chống oxy hóa, giúp giảm viêm và hạn chế tổn thương tế bào.
Theo WebMD, rau lá xanh như cải bó xôi, cải xoăn chứa nhiều chất chống oxy hóa, hỗ trợ gan xử lý độc tố hiệu quả hơn. Yến mạch và ngũ cốc nguyên hạt cũng giúp kiểm soát cân nặng đồng thời giảm nguy cơ gan nhiễm mỡ.
Chế độ ăn nhiều thực phẩm tươi, ít natri còn giúp giảm áp lực lọc cho thận. Theo Healthline, nên hạn chế thực phẩm chế biến sẵn, thịt xông khói, đồ hộp hay snack mặn vì chứa lượng muối cao, dễ làm tăng huyết áp, tổn thương thận về lâu dài.
Duy trì vận động
Tập thể dục không chỉ giúp kiểm soát cân nặng mà còn hỗ trợ ổn định huyết áp, đường huyết – hai yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới chức năng thận và gan. Duy trì hoạt động thể chất đều đặn có thể làm giảm nguy cơ bệnh thận mạn. Đi bộ nhanh, đạp xe, yoga hoặc bơi lội khoảng 30 phút mỗi ngày đều có ích.
Với gan, việc giữ tỷ lệ mỡ cơ thể ở mức hợp lý đặc biệt quan trọng. Theo Mayo Clinic, thừa cân và tích mỡ nội tạng làm tăng nguy cơ mắc bệnh gan nhiễm mỡ liên quan rối loạn chuyển hóa (MASLD).
Kiểm soát đường huyết và huyết áp
Đái tháo đường và tăng huyết áp là hai nguyên nhân hàng đầu gây suy thận mạn. Đường huyết cao kéo dài có thể làm hỏng các mạch máu nhỏ trong thận, khiến khả năng lọc suy giảm theo thời gian.
Huyết áp cao cũng làm tổn thương hệ thống mạch máu nuôi thận và gan. Các chuyên gia khuyến cáo nên duy trì chế độ ăn ít đường bổ sung, hạn chế nước ngọt, đồ uống có đường để hỗ trợ kiểm soát đường huyết tốt hơn.
Kiểm tra huyết áp, đường huyết định kỳ, đặc biệt ở người sau 40 tuổi hoặc có tiền sử gia đình mắc bệnh chuyển hóa, giúp phát hiện sớm nguy cơ tổn thương gan thận.
Hạn chế rượu bia, lạm dụng thuốc giảm đau
Gan là cơ quan trực tiếp xử lý cồn. Uống rượu bia thường xuyên khiến gan phải hoạt động quá mức, làm tăng nguy cơ gan nhiễm mỡ, viêm gan và xơ gan. WebMD lưu ý không có mức tiêu thụ rượu nào được xem là hoàn toàn an toàn cho gan.
Lạm dụng thuốc giảm đau không kê đơn cũng có thể gây hại cho gan và thận nếu dùng kéo dài hoặc quá liều. Người dùng thuốc thường xuyên nên tham khảo ý kiến bác sĩ, tránh tự ý kết hợp nhiều loại thuốc hay thực phẩm chức năng.
Ngủ đủ giấc, giảm căng thẳng
Căng thẳng kéo dài có thể làm tăng hormone stress, ảnh hưởng tới huyết áp, đường huyết và chất lượng giấc ngủ, từ đó gián tiếp gây áp lực cho gan, thận.
Một giấc ngủ đủ và đều đặn giúp cơ thể phục hồi, ổn định chuyển hóa, giảm phản ứng viêm. Nên duy trì giờ ngủ cố định, hạn chế thức khuya, tránh sử dụng thiết bị điện tử sát giờ ngủ.
Ngoài ra, thiền, yoga, đi bộ nhẹ hoặc dành thời gian thư giãn ngoài trời cũng giúp cải thiện sức khỏe tổng thể và hỗ trợ chức năng các cơ quan nội tạng.
Không chỉ khẳng định năng lực chuyên môn và hệ thống quản trị, chứng nhận này còn mở ra nền tảng mới cho việc nâng cao chất lượng đào tạo trong mô hình "Viện – Trường", hướng tới hội nhập y khoa toàn cầu.
Vượt qua hệ thống tiêu chí kiểm định nghiêm ngặt về an toàn người bệnh và quản lý rủi ro, Bệnh viện Đại học Y khoa Phan Châu Trinh (Đà Nẵng) đã đạt chứng nhận chất lượng quốc tế AACI America, trở thành cơ sở y tế tiên phong tại TP.Đà Nẵng và khu vực miền Trung áp dụng hệ thống tiêu chuẩn quốc tế AACI. Nỗ lực này hướng đến chuẩn hóa toàn diện chất lượng và an toàn người bệnh trong mô hình viện-trường, nơi hội tụ hài hòa giữa chăm sóc sức khỏe, đào tạo y khoa và nghiên cứu khoa học.
Lễ công bố diễn ra ngày 3.4.2026, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế theo tiêu chuẩn quốc tế của bệnh viện.
Phát biểu tại buổi lễ, BS-CKII.Lê Xuân Túy – Giám đốc điều hành bệnh viện, nhấn mạnh, việc đạt chứng nhận AACI không chỉ dừng lại ở đích đến mà là điểm khởi đầu cho một hành trình mới. "Chất lượng không phải là điều đạt được một lần, mà cần được duy trì và cải tiến liên tục để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người bệnh", BS Túy chia sẻ.
AACI là hệ thống kiểm định chất lượng y tế quốc tế với bộ tiêu chuẩn toàn diện bao gồm 3 chương và 30 tiêu chuẩn tập trung vào các lĩnh vực cốt lõi như chất lượng điều trị, an toàn người bệnh, kiểm soát nhiễm khuẩn, quản lý rủi ro, năng lực xử lý các tình huống khẩn cấp và đào tạo liên tục. Việc đáp ứng các tiêu chí của AACI đòi hỏi cơ sở y tế phải xây dựng hệ thống quản trị đồng bộ, minh bạch và vận hành hiệu quả.
Theo đại diện bệnh viện, việc đạt chứng nhận AACI không chỉ phản ánh quá trình chuẩn hóa hệ thống, thúc đẩy cải tiến chất lượng và nâng cao hiệu quả vận hành, mà còn thể hiện định hướng phát triển dài hạn theo mô hình y tế hiện đại, hội nhập và bền vững.
Không chỉ dừng lại ở ý nghĩa nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chứng nhận AACI còn tạo ra nền tảng quan trọng để nâng cao và đảm bảo chất lượng đào tạo trong mô hình "Viện – Trường". Việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về chuyên môn, quy trình lâm sàng và an toàn người bệnh giúp môi trường thực hành trở nên chuẩn hóa, hiện đại và đồng bộ hơn.
Điều này mang lại lợi ích trực tiếp cho công tác giảng dạy và đào tạo nguồn nhân lực y tế, khi sinh viên và học viên được tiếp cận với hệ thống vận hành đạt chuẩn quốc tế ngay từ quá trình học tập. Qua đó, góp phần hình thành đội ngũ nhân lực y tế không chỉ vững chuyên môn mà còn đáp ứng các yêu cầu khắt khe của môi trường y khoa toàn cầu.
Với định hướng phát triển bền vững, việc đạt chứng nhận AACI được xem là bước đệm quan trọng để Bệnh viện Đại học Y khoa Phan Châu Trinh tiếp tục nâng tầm cả chất lượng dịch vụ y tế lẫn chất lượng đào tạo, hướng tới hội nhập sâu rộng với nền y học quốc tế.
Theo Healthline, dù đang "hot" trên TikTok gần đây, đặc biệt ở các tài khoản của người dùng phương Tây, cà phê trứng không phải là món mới. Nhiều phiên bản đã tồn tại từ lâu như cà phê trứng Việt Nam, cà phê trứng Thụy Điển hay các món trứng pha cà phê của Ý.
Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo về những rủi ro sức khỏe tiềm ẩn liên quan đến loại đồ uống này, chủ yếu nằm ở cách chế biến, đặc biệt là việc sử dụng lòng đỏ trứng sống hoặc chưa được nấu chín kỹ.
Trứng sống có thể chứa vi khuẩn Salmonella - tác nhân gây ngộ độc thực phẩm. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, việc tiêu thụ cà phê trứng làm từ lòng đỏ sống hoặc chỉ được làm nóng nhẹ có thể dẫn đến nguy cơ nhiễm khuẩn.
Nhiều người cho rằng cà phê nóng có thể "làm chín" trứng và giúp an toàn hơn, nhưng thực tế nhiệt độ của cà phê thường không đủ cao để tiêu diệt vi khuẩn. Vì vậy, nguy cơ vẫn tồn tại nếu trứng không được xử lý đúng cách.
Nhiễm khuẩn Salmonella có thể gây ra các triệu chứng như tiêu chảy, sốt, đau quặn bụng, xuất hiện từ vài giờ đến vài ngày sau khi ăn phải thực phẩm nhiễm khuẩn. Đối với người khỏe mạnh, tình trạng này thường tự khỏi, nhưng ở người lớn tuổi, phụ nữ mang thai hoặc người có hệ miễn dịch yếu, bệnh có thể trở nên nghiêm trọng hơn.
Dù nguy cơ từ từng quả trứng riêng lẻ không cao, các khuyến nghị an toàn thực phẩm vẫn nhấn mạnh nên tránh sử dụng trứng sống hoặc chưa chín kỹ khi có thể.
Bên cạnh vấn đề an toàn thực phẩm, cà phê trứng còn có những điểm cần lưu ý về dinh dưỡng. Công thức phổ biến của thức uống này thường sử dụng sữa đặc có đường và thêm đường, làm tăng đáng kể lượng calo và đường nạp vào cơ thể.
Khi kết hợp với lòng đỏ trứng, thức uống cũng chứa lượng chất béo bão hòa đáng kể. Các chuyên gia cảnh báo rằng việc tiêu thụ nhiều chất béo bão hòa có thể làm tăng mức cholesterol LDL và protein apoB - những yếu tố liên quan đến nguy cơ bệnh tim.
Mặc dù việc uống cà phê trứng thỉnh thoảng khó gây ảnh hưởng lớn, nhưng nếu dùng thường xuyên, đặc biệt trong chế độ ăn vốn đã nhiều đường và chất béo, không phải là lựa chọn có lợi cho sức khỏe lâu dài.
Một trong những khuyến nghị quan trọng là tránh sử dụng lòng đỏ trứng sống. Thay vào đó, có thể dùng sữa đánh nóng hoặc các loại sữa thực vật như sữa yến mạch để tạo độ béo mịn và lớp bọt tương tự mà không cần trứng. Những lựa chọn này giúp giữ được cảm giác "kem mịn" đặc trưng nhưng không kèm theo nguy cơ nhiễm khuẩn.
Một phương án khác là sử dụng aquafaba - phần nước từ đậu gà đóng hộp - có thể đánh bông thành lớp bọt nhẹ, ổn định và dùng làm lớp phủ cho cà phê. Cách này tạo hiệu ứng bọt mịn giống như lòng trắng trứng nhưng không có nguy cơ liên quan đến Salmonella. Nếu vẫn muốn dùng trứng, lựa chọn trứng đã tiệt trùng có thể giúp giảm nguy cơ, tuy nhiên vẫn cần xử lý cẩn thận.
Ngoài ra, việc điều chỉnh nguyên liệu cũng giúp giảm bớt tác động tiêu cực về dinh dưỡng. Thay sữa đặc có đường bằng các loại sữa ít đường hoặc không đường có thể giảm lượng đường nạp vào mà vẫn giữ được kết cấu. Sử dụng sữa ít béo hoặc sữa thực vật như sữa hạnh nhân, sữa yến mạch cũng giúp hạn chế chất béo bão hòa so với công thức truyền thống.
Bên cạnh đó, kiểm soát khẩu phần hoặc chỉ xem cà phê trứng như một món để thưởng thức thỉnh thoảng thay vì thói quen hằng ngày cũng là cách giúp giảm ảnh hưởng đến sức khỏe tim mạch.
Theo Nghị định 168/2026, lao động nữ sinh con thứ hai, lao động nam khi vợ sinh con thứ hai đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về BHXH và được hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai quy định tại điểm a khoản 1 điều 14 luật Dân số thuộc các trường hợp sau: lao động nữ khi sinh con mà tại thời điểm sinh có một con đẻ còn sống; lao động nam khi vợ sinh con mà tại thời điểm sinh, người vợ có một con đẻ còn sống.
Thủ tục hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai thực hiện theo pháp luật về BHXH. Người kê khai chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của nội dung kê khai đề nghị hưởng chế độ quy định ở trên.
Nghị định 168/2026 quy định mức hỗ trợ tài chính tối thiểu là 2 triệu đồng/phụ nữ khi sinh con thuộc các trường hợp sau:
a. Phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người.
b. Phụ nữ ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế.
c. Phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi.
Phụ nữ khi sinh con đồng thời thuộc các trường hợp a, b, c ở trên thì được hưởng một mức hỗ trợ.
Về thủ tục thực hiện hỗ trợ kinh phí khi sinh con, Chủ tịch UBND xã, phường, đặc khu (gọi chung là UBND cấp xã) căn cứ thông tin từ hệ thống liên thông thủ tục đăng ký khai sinh, cơ sở dữ liệu quốc gia dân cư, ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) và các cơ sở dữ liệu có sẵn để quyết định hỗ trợ kinh phí và thực hiện chi trả cho phụ nữ sinh con theo quy định trên cùng với thời điểm đăng ký khai sinh.
Các quy định trên có hiệu lực từ ngày 1.7.2026. Riêng trường hợp quy định tại b, c có hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2027. Kinh phí hỗ trợ tài chính do ngân sách địa phương bảo đảm.
Nghị định 168/2026 cũng quy định cụ thể phạm vi, đối tượng khám sàng lọc một số bệnh bẩm sinh trước sinh và sơ sinh.
Theo đó, phụ nữ mang thai được khám và thực hiện các phương pháp sàng lọc trước sinh đủ 4 bệnh cơ bản: hội chứng Down, hội chứng Edwards, hội chứng Patau, bệnh Thalassemia (tan máu bẩm sinh).
Trẻ sơ sinh được khám và thực hiện các phương pháp sàng lọc sơ sinh 5 bệnh cơ bản: suy giáp trạng bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản thượng thận bẩm sinh, khiếm thính bẩm sinh, bất thường tim bẩm sinh nặng (gói dịch vụ sàng lọc sơ sinh).
Mức hỗ trợ khám sàng lọc các bệnh bẩm sinh trước sinh được thanh toán theo thực tế nhưng tối đa không vượt quá 900.000 đồng/trường hợp; và các bệnh bẩm sinh sơ sinh được thanh toán theo thực tế nhưng tối đa không vượt quá 600.000 đồng/trường hợp. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền phê duyệt giá gói dịch vụ thì thực hiện mức hỗ trợ tài chính theo giá gói dịch vụ được phê duyệt.
Mức hỗ trợ trên được chi trả trực tiếp cho cơ sở y tế thu thập mẫu và cơ sở y tế thực hiện các kỹ thuật sàng lọc.
Lộ trình ưu tiên: Từ ngày 1.7 - 31.12.2026, phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, bảo trợ xã hội; người dân tại thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo được sử dụng miễn phí gói dịch vụ khám sàng lọc và mức hỗ trợ khám sàng lọc từ nguồn ngân sách nhà nước.
Từ ngày 1.1.2027, tất cả phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh được hưởng hỗ trợ gói dịch vụ khám sàng lọc và mức hỗ trợ khám sàng lọc từ ngân sách nhà nước của Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026 - 2035, đến khi danh mục các bệnh khám sàng lọc trước sinh và sơ sinh được cấp có thẩm quyền quy định trong danh mục bệnh được hưởng BHYT theo lộ trình tăng mức đóng BHYT và khả năng cân đối quỹ BHYT.