Theo dữ liệu mới đây từ công ty nghiên cứu thị trường Euromonitor International, thị phần toàn cầu của Nike đã giảm 3 điểm phần trăm trong năm ngoái, về còn gần 23%, đánh dấu năm đi xuống thứ ba liên tiếp.
Ngược lại, thị phần của “kỳ phùng địch thủ” Adidas tăng lên 12,2% năm ngoái, từ mức 11,7% hồi 2024. Tuần trước, hãng đồ thể thao này tiếp tục giáng đòn mạnh trong cuộc đua đổi mới sản phẩm khi một vận động viên mang giày siêu nhẹ phá mốc marathon dưới 2 giờ.
Diễn biến cho thấy chiến lược phục hồi mang tên “Chiến thắng ngay” (Win Now) của CEO Elliott Hill vẫn chưa mang lại kết quả sau 18 tháng triển khai. Trên thị trường chứng khoán, giới đầu tư ngày càng hoài nghi, phản ánh qua tình hình bán khống cổ phiếu tăng vọt.
Theo dữ liệu từ S&P Global Market Intelligence đến ngày 1/5, khoảng 4,67% lượng cổ phiếu lưu hành của Nike được cho vay – một chỉ báo cho hoạt động bán khống. Con số này cao gấp hơn 11 lần so với mức 0,41% khi ông Elliott Hill tiếp quản ghế CEO Nike và triển khai nỗ lực vực dậy công ty. Tỷ lệ này cũng vượt xa các đối thủ nhỏ hơn, như 1,68% với cổ phiếu On Running hay 0,52% của Deckers Outdoor.
Khi được bổ nhiệm vào vị trí CEO hồi tháng 10/2024, ông Hill vạch ra kế hoạch “Win Now”, hứa khôi phục lại vị thế thống trị của Nike. Tính đến tháng 4, biên lợi nhuận hoạt động của hãng tiếp tục giảm, ông thừa nhận rằng quá trình đang mất nhiều thời gian hơn dự kiến.
Nhà đầu tư tỏ ra thất vọng. Hôm 5/5, cổ phiếu Nike đóng cửa ở mức 43,06 USD, thấp nhất kể từ năm 2014. Từ đầu năm đến nay, mã này giảm gần 32%, khiến vốn hóa Nike còn gần 64 tỷ USD. “Chúng tôi đã nói về những vấn đề này từ khi Hill nhậm chức, nên đáng lẽ phải có tiến triển rõ ràng hơn”, nhà phân tích David Swartz của Morningstar nhận định.
Người phát ngôn Nike cho biết CEO Elliott Hill chủ yếu dành những tháng đầu tiên để “chẩn bệnh” và chỉ bắt đầu triển khai chiến lược thể thao cốt lõi mới vào cuối năm ngoái. “Đó mới là mốc thời gian phù hợp để đánh giá tiến độ, không phải chỉ trong 18 tháng”, người này nói.
Để vực dậy Nike, ông Hill đã tái cấu trúc đội ngũ lãnh đạo và tinh gọn nhân sự. Hồi tháng 1, công ty công bố cắt giảm 775 việc làm, chủ yếu tại các trung tâm phân phối ở Mỹ, do đẩy nhanh việc ứng dụng tự động hóa. Tháng trước, thêm 1.400 nhân viên, tập trung ở bộ phận công nghệ, được cho thôi việc.
Giám đốc vận hành (COO) Venkatesh Alagirisamy nói đây là “quyết định rất khó khăn” nhưng thuộc một phần trong “Win Now”, nhằm tái cấu trúc đội ngũ công nghệ, đóng cửa các trung tâm công nghệ tại Trung Quốc, Atlanta (Mỹ) và Poland (Ba Lan).
“Đây là những bước đi có chủ đích nhằm xây dựng một tổ chức công nghệ tinh gọn, nhanh và kết nối hơn, đủ năng lực phục vụ người tiêu dùng, vận động viên và hoạt động kinh doanh”, COO Alagirisamy nhấn mạnh.
Ban lãnh đạo Nike đồng thời tăng chi tiêu tiếp thị và cam kết sử dụng các chương trình giảm giá có mục tiêu để xử lý tồn kho. Tuy nhiên, lợi nhuận phục hồi chậm. Theo công ty phân tích bán lẻ M Science, dù số lượng sản phẩm được giảm giá trên website Nike ít hơn so với cuối năm 2024, mức hạ trung bình lại sâu hơn, tiếp tục gây áp lực lên biên lợi nhuận. Khoảng 37% sản phẩm được giảm giá vào cuối tháng 2, thời điểm gần nhất có dữ liệu.
Theo số liệu của hãng, tồn kho chiếm hơn 16% doanh thu quý gần nhất, tức gần như không đổi so với thời điểm ông Hill tiếp quản. Nike cho biết đang loại bỏ hàng lỗi thời tại các nhà bán lẻ thông qua “kết hợp giảm giá và trả hàng”, điều có thể làm sai lệch dữ liệu về khuyến mãi.
Hàng tồn kho tích tụ khi nhu cầu với các dòng giày kinh điển của Nike gồm Dunk hay Air Jordan hạ nhiệt do chịu cạnh tranh gia tăng từ các thương hiệu mới như On và Deckers. Trong khi đó, công ty vẫn chậm đổi mới.
Năm ngoái, hãng ra mắt mẫu giày chạy Nike Vomero 18, đạt doanh thu 100 triệu USD trong ba tháng. Nhưng với một công ty từng nổi tiếng nhờ liên tục có sản phẩm “hit”, những thành công đơn lẻ chưa đủ để trấn an nhà đầu tư.
Trong nỗ lực gần nhất, hãng tung ra các phiên bản mới của giày chạy bộ Alphafly phủ carbon và mở rộng phạm vi phân phối Nike Mind, loại giày được quảng bá là có thể kích hoạt các vùng cảm giác của não bộ.
“Họ là tay mạnh nhất trên thị trường nên đáng ra họ có thể đánh bại các đối thủ khác một cách mạnh mẽ”, Sarah Henry, nhà quản lý danh mục đầu tư tại Logan Capital Management, bình luận. Bà cho hay đang trì hoãn mua cổ phiếu Nike.
Các CEO ngành tiêu dùng và bán lẻ gần đây chịu áp lực lớn với “thời gian thử thách” ngày càng ngắn. Với biên lợi nhuận hoạt động mỏng – dưới 6% trong quý vừa qua, những sai lầm về giá và tồn kho có thể nhanh chóng ảnh hưởng đến lợi nhuận, khiến lãnh đạo dễ chịu sức ép từ cổ đông.
Dù sốt ruột, nhiều nhà đầu tư vẫn ủng hộ CEO Elliott Hill. “Những gì ông ấy có thể kiểm soát đang đi đúng hướng”, ông Simon Jaeger, chuyên gia từ Flossbach von Storch, nhận xét. Theo ông, tình hình của Nike chậm tiến triển phần nào do yếu tố bên ngoài như thuế quan và chi phí năng lượng tăng.
Simon Jaeger chỉ ra điểm sáng của hãng đồ thể thao như tăng trưởng doanh số hai chữ số trong mảng chạy bộ và bóng đá tại Bắc Mỹ trong quý gần nhất. Nhưng ông lưu ý đà cải thiện cần mở rộng sang các mảng khác trong năm nay, nếu không giới đầu tư “sẽ không hài lòng”.
Trong văn bản thuyết minh dự thảo nghị quyết của Chính phủ đang được lấy ý kiến, Bộ Công Thương đã đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn nhằm đẩy nhanh lộ trình sử dụng xăng sinh học E10.
Về thị trường tiêu thụ, dự thảo cho biết việc tiêu thụ xăng E5 từng đạt khoảng 40% thị phần. Tuy nhiên, hiện nay giảm còn 15-20% do chênh lệch giá thấp và tâm lý người tiêu dùng. Theo đó, cơ quan soạn thảo cho rằng cần có chính sách phải đủ mạnh, giá phải có chênh lệch rõ và truyền thông rất quan trọng trong quá trình thực hiện.
Về phân tích khoa học, kỹ thuật, Bộ Công Thương cho biết ethanol E100 có hàm lượng oxy khoảng 34,7% và chỉ số octan cao, khoảng 108 RON, qua đó giúp quá trình cháy diễn ra hiệu quả hơn.
Đối với ảnh hưởng động cơ, cơ quan soạn thảo cũng cho biết các nghiên cứu đã chỉ ra xăng E10 tương thích với hơn 90% phương tiện đang lưu hành và không cần cải tiến động cơ khi sử dụng. Về môi trường, xăng E10 góp phần giảm phát thải khí CO từ 20-30% và giảm hydrocarbon (HC) từ 10-20% so với xăng khoáng thông thường.
Về thực trạng triển khai nhiên liệu sinh học, Bộ Công Thương cho biết nhu cầu ethanol (E100) để phối trộn xăng sinh học E5, E10 hiện ước khoảng 92.000-100.000 m3/tháng với mức tiêu thụ xăng trung bình khoảng 1 triệu m3/tháng (trong đó, khoảng 15% E5 RON 92 và 85% E10 RON 95).
Tuy nhiên, sản lượng trong nước từ tháng 4 chỉ đạt khoảng 25.000 m3/tháng. Nếu các nhà máy nâng công suất và một số dự án tái hoạt động, tổng công suất có thể tăng lên khoảng 44.000 m3/tháng, song vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu.
Việt Nam có 6 nhà máy E100, tổng công suất thiết kế khoảng 500.000-600.000m3/năm. Tuy nhiên công suất thực tế chỉ đạt 30-40%. Vì vậy, Việt Nam dự kiến vẫn phải nhập khẩu khoảng 75.000 m3 E100 mỗi tháng trong ít nhất một năm tới để đáp ứng phối trộn xăng E5, E10.
Đến cuối tháng 3, cả nước có 12/26 thương nhân đầu mối đầu tư trạm phối trộn xăng sinh học. Ngoài ra, 9 doanh nghiệp khác đang chờ cấp phép với tổng công suất hơn 260.000 m3/tháng. Nếu được phê duyệt, tổng công suất phối trộn xăng E10 toàn thị trường sẽ đạt hơn 1,15 triệu m3/tháng. Các thương nhân đầu mối còn lại vẫn chưa đầu tư hoặc đang hoàn thiện thủ tục cho trạm phối trộn.
Theo dự thảo, việc chuyển đổi từ xăng khoáng RON 95 sang xăng sinh học E10 RON 95 không cần đầu tư thêm bồn bể mới. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải cải tạo, nâng cấp hệ thống bồn bể để phù hợp với đặc tính của xăng E10.
Tại thời điểm chuyển đổi, doanh nghiệp có hai phương án xử lý lượng xăng khoáng còn tồn trong bồn bể. Phương án thứ nhất là hút hết lượng xăng còn lại và thau rửa toàn bộ hệ thống trước khi đưa E10 vào kinh doanh. Cách làm này đảm bảo chất lượng xăng E10 đúng quy chuẩn nhưng phát sinh thêm thời gian và chi phí.
Phương án thứ hai là bổ sung trực tiếp xăng E10 vào bồn vẫn còn tồn khoảng 20% xăng khoáng. Cách này giúp giảm thời gian và chi phí chuyển đổi, song trong giai đoạn đầu khoảng 15 ngày, hàm lượng ethanol trong xăng có thể chưa đạt đúng quy định theo quy chuẩn kỹ thuật.
Về tính khả thi, dự thảo cho biết hiện nay Việt Nam đã có nền tảng nhất định để triển khai xăng sinh học E10, bao gồm: Hệ thống phân phối xăng E5 đã được hình thành trên phạm vi toàn quốc và đã tiến hành pha chế, phối trộn và kinh doanh xăng E10 tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước từ đầu tháng 8/2025.
Một số thương nhân đầu mối đã đầu tư hệ thống phối trộn nhiên liệu sinh học; hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật cơ bản đã được ban hành; một số nhà máy ethanol nhiên liệu có khả năng khôi phục và mở rộng công suất; người tiêu dùng đã bước đầu tiếp cận với nhiên liệu sinh học.
Tuy nhiên, cơ quan soạn thảo cho rằng để triển khai đồng bộ xăng E10 cần tiếp tục tháo gỡ các khó khăn về hạ tầng, nguồn cung ethanol, cơ chế giá và chính sách hỗ trợ.
Giá vàng thế giới đang trải qua một trong những nhịp điều chỉnh mạnh nhất kể từ đầu năm. Trong phiên giao dịch ngày 27/5, vàng giảm khoảng 2%, lùi về quanh mốc 4.400 USD/ounce, mức thấp nhất gần 2 tháng sau giai đoạn tăng nóng vì căng thẳng địa chính trị và lo ngại lạm phát.
Điều đáng chú ý là đợt giảm lần này không đến từ việc nhu cầu trú ẩn biến mất hoàn toàn, mà đến từ một yếu tố quen thuộc từng bị thị trường “bỏ quên” trong nhiều tháng qua là chi phí cơ hội của việc nắm giữ vàng.
Theo Kitco và Trading Economics, khi giá dầu hạ nhiệt và kỳ vọng lãi suất thay đổi, giới đầu tư bắt đầu quay lại với trái phiếu và đồng USD thay vì tiếp tục đổ tiền vào vàng như giai đoạn đầu năm.
Xung đột không còn giúp vàng tăng như trước
Chỉ vài tháng trước, vàng từng vượt mốc 5.500 USD/ounce và liên tục lập đỉnh mới khi xung đột tại Trung Đông leo thang. Thị trường lúc đó tin rằng bất ổn kéo dài sẽ khiến các ngân hàng Trung ương sớm hạ lãi suất để hỗ trợ tăng trưởng, qua đó tạo môi trường thuận lợi cho vàng.
Tuy nhiên, diễn biến thực tế lại đi theo hướng ngược lại. Giá năng lượng tăng mạnh sau xung đột khiến lạm phát Mỹ nóng trở lại. Chỉ số CPI tháng 3 đã lên 3,3%, cao nhất kể từ tháng 5/2024, trong khi GDP quý I/2026 chỉ tăng 0,5%. Sự kết hợp giữa tăng trưởng chậm và lạm phát cao khiến thị trường bắt đầu lo ngại về kịch bản đình lạm.
Trong điều kiện thông thường, đây vốn là môi trường hỗ trợ vàng. Nhưng lần này, nỗi lo lạm phát lại kéo theo kỳ vọng lãi suất duy trì ở mức cao lâu hơn. Theo UBS, chính điều này đang trở thành lực cản lớn nhất với kim loại quý. Khi lãi suất thực tăng, nhà đầu tư có xu hướng dịch chuyển sang các tài sản sinh lợi suất tốt hơn như trái phiếu hoặc USD, thay vì nắm giữ vàng vốn không tạo ra dòng tiền.
Hai chuyên gia Dominic Schnider và Wayne Gordon của UBS nhận định thị trường đang “nhớ lại khái niệm chi phí cơ hội”, khi việc nắm giữ vàng trở nên kém hấp dẫn hơn trong môi trường lãi suất cao kéo dài.
Dữ liệu từ thị trường cũng cho thấy nhu cầu với ETF vàng và hợp đồng tương lai đã suy yếu đáng kể so với đầu năm. Dòng tiền vào vàng hiện chưa đủ mạnh để tái lập đà tăng từng diễn ra hồi quý I.
UBS hạ dự báo nhưng chưa từ bỏ vàng
Trong báo cáo cập nhật mới nhất, UBS đã điều chỉnh giảm mục tiêu giá vàng cuối năm 2026 từ 5.900 USD xuống còn 5.500 USD/ounce. Ngân hàng này đồng thời hạ mục tiêu ngắn hạn xuống 5.200 USD/ounce cho giai đoạn tháng 6, thấp hơn đáng kể so với các dự báo trước đó.
Theo UBS, 3 yếu tố đang gây áp lực lớn lên vàng gồm đồng USD mạnh lên, giá dầu biến động và lợi suất thực tăng cao khi kỳ vọng lãi suất thay đổi. Dù vậy, UBS chưa cho rằng xu hướng tăng dài hạn của vàng đã kết thúc. Ngân hàng Thụy Sĩ này vẫn giữ quan điểm rằng đợt giảm hiện tại chủ yếu mang tính điều chỉnh ngắn hạn thay vì đảo chiều cấu trúc.
Trong kịch bản căng thẳng địa chính trị leo thang mạnh hơn, giá vàng vẫn có thể tăng lên 7.200 USD/ounce. Ngược lại, nếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục cứng rắn với lãi suất, vàng có thể giảm sâu về 4.600 USD/ounce.
Điểm đáng chú ý là UBS hiện không còn nhìn vàng đơn thuần như tài sản trú ẩn giữa xung đột. Thay vào đó, tổ chức này cho rằng động lực dài hạn của vàng nằm ở những yếu tố sâu hơn như nợ công tăng cao, xu hướng đa dạng hóa dự trữ khỏi USD và sự suy giảm niềm tin vào tiền pháp định.
Theo báo cáo, các ngân hàng Trung ương toàn cầu vẫn được dự báo mua khoảng 950 tấn vàng trong năm 2026. Ba Lan mới đây cũng nâng mục tiêu dự trữ vàng từ 550 tấn lên 700 tấn.
Tại châu Á, nhu cầu vàng vật chất vẫn duy trì ổn định bất chấp giá ở vùng cao. UBS đánh giá đây là tín hiệu cho thấy lực cầu nền tảng của thị trường chưa biến mất.
Phố Wall chia rẽ về tương lai vàng
Không chỉ UBS, hàng loạt định chế tài chính lớn cũng đang cập nhật lại kịch bản cho vàng và mức chênh lệch giữa các dự báo hiện khá rộng.
Goldman Sachs nâng mục tiêu cuối năm lên 5.400 USD/ounce. Deutsche Bank dự báo 6.000 USD/ounce, trong khi ANZ tăng dự báo quý II lên 5.800 USD/ounce. Lạc quan nhất là JPMorgan với kịch bản vàng có thể lên 8.000-8.500 USD/ounce nếu dòng tiền đầu tư tư nhân tiếp tục đổ mạnh vào kim loại quý.
Sự khác biệt này phản ánh một thực tế rằng thị trường hiện chưa có câu trả lời rõ ràng cho bài toán lãi suất và lạm phát. Nếu Fed phát tín hiệu dừng tăng hoặc bắt đầu cắt giảm lãi suất, lợi suất thực có thể hạ nhiệt và vàng sẽ lấy lại động lực tăng giá. Ngược lại, nếu lạm phát tiếp tục dai dẳng và Fed buộc phải giữ lập trường “diều hâu”, áp lực với vàng sẽ còn kéo dài.
Trong ngắn hạn, giới giao dịch vẫn theo dõi sát diễn biến tại Trung Đông và các tín hiệu mới từ Fed để đoán hướng đi tiếp theo của lãi suất và dòng tiền trú ẩn. Sau giai đoạn tăng nóng đầu năm, thị trường vàng đang bước vào giai đoạn nhạy cảm hơn khi nhà đầu tư không còn chỉ nhìn vào yếu tố địa chính trị mà bắt đầu cân nhắc mạnh tới lợi suất và sức mạnh của đồng USD. Theo Trading Economics, giá vàng hiện đã thấp hơn gần 15% so với thời điểm xung đột bùng phát đầu năm.
Bộ Tài chính mới gửi Bộ Tư pháp thẩm định dự thảo về gia hạn hiệu lực Nghị định 72 sửa đổi thuế suất nhập khẩu ưu đãi (MFN) với một số mặt hàng xăng dầu và nguyên liệu đầu vào. MFN là mức thuế suất chỉ áp dụng cho các nước trong Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Từ 9/3, thuế nhập khẩu với nhiều loại xăng dầu, nguyên liệu pha chế (naphtha, reformate, condensate...) giảm từ 7-10% xuống còn 0%. Nhưng quy định này sẽ hết hiệu lực vào ngày 30/4.
Theo Bộ Tài chính, hiện nay doanh nghiệp phải đàm phán các lô hàng cho tháng 5 và 6. "Điều này gây khó khăn cho doanh nghiệp khi xây dựng kế hoạch nhập khẩu, ký hợp đồng, ổn định sản xuất trong bối cảnh xung đột Trung Đông chưa thể xác định thời điểm kết thúc", cơ quan soạn thảo cho hay.
Do đó, Bộ đề xuất kéo dài chính sách giảm thuế đến hết ngày 30/6. Cơ quan soạn thảo cũng kiến nghị mở rộng danh mục hưởng thuế suất 0% (thay vì 5% như hiện tại) với 3 mã hàng nguyên liệu để phục vụ sản xuất tại nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn.
Cơ quan soạn thảo cho biết khi thuế nhập khẩu ưu đãi với xăng dầu giảm về 0% từ đầu tháng 3, doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận nguồn hàng thay thế khi chuỗi cung ứng tại những thị trường truyền thống như Hàn Quốc và ASEAN đứt gãy vì xung đột quân sự. Nguồn cung cho nhu cầu nội địa nhờ đó được đảm bảo, góp phần bình ổn thị trường xăng dầu và kinh tế vĩ mô.
Tuy nhiên, xung đột quân sự tại Trung Đông còn diễn biến phức tạp, khó lường. Theo nhận định của Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và Tổng công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR), ngay cả khi xung đột quân sự chấm dứt, các cơ sở hạ tầng dầu khí ở Trung Đông cần ít nhất 5-7 tuần để phục hồi công suất. Trong trường hợp ngừng áp dụng mức thuế MFN 0% với các mặt hàng xăng dầu và nguyên liệu đầu vào từ cuối tháng 4, tình trạng khan hiếm nguồn cung có thể trở lại.
Bộ ước tính việc gia hạn chính sách thuế thêm hai tháng sẽ giảm thu ngân sách khoảng 997 tỷ đồng, nâng tổng số giảm thu từ khi áp dụng lên 2.021 tỷ.
Ngoài thuế ưu đãi nhập khẩu, các loại thuế với xăng dầu như bảo vệ môi trường, giá trị gia tăng (VAT) hay tiêu thụ đặc biệt đều đã được giảm về 0% đến hết tháng 6, theo Nghị quyết của Quốc hội.
Hiện mỗi lít xăng RON 95-III (loại phổ biến trên thị trường) là 23.760 đồng, dầu diesel 31.040 đồng. Mức này tăng lần lượt gần 18% và 61% so với cuối tháng 2 -thời điểm xung đột Trung Đông bùng phát.
Theo số liệu của Cục Hải quan (Bộ Tài chính), quý đầu năm, Việt Nam chi gần 3 tỷ USD nhập khẩu xăng dầu các loại, tăng 78% so với cùng kỳ năm ngoái.