Chiều 24.4, ban giám hiệu Trường tiểu học Lương Thế Vinh phường Bến Cát (TP.HCM) đã có quyết định điều chuyển công tác, làm công việc không tiếp xúc với học sinh trong thời gian 1 năm, đối với giáo viên L.T.M khi cô này phạt học sinh lớp 3 tự đâm kim tiêm vào tay do các lỗi như không đeo khăn quàng đỏ, nói chuyện trong lớp…
Trước đó, sự việc vỡ lở khi một phụ huynh trường này thấy con về nhà mệt mỏi, gặng hỏi mãi mới biết. Ngày 13.4, lãnh đạo Trường tiểu học Lương Thế Vinh ghi nhận ít nhất 5 học sinh đã từng tự chích vào tay mình theo cách ấy.
Là người làm giáo dục gần 20 năm, làm tham vấn tâm lý vài năm gần đây, tôi đã có dịp trò chuyện với hàng ngàn thầy cô, cha mẹ đang vật lộn với cảm giác bất lực trước học sinh, trước con cái. Tôi hiểu áp lực của việc quản lý một lớp học 40-50 em hiếu động, hiểu nỗi sợ bị đánh giá khi lớp thiếu kỷ luật. Tôi không viết bài này để thêm một tiếng nói phẫn nộ. Tôi viết vì đằng sau sự việc “rợn người” nói trên, có một quan niệm đang âm thầm vận hành trong tâm thức nhiều người làm các công việc chạm đến con người như giáo dục.
Triết gia Martin Buber, trong tác phẩm Ich und Du (1923), phân biệt hai cách con người có thể tương tác trong thế giới: “Tôi-Người” và “Tôi-Vật”. Trong quan hệ Tôi-Người, tôi đối xử với bạn như một chủ thể trọn vẹn, không thể bị rút gọn thành chức năng hay mục đích sử dụng. Trong quan hệ Tôi-Vật, bạn là một đối tượng có thể đo lường, phân loại, chỉnh sửa.
Buber không cho rằng quan hệ Tôi-Vật là xấu. Khi tôi vận hành một chiếc máy, quan hệ ấy là hợp lẽ. Điều ông cảnh báo là khi cách nhìn Tôi-Vật len lỏi vào những mối quan hệ lẽ ra phải là Tôi-Người, như giữa cha mẹ và con, giữa thầy và trò, thì những hành xử quan tâm và nhân bản bị đánh mất, và bạo lực trở thành một lựa chọn thuận tiện. Trong câu chuyện cô giáo phạt học trò bằng kim tiêm, nếu cô giáo đã xem học sinh là đối tượng, thì mọi đau đớn xảy ra với đối tượng ấy đều có thể quy về “lỗi của đối tượng”. Trong mắt của cô giáo ấy, đứa trẻ đã không còn là một con người đang loay hoay lớn lên, mà đã trở thành một đối tượng chờ được răn đe.
Tôi không viết bài này để buộc tội một cô giáo vừa vào nghề ba năm. Điều làm tôi đau lòng không phải một hành vi cá biệt như vậy, mà sâu hơn, tôi có cảm giác rằng những hành vi ấy nảy sinh từ một “mảnh đất tâm thức” đã tồn tại từ lâu.
Trong tâm thức một bộ phận không nhỏ thầy cô lẫn cha mẹ Việt Nam, đứa trẻ vẫn được hình dung như đất sét – hỗn độn chưa thành hình, chờ bàn tay người lớn nhào nặn thành hình dạng họ mong muốn. Tâm thức ấy nếu không được quân bình lại bằng tinh thần tôn trọng phẩm giá con người – dù con người ấy nhỏ bé đến đâu, nó có thể trở thành “giấy phép” để đàn áp một cách thô bạo bất cứ thứ gì không vừa khuôn.
Quan niệm “học sinh/trẻ em là đối tượng để uốn nắn” tồn tại vì nó tiện lợi. Khi tôi xem bạn là con người trọn vẹn, tôi phải dừng lại, phải hỏi, phải lắng nghe, phải thừa nhận giới hạn của bạn và của chính mình. Nhưng khi tôi xem bạn là đối tượng cần định hình, tôi chỉ việc thẳng tay áp dụng kỹ thuật và kỷ luật. Một lớp học 40 em mà xem mỗi em là một con người độc đáo thì có vẻ mệt quá, trong khi một lớp học 40 đối tượng cần quản lý thì cứ “theo đúng công thức” là được.
Đó là lý do vì sao khẩu hiệu “lấy học sinh làm trung tâm” được treo ở nhiều trường, nhưng kim tiêm lại vẫn xuất hiện trên bàn một giáo viên. Khẩu hiệu là ngôn từ bề mặt, trong khi tâm thái và quan niệm là nền tảng sâu bên trong. Khi nền tảng chưa thay đổi, khẩu hiệu chỉ là lớp sơn bóng bẩy bên ngoài.
Cô giáo trong câu chuyện trên sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật lẫn đạo đức nghề nghiệp, như mới đây, cô bị điều chuyển công tác, làm công việc không tiếp xúc với học sinh trong thời gian 1 năm. Tôi cũng mong những người làm việc với cô vẫn sẽ cân nhắc tất cả các phương diện của cô như một con người toàn vẹn chứ không phải một “đối tượng để xử lý” khác. Mặt khác, những người còn lại chúng ta – thầy cô, cha mẹ, nhà quản lý giáo dục, nhà tham vấn, bác sĩ… mọi nghề nghiệp làm việc chính với con người phải đối diện một câu hỏi khó hơn nhiều: Chúng ta có đang thật sự cư xử với mỗi người mình gặp như một con người trong công việc hàng ngày của mình không, hay đã quen xem họ như “đối tượng làm việc”?
Carl Rogers, nhà tâm lý học nhân bản đã dành cả đời để bảo vệ một điều đơn giản: Con người – bất kể tuổi tác, hành vi – xứng đáng được đón nhận vô điều kiện với phẩm giá của mình. Không phải chấp nhận mọi hành vi, mà là dù hành vi nào xảy ra, con người ấy vẫn là con người, không thể bị rút gọn thành hành vi và dán nhãn bằng một vài kết luận hạn hẹp.
Một đứa trẻ nói chuyện trong giờ học không phải là đứa ồn ào, mà là một con người đang học cách điều tiết bản thân và cần người lớn đồng hành. Khoảng cách giữa hai cách nhìn ấy quyết định cách tương tác nào là phù hợp ở lớp học. Khi nhìn học sinh như một con người, kỷ luật của giáo viên là đối thoại – có giới hạn, có hậu quả, nhưng vẫn trong không gian tôn trọng phẩm giá. Ngược lại, khi nhìn học sinh như đối tượng thì những thứ như kim tiêm, roi vọt, lời lăng mạ hay chửi mắng trở thành những lựa chọn “thích đáng”.
Bộ GD-ĐT vừa công bố dự thảo Thông tư ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông năng khiếu nghệ thuật, thể dục, thể thao. Thông tư được xây dựng nhằm cụ thể hóa các quy định tại luật Giáo dục cho loại hình có tính chất đặc thù này.
Bên cạnh các quy định đối với trường phổ thông năng khiếu thể dục, thể thao, dự thảo thông tư mới bổ sung khung pháp lý cho loại hình trường phổ thông năng khiếu nghệ thuật, lĩnh vực trước đây chưa có quy định riêng.
Xác định rõ vị trí, chức năng của trường phổ thông năng khiếu nghệ thuật, thể dục, thể thao là vừa thực hiện chương trình giáo dục phổ thông, vừa đào tạo, bồi dưỡng năng khiếu chuyên sâu cho học sinh.
Đồng thời, dự thảo cũng tăng tính linh hoạt trong tổ chức dạy học khi cho phép nhà trường chủ động xây dựng kế hoạch giáo dục kết hợp giữa chương trình phổ thông và chương trình năng khiếu. Việc phân bổ thời lượng học tập, tập luyện được điều chỉnh phù hợp với từng lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao và đặc điểm của học sinh.
Dự thảo đổi mới tuyển sinh và quản lý học sinh theo hướng kết hợp đánh giá học lực với đánh giá năng khiếu; tăng cường theo dõi quá trình học tập, rèn luyện, phát triển năng khiếu của học sinh trong suốt quá trình học tập tại trường.
Coi việc biểu diễn nghệ thuật, thi đấu thể thao là một nội dung quan trọng trong quá trình đào tạo.
Các quy định được xây dựng theo hướng đẩy mạnh hoạt động thực hành, biểu diễn và thi đấu. Việc biểu diễn nghệ thuật, thi đấu thể thao được coi là một nội dung quan trọng trong quá trình đào tạo và đánh giá kết quả học tập, đồng thời tăng cường yêu cầu về an toàn trường học, y tế học đường và phòng chống chấn thương cho học sinh.
Dự thảo bổ sung các quy định cụ thể về cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên biệt phục vụ đào tạo năng khiếu; làm rõ yêu cầu về phòng tập, sân bãi, trang thiết bị, điều kiện bảo đảm an toàn và chăm sóc sức khỏe học sinh.
Một trong những điểm đáng chú ý là dự thảo mở rộng cơ chế liên kết, hợp tác giữa nhà trường với các đơn vị nghệ thuật, thể thao, doanh nghiệp và tổ chức xã hội nhằm huy động thêm nguồn lực cho đào tạo năng khiếu.
Sau 30 năm hình thành và phát triển, Kỳ thi Olympic truyền thống 30/4 do Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong khởi xướng không chỉ trở thành sân chơi tri thức uy tín của học sinh mà còn chính thức được xác lập kỷ lục Việt Nam vào hôm nay, 5.4, với dấu ấn là kỳ thi có lịch sử tổ chức lâu năm, liên tục, do một trường THPT sáng lập và tổ chức.
Tại lễ tổng kết và phát thưởng, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam (VietKings) đã chính thức xác lập kỷ lục đến Kỳ thi Olympic truyền thống 30/4 của Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong với nội dung: Kỳ thi Olympic truyền thống 30 tháng 4: Kỳ thi học sinh giỏi dành cho học sinh chuyên lớp 10,11 do một trường THPT khởi xướng tổ chức thường niên liên tục và lâu năm nhất tại Việt Nam.
Được thành lập từ năm 1927 với tiền thân là Collège Petrus Ký, Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong là một trong những cơ sở giáo dục có lịch sử lâu đời và giàu truyền thống bậc nhất tại TP.HCM. Không chỉ dừng lại ở thành tích học tập xuất sắc, nhà trường còn là đơn vị tiên phong tổ chức nhiều hoạt động học thuật quy mô lớn, trong đó nổi bật nhất là Kỳ thi Olympic truyền thống 30/4.
Ra đời từ năm 1995, Kỳ thi Olympic truyền thống 30/4 là sáng kiến của Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong nhằm tạo nên một sân chơi tri thức dành cho học sinh chuyên lớp 10 và lớp 11.
Từ một kỳ thi quy mô nhỏ với 15 đoàn và 109 thí sinh, Olympic 30/4 đã nhanh chóng phát triển thành sự kiện thường niên có quy mô lớn. Đây được xem là sân chơi học thuật uy tín, nơi các đội tuyển đến từ các trường THPT chuyên trên toàn quốc có cơ hội giao lưu, cọ xát, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy giữa các thầy cô đồng thời nâng cao năng lực học tập của học sinh. Bên cạnh đó, cuộc thi còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng và phát triển những học sinh tiềm năng, làm nền tảng để thành lập các đội tuyển tham gia các kỳ thi lớn hơn.
Đến năm 2026, kỳ thi lần thứ 30 quy tụ 131 đoàn với khoảng 3.829 thí sinh tham dự, cho thấy sức hút ngày càng mạnh mẽ và vị thế ngày càng được khẳng định của kỳ thi.
Trải qua 30 năm, kỳ thi đã trở thành "bệ phóng" cho nhiều học sinh trước khi bước vào các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia và quốc tế. Không ít thí sinh từng tham dự đã tiếp tục đạt thành tích cao, đóng góp vào nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Với TP.HCM, đây là một hoạt động học thuật tiêu biểu, góp phần củng cố vị thế trung tâm giáo dục của cả nước. Trên bình diện rộng hơn, mô hình Olympic 30/4 đã tạo hiệu ứng lan tỏa, thúc đẩy phong trào học tập và kết nối hệ thống các trường chuyên trên toàn quốc.
Phát biểu tại lễ tổng kết, bà Phạm Thị Bé Hiền, Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong đã điểm qua quá trình hình thành và phát triển của cuộc thi; tri ân Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo qua các thời kỳ đã có công sáng lập kỳ thi. Cô chia sẻ: "Có những giai đoạn vì dịch bệnh, kỳ thi buộc phải tạm dừng nhưng tinh thần của kỳ thi chưa bao giờ gián đoạn, nhờ sự ủng hộ, chỉ đạo sát sao của Sở GD-ĐT TP.HCM, sự quyết tâm của lãnh đạo nhà trường; sự kiên trì, trách nhiệm và ngọn lửa đam mê trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của các thầy cô đã giúp kỳ thi giữ vững giá trị và niềm tin... Olympic truyền thống 30/4 không chỉ là một kỳ thi mà là một phần ký ức được gìn giữ, một phần truyền thống được tiếp nối và là niềm tự hào lớn lao của các thế hệ thầy và trò suốt 30 năm".
Phát biểu trước khi công bố quyết định trao tặng Kỷ lục Việt Nam, bà Nguyễn Thị Quỳnh Ngọc, Tổng thư ký Hội đồng Xác lập Kỷ lục Việt Nam, cho biết: "Việc Kỳ thi Olympic truyền thống 30/4 được xác lập Kỷ lục Việt Nam là sự ghi nhận xứng đáng cho hành trình 30 năm bền bỉ của Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong. Đây không chỉ là sự tôn vinh, mà còn là minh chứng cho giá trị thực tiễn của một mô hình giáo dục hiệu quả, góp phần phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, đồng thời xây dựng môi trường học tập tích cực, truyền cảm hứng. Chúng tôi tin tưởng rằng, trên nền tảng đã được xây dựng, Kỳ thi Olympic truyền thống 30/4 sẽ tiếp tục phát triển, thích ứng và lan tỏa mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới, đóng góp tích cực cho sự nghiệp giáo dục của TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung".
Trải qua 8 mùa tổ chức, năm nay cuộc thi Đầu tư chứng khoán sinh viên Việt Nam thu hút gần 3.000 thí sinh đến từ 116 trường đại học đăng ký tham gia, và lần đầu tiên ghi nhận sự tham gia của một số đội sinh viên đến từ Malaysia, Myanmar, Lào, Đài Loan…
Cuộc thi do Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo kinh tế ứng dụng phối hợp với khoa tài chính - ngân hàng và Câu lạc bộ Đầu tư chứng khoán trẻ TDTU - NSC (Trường đại học Tôn Đức Thắng) tổ chức.
Sau 2 tháng thi đấu, 10 đội thi xuất sắc với 30 thí sinh được chọn vào chung kết. Các đội được ban tổ chức cấp vốn thật, mở tài khoản giao dịch thật tại các công ty chứng khoán đối tác và trực tiếp đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Ngay chặng đầu tiên ở vòng chung kết, không khí cuộc thi trở nên sôi nổi với phần tranh luận “Luận bàn kinh tế”. Qua các câu hỏi, mỗi đội thi thể hiện tư duy phân tích, khả năng lập luận và góc nhìn về các vấn đề tài chính - kinh tế.
Ở chặng hai, các đội tranh tài thi trắc nghiệm với việc bấm chuông giành quyền trả lời kiến thức về kinh tế, tài chính và đầu tư.
Còn chặng cuối qua phần thuyết trình và phản biện, mỗi đội lần lượt trình bày chiến lược đầu tư đã chuẩn bị, bảo vệ luận điểm và đối thoại trước hội đồng giám khảo.
Sau nhiều vòng thi với sự cạnh tranh quyết liệt, vòng chung kết khép lại bằng chiến thắng thuyết phục của đội THE FUND gồm các sinh viên đến từ Trường đại học Ngân hàng TP.HCM và Trường đại học Tôn Đức Thắng.
TS Nghiêm Quý Hào - Trưởng ban tổ chức Investment Challenge 2026 - cho rằng một thị trường vốn hiện đại không chỉ cần doanh nghiệp tốt, chính sách tốt hay công nghệ hiện đại, mà điều cốt lõi là phải có những con người được đào tạo bài bản, biết phân tích, quản trị rủi ro và đầu tư có trách nhiệm.
Theo ông Hào, Investment Challenge được tổ chức với mong muốn góp phần hình thành thế hệ nhà đầu tư trẻ như vậy. Đây là mô hình đào tạo gắn kết giữa lý thuyết và thực tiễn, giúp sinh viên trải nghiệm đầy đủ vai trò của một nhà đầu tư chuyên nghiệp ngay từ khi còn ngồi trên ghế giảng đường.
Năm 2026, cuộc thi cũng được nâng cao chất lượng chuyên môn khi cập nhật các nội dung phù hợp bối cảnh chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Lần đầu tiên, thí sinh được kiểm tra kiến thức về tài chính số, tài sản số và giao dịch hàng hóa thông qua Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam.
“Chúng tôi tin rằng mỗi mùa giải không chỉ tạo ra những quán quân mà còn góp phần bồi dưỡng nguồn nhân lực tài chính chất lượng cao cho đất nước”, TS Nghiêm Quý Hào nói.