Theo Thủ tướng Lê Minh Hưng, trong bối cảnh thế giới khó khăn và nhiều biến động, quý 1 năm nay, kinh tế vĩ mô cơ bản được ổn định, tăng trưởng GDP ước đạt 7,83%; có 4 địa phương tăng trưởng trên 10%; chỉ số giá tiêu dùng CPI bình quân tăng 3,51%. Thu ngân sách nhà nước 3 tháng ước đạt 829.000 tỉ đồng, tăng 11,4%; thu hút vốn FDI tăng mạnh; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt gần 249,5 tỉ USD, tăng 23%.
Dù vậy, Thủ tướng đánh giá “kinh tế vĩ mô chịu nhiều tác động bất lợi từ bên ngoài, mục tiêu tăng trưởng 2 con số là thách thức rất lớn”. Hoạt động sản xuất, kinh doanh một số lĩnh vực gặp nhiều khó khăn. Các động lực tăng trưởng truyền thống phát huy hiệu quả dưới mức tiềm năng, sức mua trong nước thấp, xuất khẩu còn phụ thuộc nhiều vào khu vực FDI. Thị trường bất động sản phục hồi chậm, tiềm ẩn rủi ro. Một số thủ tục hành chính còn rườm rà, dịch vụ công trực tuyến chưa thực sự thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp…
Nhấn mạnh mục tiêu “tăng trưởng cao, bền vững thực chất” theo chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Thủ tướng cho biết đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, xuyên suốt. Theo đó, thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển. Kiên quyết không để xảy ra mất ổn định vĩ mô, khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính ngân sách nhà nước, có giải pháp dự phòng để chủ động ứng phó biến động.
Bên cạnh đó, tập trung bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cả trước mắt và lâu dài, nhất là bảo đảm nguồn cung dầu thô, khí đốt. Triệt để tiết kiệm điện, năng lượng, đảm bảo không thiếu điện trong bất cứ tình huống nào. Bảo đảm ổn định và lành mạnh hóa các thị trường trọng yếu, nhất là thị trường bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp, tiền tệ. Thủ tướng cho biết đã yêu cầu hệ thống ngân hàng ổn định mặt bằng lãi suất, cả lãi suất huy động và cho vay.
Đặc biệt, Thủ tướng nhấn mạnh giải pháp huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển. Chính phủ coi đây là giải pháp đặc biệt quan trọng để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Thủ tướng cũng thông tin nhiều giải pháp như tập trung hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, quyết liệt cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”. Hoàn thành rà soát, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất trong quý 2/2026; sửa đổi luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn trong năm 2026.
Nhấn mạnh yêu cầu hoàn thành cắt giảm 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính, Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Tư pháp báo cáo và trong tháng 4 sẽ cắt giảm triệt để các thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh không cần thiết. Về hạ tầng, đẩy mạnh các tuyến đường sắt đô thị Hà Nội, TP.HCM, tuyến đường sắt kết nối với Trung Quốc, một số tuyến trên đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam. Bảo đảm tiến độ xây dựng sân bay Gia Bình, mở rộng sân bay Phú Quốc, Chu Lai, Cà Mau. Xử lý cơ bản tình trạng ô nhiễm, không khí, ngập úng tại một số TP lớn như Hà Nội, TP.HCM. Phấn đấu hoàn thành trên 100.000 căn nhà ở xã hội trong năm 2026…
Góp ý thảo luận báo cáo KT-XH tại tổ, đại biểu (ĐB) Đỗ Đức Hồng Hà, Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội (đoàn Hà Nội), đề nghị Chính phủ cần có giải trình làm rõ và có giải pháp căn cơ đối với một số vấn đề cốt lõi. Đầu tiên là nghịch lý giữa tỷ lệ giải ngân đầu tư công cao nhưng lãng phí, chậm trễ trong triển khai và xử lý tài sản công. Ông dẫn số liệu báo cáo cho thấy năm 2025 ghi nhận mức giải ngân đầu tư công kỷ lục, đạt 96,7% kế hoạch, nhiều địa phương có tỷ lệ giải ngân vượt mức rất cao. Tuy nhiên, ở phần hạn chế, Chính phủ lại thừa nhận vẫn có những dự án chậm triển khai, kéo dài thủ tục, dẫn đến đội vốn và nguy cơ thất thoát.
“Có hay không tình trạng “giải ngân trên giấy” hoặc giải ngân nhanh nhưng chất lượng công trình không đảm bảo, gây lãng phí nguồn lực dài hạn?”, ông Hà nêu vấn đề và đề nghị cần công khai danh sách các bộ, ngành, địa phương chậm trễ trong sắp xếp, xử lý tài sản công dôi dư. Ông đề nghị thiết lập cơ chế hậu kiểm chặt chẽ đối với hơn 5.200 dự án đã được tháo gỡ để bảo đảm phát huy hiệu quả kinh tế thực chất.
Nêu vấn đề kỷ cương công vụ, theo ĐB đoàn Hà Nội, dù bộ máy đã được tinh gọn, giúp tiết kiệm đáng kể chi thường xuyên nhưng vẫn còn tình trạng cán bộ né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. “Lãng phí thời gian và cơ hội do cán bộ đình trệ công việc là loại lãng phí nguy hiểm nhất trong các loại lãng phí”, ông nhấn mạnh và đề nghị cần có giải pháp đột phá trong năm 2026 để lượng hóa hành vi né tránh trách nhiệm thành hành vi gây lãng phí, có thể xem xét xử lý bằng chế tài mạnh, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tương tự, ĐB Nguyễn Văn Thân (đoàn TP.HCM) cảnh báo về sự lãng phí từ khoảng 3.000 dự án đang ách tắc (tổng vốn hơn 2 triệu tỉ đồng) và đề nghị phải tháo gỡ ngay những gì không vướng pháp lý nghiêm trọng. Cạnh đó, ông Thân cho rằng để mục tiêu GDP năm 2026 và các năm tiếp theo tăng trên 10%, đòi hỏi những lộ trình KPI và quyết tâm chính trị rất cụ thể. Dưới góc độ doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh, ông đề xuất dành riêng 30% gói thầu cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa làm trực tiếp với Nhà nước thay vì phải làm thầu phụ cho các tập đoàn lớn. Về thuế, áp dụng “thuế ấn định” (nộp môn bài) cho hộ kinh doanh có doanh thu từ 500 triệu đến 5 tỉ đồng/năm. Ông khẳng định giải pháp này vừa giảm phiền hà thủ tục, vừa có thể tạo ra nguồn thu minh bạch lên tới 50.000 – 60.000 tỉ đồng mỗi năm.
ĐB Nguyễn Ngọc Sơn (đoàn Hải Phòng) nhận định các mục tiêu KT-XH đặt ra là rất cao, trong khi thời gian còn lại rất ngắn. Chưa kể, yêu cầu tăng trưởng 2 con số gắn với bền vững, tăng trưởng xanh và nâng cao đời sống của người dân là mục tiêu kép, sẽ rất khó khăn. Song ông cũng đánh giá có những thuận lợi nhất định, khi T.Ư và Bộ Chính trị đã ban hành hàng loạt nghị quyết nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế.
Quan tâm về các giải pháp đảm bảo năng lượng, ĐB đoàn Hải Phòng đề xuất cần xem đảm bảo điện cho sản xuất là ưu tiên số một; tăng trưởng 2 con số mà thiếu điện cục bộ như mùa mưa vừa qua thì sẽ gây ảnh hưởng dây chuyền đến mọi lĩnh vực, từ công nghiệp, logistics cho đến công nghệ… Theo đó, cần chuyển tư duy từ “ngành điện tự cân đối” sang “an ninh năng lượng là hạ tầng của tăng trưởng”; đẩy mạnh các nguồn điện chạy nền và nguồn linh hoạt (như LNG hoặc pin lưu trữ quy mô lớn), thay vì chỉ dựa vào điện mặt trời và điện gió.
Cùng mối quan tâm, ĐB Phạm Thúy Chinh (đoàn Hải Phòng) đề nghị Chính phủ quan tâm hơn nữa đối với lĩnh vực dự trữ quốc gia. Theo bà Chinh, dự trữ quốc gia hiện đều chưa đạt cả về nguồn lực và tổng mức dự trữ. Đây là vấn đề cần đặt ra, nhất là với dự trữ xăng dầu. VN chỉ đang dự trữ các sản phẩm xăng dầu mà chưa dự trữ dầu thô, khi xử lý các tình huống cấp bách sẽ rất khó khăn. Nữ ĐB cho hay khi xây dựng luật Dự trữ, bà có đi khảo sát tại các địa phương liên quan và thấy còn rất nhiều vấn đề, các kho và công nghệ bảo quản đã lạc hậu, hầu hết được đầu tư từ những năm 60, 70 của thế kỷ trước. Bà đề nghị cần quan tâm đầu tư, hiện đại hóa công nghệ bảo quản cũng như xây dựng hệ thống kho bãi, trong đó có xăng dầu.
Ngày 16/5, Phòng CSGT Khánh Hòa lập biên bản xử phạt hành chính tài xế 51 tuổi, ngụ Đồng Nai, về hành vi Điều khiển xe đầu kéo làm hư hỏng thiết bị an toàn giao thông đường sắt.
Ba ngày trước, người này lái xe đầu kéo biển số TP HCM trên tuyến đường vào mỏ đá ở xã Công Hải. Khi đến giao cắt với đường sắt, dù tín hiệu đèn đỏ đã bật, tài xế vẫn cho xe băng qua, va quệt làm hư hỏng cần chắn tự động rồi bỏ đi.
Làm việc với cảnh sát, tài xế thừa nhận vi phạm, viết tường trình và cam kết bồi thường, sửa chữa thiết bị hư hỏng.
Theo quy định, tài xế có thể bị phạt 18-20 triệu đồng vì hành vi làm hỏng công trình, thiết bị bảo đảm an toàn giao thông đường sắt.
Cảnh sát đánh giá vụ việc tiềm ẩn nguy cơ nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn chạy tàu và tính mạng người tham gia giao thông.
Bộ Xây dựng vừa góp ý chi tiết đối với đồ án Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, trong đó cảnh báo về quá tải hạ tầng và yêu cầu làm rõ tính khả thi của mục tiêu dân số, giao thông công cộng và hạ tầng kỹ thuật.
Trong đồ án quy hoạch, Hà Nội đề xuất xây dựng sân bay thứ hai ở phía Nam (vùng Phú Xuyên, Ứng Hòa hoặc giáp Ninh Bình), quy mô 4E, công suất 30-50 triệu khách, một triệu tấn hàng hóa mỗi năm, diện tích khoảng 1.500 ha.
Tuy nhiên, Bộ Xây dựng cho biết khu vực phía Tây Nam gặp nhiều hạn chế về địa hình và vùng trời, gây khó khăn cho thiết kế đường bay. Việc xác định vị trí và quy mô sân bay thứ hai cần tiếp tục nghiên cứu sau năm 2030. Thời điểm này công nghệ điều hành bay, dẫn đường hàng không phát triển và có thể đáp ứng được tính khả thi của quy hoạch, khai thác hiệu quả giữa các cảng hàng không.
Mặt khác, Quốc hội đã thông qua chủ trương đầu tư sân bay quốc tế Gia Bình với quy mô 50 triệu hành khách/năm đến 2050, sẽ góp phần giảm tải cho Nội Bài. Vì thế quy hoạch sân bay thứ hai của Hà Nội cần cập nhật lại theo định hướng mới, trong đó xem xét cả phương án sân bay phía Đông Nam hoặc phía Nam, các chỉ tiêu quy hoạch dự kiến của sân bay sẽ được tiếp tục nghiên cứu, xác định đến năm 2030, chưa nên chốt vị trí.
Trước đó ngày 23/3, Văn phòng Chính phủ ban hành thông báo kết luận của Thường trực Chính phủ về quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội. Thường trực Chính phủ yêu cầu Hà Nội đánh giá đầy đủ tiềm năng, ưu thế cạnh tranh của phương án xây dựng sân bay thứ hai so với các cảng hàng không lân cận trong quá trình lập quy hoạch.
Đánh giá hiện trạng còn sơ lược, chưa đủ định hướng dài hạn
Ngoài nội dung sân bay thứ hai, Bộ Xây dựng yêu cầu Hà Nội phân tích sâu hơn các vấn đề đang tồn tại như làm rõ mật độ giao thông, tỷ lệ đất giao thông, mức độ quá tải nội đô, đánh giá kết nối giữa trung tâm và đô thị vệ tinh, hiệu quả các tuyến vành đai, chỉ ra nguyên nhân ùn tắc giao thông, thay vì chỉ mô tả hiện trạng.
Đối với hệ thống thoát nước, Hà Nội cần xác định khu vực ngập úng thường xuyên, phân tích các nguyên nhân (quá tải, thiếu hồ điều hòa, đô thị hóa nhanh...), lượng hóa mức độ quá tải bằng so sánh giữa thiết kế và thực tế.
Đối với rác thải, Bộ cho rằng nhận định "công nghệ xử lý rác lạc hậu, quá tải" là chưa hoàn toàn chính xác, vì Hà Nội đã có các nhà máy điện rác hiện đại. Tuy nhiên, cần đánh giá hiệu quả vận hành thực tế và xác định lượng rác phát sinh để quy hoạch phù hợp.
Thực tế Hà Nội đang đối mặt với các vấn đề hạ tầng đô thị như nước sạch phân bố không đồng đều. Khu vực nội đô cơ bản được cấp nước máy ổn định, nhưng ngoại thành vẫn phụ thuộc nước giếng khoan. Thành phố phụ thuộc nước ngầm gây suy giảm mực nước, nguy cơ sụt lún nền đất, tỷ lệ thất thoát nước còn cao.
Tỷ lệ xử lý nước thải còn thấp, mặc dù đã có các nhà máy lớn nhưng tỷ lệ nước thải đô thị được xử lý chỉ khoảng 30-40%, phần lớn nước thải sinh hoạt vẫn xả thẳng ra sông, hồ. Nhiều tuyến phố ở nội thành vẫn ngập khi mưa lớn do hệ thống thoát nước cũ, ao hồ tự nhiên bị san lấp. Rác thải rắn phụ thuộc chôn lấp chiếm khoảng 85-90%, rác thải sinh hoạt vẫn xử lý bằng chôn lấp.
Cùng với đó, tình trạng ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Người dân sử dụng phương tiện cá nhân phổ biến, tỷ lệ phương tiện công cộng mới đạt khoảng 19%.
Nhiều chỉ tiêu cần đánh giá lại tính khả thi
Bộ Xây dựng đề nghị Hà Nội bổ sung đầy đủ chỉ tiêu hạ tầng kỹ thuật như cấp nước, xử lý nước thải, rác thải, năng lượng... theo các giai đoạn 2030, 2045 và 2065. Đây được coi là cơ sở quan trọng để dự báo và định hướng phát triển hệ thống hạ tầng phù hợp với quy mô đô thị trong tương lai.
Một vấn đề khác là chỉ tiêu vận tải hành khách công cộng. Hiện tỷ lệ này của Hà Nội mới đạt khoảng 19%, nhưng quy hoạch đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt 50-55% ở khu vực trung tâm và 40% ở đô thị vệ tinh. Bộ Xây dựng đề nghị Hà Nội rà soát kỹ tính khả thi, bởi đây là mức tăng lớn trong thời gian ngắn.
Bộ Xây dựng cũng bày tỏ lo ngại về kịch bản tăng dân số. Theo đồ án quy hoạch, dân số Hà Nội dự kiến tăng từ 9,9 triệu vào năm 2025, lên 11,5-12 triệu năm 2030, tức tăng 15-20% chỉ trong 5 năm. Trong dài hạn, Hà Nội có thể đạt 17-19 triệu vào năm 2065, trong khi giai đoạn 2045-2055 được dự báo là thời điểm Việt Nam đạt đỉnh dân số.
Cơ quan này đề nghị nghiên cứu bổ sung các nội dung định hướng cơ bản cho tầm nhìn 100 năm (sau năm 2065), trong đó lưu ý sau năm 2065 xu hướng dân số giảm theo quy luật, sẽ có nguy cơ dư thừa không gian và hạ tầng, gia tăng áp lực tài chính và vấn đề an sinh xã hội. Hà Nội cần định hướng mô hình phát triển đô thị ổn định theo hướng tinh gọn, nâng cao chất lượng sống.
Một trong những tồn tại lớn là tình trạng khu đô thị phát triển nhưng hạ tầng giao thông không theo kịp, gây ùn tắc nghiêm trọng. Bộ Xây dựng nhấn mạnh nguyên tắc: hạ tầng giao thông ngoài dự án phải đi trước một bước, đảm bảo kết nối đồng bộ trước khi đưa dân vào ở.
Đồng thời, Hà Nội cần có chiến lược rõ ràng để cải tạo hơn 1.500 khu nhà ở cũ, đặc biệt là các khu tập thể xuống cấp. Đây không chỉ là vấn đề an toàn mà còn liên quan đến diện mạo đô thị và chất lượng sống.
Về giải pháp thực hiện, Bộ Xây dựng đề xuất chính quyền thành phố xác định dự án trọng tâm theo từng giai đoạn; ưu tiên các dự án đột phá như đường sắt đô thị, hạ tầng kết nối và lập kế hoạch phân kỳ đầu tư cụ thể.
Theo Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm, Cảng hàng không thứ 2 Vùng Thủ đô đóng vai trò đầu mối giao thông đa phương thức và động lực phát triển kinh tế chiến lược của Hà Nội trong nhiều thập niên tới.
Sân bay dự kiến đặt tại khu vực xã Ứng Hòa và Chuyên Mỹ ở phía Nam Hà Nội, quy mô khoảng 1.500 ha, đạt tiêu chuẩn quốc tế với công suất thiết kế 30-50 triệu hành khách mỗi năm.
Hà Nội định hướng phát triển khu vực này theo mô hình "aerotropolis" - đô thị sân bay - không chỉ phục vụ vận tải hàng không mà còn tích hợp đồng bộ dịch vụ khách sạn, trung tâm thương mại outlet, khu thương mại tự do, logistics, công nghiệp công nghệ cao và các dịch vụ quốc tế.
Theo quy hoạch, sân bay thứ 2 sẽ trở thành trung tâm trung chuyển hàng hóa quốc tế, kết nối liên hoàn giữa hàng không, đường bộ, đường sắt tốc độ cao, đường sắt Bắc - Nam và vận tải đường thủy sông Hồng. Hành lang phía Nam của Hà Nội được kỳ vọng trở thành hạt nhân logistics của toàn vùng với hệ thống kho vận, logistics lạnh, cảng cạn ICD và các khu công nghiệp công nghệ cao.
Khu thương mại tự do dự kiến hình thành cùng sân bay sẽ hoạt động như đầu mối giao thương quốc tế quy mô lớn, tích hợp trung tâm logistics, trung tâm thương mại miễn thuế và outlet nhằm thúc đẩy xuất nhập khẩu, dịch vụ và đầu tư quốc tế.
Hà Nội đồng thời định hướng thu hút có chọn lọc các ngành công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn và thân thiện môi trường như điện tử, chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số và logistics.
Quy hoạch cũng đặt mục tiêu hình thành cực phát triển công nghiệp - công nghệ cao phía Nam tại khu vực Phú Xuyên - Ứng Hòa. Trong đó, riêng khu vực Ứng Hòa và Chuyên Mỹ được nghiên cứu phát triển tổ hợp công nghiệp đường sắt khoảng 250 ha phục vụ sản xuất, lắp ráp đầu máy toa xe.
Ngoài vai trò logistics và công nghiệp, sân bay thứ 2 còn được xác định là trạm trung chuyển du lịch quốc tế kết nối chuỗi di sản tâm linh Hương Sơn - Tam Chúc - Bái Đính - Tràng An. Hà Nội kỳ vọng khu vực này trở thành "cửa ngõ du lịch phía Nam" của Thủ đô.
Khu vực sân bay cũng được quy hoạch gắn với tổ hợp y tế chất lượng cao phía Nam tại Phú Xuyên quy mô khoảng 100-160 ha, đóng vai trò trung tâm y tế cấp vùng.
Hà Nội định hướng lấy đường sắt làm trục kết nối chủ đạo giữa nội đô và sân bay thứ 2. Tuyến đường sắt đô thị số 1A sẽ nối trực tiếp ga đầu mối Ngọc Hồi với sân bay và được xếp vào nhóm ưu tiên triển khai giai đoạn 2026-2030.
Ga Ngọc Hồi được quy hoạch thành đầu mối trung chuyển lớn nhất phía Nam Hà Nội, tích hợp nhà ga, depot và trung tâm bảo dưỡng, kết nối mạng lưới đường sắt đô thị với sân bay. Khu vực này cũng liên thông với tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và các vành đai đường sắt liên vùng nhằm giảm áp lực giao thông xuyên tâm qua nội đô.
Kết nối đường bộ sẽ dựa trên hành lang phía Nam với các trục huyết mạch như Quốc lộ 1A và cao tốc Bắc - Nam. Đồng thời, hệ thống vận tải đường thủy trên sông Hồng cũng được khai thác để phục vụ logistics hàng hóa quốc tế.
Theo quy hoạch, nghiên cứu và đầu tư xây dựng Cảng hàng không thứ 2 Vùng Thủ đô cùng khu thương mại tự do được xếp vào nhóm dự án ưu tiên triển khai trong giai đoạn bứt phá 2031-2045.
Hà Nội định hướng huy động đa dạng nguồn lực cho dự án, gồm hợp tác công tư PPP, nhà đầu tư chiến lược trong và ngoài nước, phát hành trái phiếu địa phương, trái phiếu công trình và khai thác nguồn lực đất đai.
Hiện Hà Nội có Cảng hàng không quốc tế Nội Bài với công suất khoảng 25 triệu hành khách mỗi năm và có thể mở rộng. Ngoài ra, sân bay Gia Bình tại tỉnh Bắc Ninh đang được xây dựng, dự kiến đạt công suất 30 triệu hành khách và 1,6 triệu tấn hàng hóa mỗi năm vào 2030, tăng lên 50 triệu hành khách vào 2050.
Với quy mô khoảng 1.500 ha và công suất tới 50 triệu hành khách mỗi năm, sân bay thứ hai của Hà Nội được xem là một trong những siêu dự án hạ tầng lớn nhất phía Nam Hà Nội trong thế kỷ tới.