Sau hơn 30 phút kể từ lúc khoang chở người và tàu Orion chia tách, lúc 7h03 (giờ Hà Nội), ở độ cao khoảng 7.130 m, dù hãm tốc của Orion bung ra nhằm làm chậm và ổn định khoang tàu. Bốn phút sau đó, tàu đáp xuống biển Thái Bình Dương.
Trước đó, từ 11h35 ngày 10/4 (22h35 cùng ngày theo giờ Hà Nội), phi hành đoàn Artemis II gồm chỉ huy nhiệm vụ Reid Wiseman (NASA), phi công Victor Glover (NASA), chuyên gia nhiệm vụ Christina Koch (NASA) và chuyên gia nhiệm vụ Jeremy Hansen (Cơ quan Vũ trụ Canada CSA) thức dậy để chuẩn bị cho hành trình trở về Trái Đất. Khi đó, họ vẫn đang cách Trái Đất 98.695 km.
14h53 ngày 10/4 (1h53 ngày 11/4 giờ Hà Nội), động cơ đẩy được khai hỏa trong 8 giây, tạo ra sự thay đổi vận tốc 1,3 m/giây và đẩy tàu về phía Trái Đất. Các phi hành gia tiếp tục hoàn tất việc điều chỉnh, sắp xếp lại khoang chở người, kiểm tra danh sách các bước chuẩn bị trước khi tái nhập khí quyển, đảm bảo mọi thứ được cố định và sẵn sàng. Họ cũng mặc lại bộ đồ vũ trụ màu cam để bảo vệ cơ thể trong quá trình hạ cánh.
Đến 6h15 ngày 11/4 (giờ Hà Nội), tàu Orion hoàn tất quá trình chuyển đổi từ Mạng lưới Không gian Sâu (Deep Space Network) của NASA sang hệ thống Vệ tinh Chuyển tiếp Theo dõi và Truyền dữ liệu (Tracking and Data Relay Satellite) của Mạng lưới Không gian Gần (Near Space Network), đảm bảo liên lạc khi phi hành đoàn bước vào giai đoạn cuối cùng của chuyến “hồi hương”.
Lúc 6h33 ngày 11/4, khoang chở người của tàu Orion tách khỏi khoang dịch vụ – vốn do Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) chế tạo để cung cấp năng lượng và vật tư như nhiên liệu, nước, không khí, pin Mặt Trời.
6h37 ngày 11/4, thao tác đốt động cơ nâng khoang phi hành đoàn diễn ra, giúp điều chỉnh để căn đúng hướng cho tấm chắn nhiệt, chuẩn bị tái nhập khí quyển.
Trong lúc khoang chở người tiếp tục hạ cánh, khoang dịch vụ sẽ bốc cháy an toàn trong khí quyển phía trên Thái Bình Dương. Quỹ đạo trở về của Artemis II được thiết kế nhằm đảm bảo bất kỳ mảnh vỡ nào còn sót lại cũng không gây nguy hiểm cho đất liền, con người hay các tuyến đường vận chuyển.
6h53, tàu Orion tiến vào khí quyển ở độ cao khoảng 120.000 m, di chuyển với tốc độ gấp 35 lần tốc độ âm thanh và cách địa điểm hạ cánh khoảng 3.148 km. Đây là nơi tàu vũ trụ tiếp xúc với lớp khí quyển trên cao và bắt đầu quá trình hạ cánh có kiểm soát. Ngay sau đó, Orion gián đoạn liên lạc khoảng 6 phút, khi plasma hình thành xung quanh khoang chở người trong quá trình gia nhiệt.
7h, NASA thông báo khôi phục liên lạc với phi hành đoàn Artemis II.
7h03, ở độ cao khoảng 7.130 m, dù hãm tốc của Orion bung ra nhằm làm chậm và ổn định khoang tàu. Vận tốc của Orion giảm xuống còn 146 mét mỗi giây và chỉ còn cách vị trí hạ cánh trên mặt nước 1,3 km.
7h04, ở độ cao khoảng 1.650 m, dù hãm tốc của Orion được cắt bỏ và ba dù chính bung ra, làm giảm vận tốc khoang tàu xuống dưới 60 mét mỗi giây, dẫn hướng cho tàu trong quá trình hạ cánh cuối cùng xuống biển.
Các kỹ sư tiến hành một số kiểm tra bổ sung trong lúc Orion ở dưới nước, sau đó tắt con tàu và bàn giao cho đội cứu hộ trên tàu USS John P. Murtha. Đội cứu hộ đã có mặt tại địa điểm hạ cánh và đang tiến đến khoang tàu để hỗ trợ phi hành đoàn ra ngoài.
Các nhân viên kiểm soát bay sẽ tắt những hệ thống không thiết yếu và chuyển khoang tàu sang trạng thái cứu hộ. Điều này giúp giảm nhu cầu năng lượng và chuẩn bị cho việc đưa phi hành đoàn ra ngoài khi đội cứu hộ tiếp cận.
7h12 giờ Hà Nội, theo chỉ đạo của giám đốc cứu hộ NASA, các nhóm từ cơ quan này và quân đội Mỹ bắt đầu tiếp cận tàu Orion bằng thuyền bơm hơi. Khoảng một giờ sau khi đáp xuống biển, phi hành đoàn Artemis II sẽ được đưa ra khỏi Orion, vận chuyển đến tàu USS John P. Murtha bay trực thăng của Hải quân Mỹ. Bốn phi hành gia sẽ trải qua các cuộc kiểm tra y tế, sau đó trở về bờ để lên máy bay đến Trung tâm Vũ trụ Johnson của NASA ở Houston.
Khi sẵn sàng, thợ lặn của hải quân sẽ gắn dây cáp vào Orion để kéo lên giá đỡ được thiết kế đặc biệt trong khoang chứa của tàu thủy. Nhóm kỹ thuật viên tiếp theo sẽ xả hết nước trong khoang chứa này và cố định Orion. Tàu vũ trụ sẽ được đưa đến Căn cứ Hải quân Mỹ San Diego, sau đó tới Trung tâm Vũ trụ Kennedy của NASA ở Florida. Tại đó, kỹ thuật viên dự kiến kiểm tra kỹ lưỡng tàu vũ trụ, thu thập dữ liệu của tàu, tháo dỡ thiết bị và tiến hành các kiểm tra bổ sung sau chuyến bay.
Tàu Orion rời bệ phóng tối 1/4 (5h35 ngày 2/4 giờ Hà Nội) đưa bốn phi hành gia bay tới Mặt Trăng, thực hiện nhiệm vụ có người lái đầu tiên của NASA vượt ra ngoài quỹ đạo Trái Đất tầm thấp sau 54 năm. Phi hành đoàn được ví “đại diện cho thế giới”, khi lần đầu có phụ nữ, người da màu và thành viên không phải người Mỹ bay tới Mặt Trăng.
Artemis II cũng là chuyến bay có người lái đầu tiên của tên lửa Hệ thống Phóng Không gian (SLS) và tàu Orion. Rất nhiều công nghệ thử nghiệm trên tàu cũng lần đầu được sử dụng ngoài không gian như Hệ thống Liên lạc Quang học Orion Artemis II, sử dụng tia laser để gửi và nhận dữ liệu từ Trái Đất. Ngoài ra, tàu cũng trang bị nhà vệ sinh hoạt động đầy đủ đầu tiên trong chuyến bay tới Mặt Trăng.
Phi hành đoàn Artemis II ước tính đã di chuyển quãng đường 1.117.659 km trong toàn bộ hành trình vòng quanh Trái Đất và Mặt Trăng. Tổng thời gian bay ước tính là 9 ngày 1 giờ và 31 phút.
Điểm nhấn của nhiệm vụ là chuyến bay vòng qua phía sau Mặt Trăng ngày 6/4 (ngày 7/4 theo giờ Hà Nội), tới cách thiên thể này gần nhất 6.545 km. Trong chuyến bay, phi hành đoàn quan sát cảnh tượng Trái Đất lặn, Trái Đất mọc, nhật thực và nhiều cấu trúc trên bề mặt Mặt Trăng. Bên cạnh đó, họ cũng phá vỡ kỷ lục của Apollo 13 về khoảng cách xa Trái Đất nhất mà con người từng bay, thiết lập năm 1970. Cụ thể, Artemis II đã bay cách Trái Đất khoảng 406.771 km, xa hơn 6.616 km so với Apollo 13.
Nhiệm vụ được thiết kế như một bước đệm cho chương trình Artemis của NASA, hướng tới thiết lập sự hiện diện lâu dài của con người trên Mặt Trăng. Nhiệm vụ không người lái Artemis I diễn ra hồi tháng 11/2022, sau nhiều đợt hoãn và hủy phóng. Nếu không có vấn đề lớn nào phát sinh trong Artemis II, NASA sẽ thử nghiệm tàu Orion và các trạm đổ bộ Mặt Trăng trên quỹ đạo Trái Đất trong nhiệm vụ Artemis III năm 2027. Cơ quan này đặt mục tiêu thực hiện chuyến đổ bộ Mặt Trăng đầu tiên vào năm 2028 với nhiệm vụ Artemis IV. Đến thập niên 2030, NASA kỳ vọng bắt đầu phát triển các khu định cư, robot tự hành và trạm đổ bộ chở hàng, hướng đến thiết lập sự hiện diện bền vững trên bề mặt Mặt Trăng.
Theo một khảo sát do tập đoàn giải pháp doanh nghiệp Wolters Kluwer công bố đầu tháng 6, có 70% y tá và 77% bác sĩ lo ngại rằng họ sẽ mất kỹ năng vì phụ thuộc quá mức vào các hệ thống AI.
Nỗi lo này là có cơ sở. Các bằng chứng mới đang cho thấy hiện tượng mất kỹ năng do AI bắt đầu xuất hiện trong y học, khoa học máy tính và các lĩnh vực khác.
"Chỉ cần nhận thức được rằng hiện tượng này tồn tại, hy vọng mọi người sẽ suy nghĩ về những kỹ năng nào họ muốn duy trì và những kỹ năng nào họ sẵn sàng giao phó cho các công cụ AI", Kevin Crowston, nhà khoa học thông tin tại Đại học Syracuse (Mỹ), nói.
Một nghiên cứu thực hiện với các bác sĩ nội soi ở Ba Lan cho thấy các công cụ AI gây lệ thuộc và giảm kỹ năng. Những bác sĩ này, tất cả đều đã thực hiện ít nhất 2.000 ca nội soi đại tràng trong sự nghiệp, được tiếp cận một hệ thống AI có khả năng phân tích hình ảnh nội soi đại tràng theo thời gian thực và đánh dấu một loại tổn thương tiền ung thư trong ruột, gọi là u tuyến. Bác sĩ chỉ có thể sử dụng công cụ trong một số ngày và phải tự khám vào những ngày khác.
Trong 3 tháng trước khi có AI, các bác sĩ phát hiện u tuyến trong 28,4% số ca nội soi. 3 tháng sau khi công cụ được đưa vào sử dụng, tỷ lệ phát hiện giảm còn 22,4% khi không có AI hỗ trợ, theo kết quả công bố trên The Lancet Gastroenterology and Hepatology.
Việc tiếp xúc liên tục công cụ AI có thể khiến các bác sĩ lâm sàng "ít có động lực hơn, kém tập trung hơn và ít trách nhiệm hơn khi đưa ra các quyết định mà không có AI hỗ trợ", theo các tác giả nghiên cứu.
Nhóm lưu ý rằng cần có thêm nghiên cứu để xác nhận hiện tượng này, nhưng những người sử dụng công cụ AI nên ý thức rằng họ có nguy cơ mất đi một phần kỹ năng của mình. Ngay cả những chuyên gia tay nghề cao cũng có thể mất kỹ năng khi phụ thuộc vào các công cụ AI.
Tương tự trong lĩnh vực khoa học máy tính, các nhà nghiên cứu tại Anthropic đã thiết kế một thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên, trong đó 52 kỹ sư phần mềm được yêu cầu thực hiện một nhiệm vụ lập trình cơ bản. Tất cả người tham gia đều có thể tìm kiếm trên web, nhưng chỉ một nửa được gợi ý sử dụng thêm trợ lý AI.
Sau đó, các kỹ sư được yêu cầu hoàn thành một bài kiểm tra về những gì họ đã học được từ nhiệm vụ. Nhóm sử dụng trợ lý AI làm bài kém hơn đáng kể so với nhóm không dùng, đạt điểm trung bình 50% so với 67%.
Những người được AI hỗ trợ làm kém hơn hẳn ở các câu hỏi yêu cầu chẩn đoán lỗi trong mã, cho thấy họ không nắm được các khái niệm đằng sau đoạn mã họ vừa tạo ra. Nghiên cứu được đăng trên cơ sở dữ liệu bản thảo arXiv.
Những phát hiện này đáng lo ngại, đặc biệt đối với sinh viên và người mới vào nghề. "Mọi người có thể thực hiện công việc ở mức hiệu suất khá cao vì họ đang mượn kỹ năng từ AI, nhưng không tự phát triển kỹ năng", Crowston nói.
Những công nghệ khác trong quá khứ đã khiến một số kỹ năng cụ thể trở nên lỗi thời, Tapani Rinta-Kahila, nhà nghiên cứu hệ thống thông tin tại Trường Kinh tế Hanken ở Helsinki, lưu ý. Ví dụ, nghiên cứu cho thấy các hệ thống định vị GPS đã làm suy giảm kỹ năng định hướng của con người. Tuy nhiên, các công cụ AI tạo sinh là công nghệ đầu tiên tự động hóa nhiều năng lực nhận thức khác nhau liên quan đến tư duy và diễn giải.
Rinta-Kahila từng công bố một nghiên cứu về một nhóm kế toán đã sử dụng liên tục một hệ thống kế toán tự động, không phải AI, trong hơn một thập kỷ. Khi công cụ này bị lấy đi, các kế toán viên đã quên cách thực hiện một số nhiệm vụ thường ngày, cho thấy việc suy giảm kỹ năng khi phụ thuộc vào công cụ.
Không chỉ trong các tác vụ chuyên môn, AI còn có tác động đến những kỹ năng thông thường. Một nghiên cứu của Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), công bố tại hội nghị tháng 4 của Association for Computing Machinery, cho thấy phụ thuộc vào chatbot có thể làm suy giảm kỹ năng phân biệt thông tin sai lệch.
Trong nghiên cứu, 67 người tham gia được yêu cầu xác định các cặp tiêu đề và hình ảnh có phải tin giả hay không. Kết quả, AI giúp người tham gia phân biệt tốt hơn, khả năng ra quyết định đúng tăng 21%. Tuy nhiên, độ chính xác khi phải tự đánh giá mà không có sự hỗ trợ của AI đã giảm 15,3%.
"AI có thể giúp ích ngay lập tức, nhưng cuối cùng nó có thể làm suy giảm khả năng phát hiện thông tin sai lệch về lâu dài", nghiên cứu lưu ý.
Để ngăn chặn sự xói mòn kỹ năng do AI gây ra, con người cần xác định rõ đang giao phó cho các công cụ AI tạo sinh bao nhiêu phần việc, theo Rinta-Kahila. Mọi người cũng cần hiểu các mô hình AI tạo sinh hoạt động như thế nào, giới hạn của chúng là gì và nên tránh tin vào đầu ra của AI mà không đặt câu hỏi.
Công nghệ Soft Air và cánh vẫy Dual Vane giúp lan tỏa hơi lạnh dịu nhẹ - Ảnh: DNCC
Trong suốt một đêm dài, cơ thể con người liên tục biến đổi. Chỉ một vài yếu tố tưởng chừng nhỏ nhặt như luồng gió lạnh thổi trực tiếp, không khí quá khô hanh hay nhiệt độ lên xuống bất thường cũng đủ tạo ra các ‘vi thức giấc’ (micro-awakenings).
Đây là những lần tỉnh giấc cực ngắn mà bạn không hề ghi nhớ được, nhưng lại làm đứt gãy chu kỳ ngủ sâu của não bộ. Sự ổn định của không gian xung quanh chính là ranh giới định đoạt việc ‘ngủ đủ’ và ‘ngủ sâu’.
Với những người nhạy cảm, luồng gió thổi trực tiếp vào cơ thể là một vấn đề lớn. Với thiết kế cánh vẫy gió kép Dual Vane và tính năng Soft Air, LG Dualcool AI lan tỏa không khí mát lành đi khắp không gian ngủ, tránh thổi trực tiếp vào cơ thể mà vẫn duy trì độ mát mẻ ổn định.
Không chỉ mang lại luồng gió êm ái, Soft Air còn kiến tạo một không gian yên tĩnh hoàn hảo cho giấc ngủ.
Thực tế đo đạc cho thấy, độ ồn khi hoạt động ở chế độ Soft Air chỉ dao động ở mức 38-39 dB, mức âm thanh thậm chí còn thấp hơn cả chế độ ngủ của một số dòng máy lọc không khí hiện nay.
Ngay cả khi cần làm lạnh với cường độ cao, thiết bị vẫn duy trì sự êm ái tối đa với độ ồn chỉ khoảng 45 dB ở mức quạt gió cao nhất (mức 5) và trên dưới 50 dB khi kích hoạt chế độ làm mát nhanh (Jet mode).
Theo các chuyên gia sinh lý học, để tiến vào trạng thái ngủ sâu, thân nhiệt trung tâm của con người buộc phải giảm tự nhiên từ 1 đến 2°C.
Các tính năng đều được điều chỉnh trên ứng dụng thông minh ThinQ - Ảnh: DNCC
Thấu hiểu nguyên lý này, điều hòa LG Dualcool AI mang đến một cơ chế chăm sóc giấc ngủ toàn diện.
Tính năng Sleep Timer+ sẽ tự động nhận diện thói quen sử dụng điều hòa và điều chỉnh nhiệt độ để cân bằng nhiệt độ môi trường với thân nhiệt người dùng, tránh cảm giác lạnh buốt về đêm, tiết kiệm điện và bảo vệ sức khỏe.
Người dùng có thể dễ dàng cài đặt tính năng này trên ứng dụng thông minh LG ThinQ.
Một giấc ngủ ‘chuẩn 5 sao’ không thể thiếu bầu không khí trong lành. Khoa học đã chỉ ra rằng, môi trường lơ lửng nhiều bụi mịn hay vi khuẩn sẽ khiến hệ hô hấp làm việc nặng nhọc hơn thay vì được nghỉ ngơi, làm giảm hiệu suất phục hồi năng lượng của cơ thể.
Màng lọc bụi mịn PM2.5 kết hợp cùng công nghệ Plasmaster™ Ionizer++ trên LG Dualcool AI tiêu diệt đến 99,9% vi khuẩn, mang đến bầu không khí trong lành sạch khuẩn.
Song song đó, chế độ tự động làm sạch bên trong giúp làm khô bộ trao đổi nhiệt sau khi sử dụng để loại bỏ mùi ẩm, ngăn ngừa mùi hôi và sự phát triển của vi khuẩn.
Chế độ đóng băng làm sạch (Freeze Cleaning) giúp vệ sinh bên trong dàn lạnh, rửa trôi bụi bẩn, vi khuẩn và các tác nhân gây ô nhiễm, mang đến bầu không khí trong lành, tươi mới cho không gian sống.
LG Dualcool AI sạch khuẩn 99,9% nhờ màng lọc PM2.5 và Plasmaster™ Ionizer++, bảo vệ không khí trong lành - Ảnh: DNCC
Bên cạnh việc làm sạch, LG Dualcool AI còn sở hữu cảm biến thông minh giúp chủ động kiểm soát và duy trì độ ẩm phòng ở mức 60% đến 65% tuân thủ chặt chẽ Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5687:2024 về thông gió, điều hòa không khí.
Nhờ vậy, rắc rối ‘nằm điều hòa dễ khô da, rát họng’ - hệ quả của việc không khí khô hút mất độ ẩm tự nhiên từ biểu bì và niêm mạc - sẽ được khắc phục hoàn toàn.
Đừng chỉ dừng lại ở việc ngủ đủ, hãy đầu tư để được ngủ sâu. Bằng sự tĩnh lặng tuyệt đối và khả năng đáp ứng những yêu cầu của cơ thể cho giấc ngủ, LG Dualcool AI không chỉ là một thiết bị làm mát, mà còn giúp việc tận hưởng 8 giờ vàng mỗi ngày trở nên trọn vẹn hơn bao giờ hết.
Trong hành trình cải tiến chiếc iPhone từ năm 2007 đến nay, Apple đã mang lại nhiều công nghệ đột phá nhưng cũng thẳng tay loại bỏ không ít tính năng quen thuộc. Khi điện thoại trở nên nhỏ gọn hơn và các tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật số thay đổi, hãng đã phải đưa ra những quyết định phần cứng đầy khó khăn. Dù các quyết định này nhằm tối ưu trải nghiệm mới, nhiều người dùng vẫn vô cùng hoài niệm và mong muốn các công cụ cũ được mang trở lại.
Tính năng cảm ứng lực nhấn đột phá này được giới thiệu từ dòng iPhone 6s nhưng đã bị khai tử kể từ thế hệ iPhone XR. 3D Touch cho phép người dùng nhấn mạnh vào email, hình ảnh hoặc liên kết để nhanh chóng xem trước nội dung, hoặc mở menu phụ từ biểu tượng ứng dụng. Các game thủ bắn súng góc nhìn thứ nhất đặc biệt yêu thích nó vì khả năng ngắm và bắn tốc độ cao mà không cần nhấc ngón tay.
Để thay thế, Apple đưa vào Haptic Touch dựa trên phần mềm, sử dụng thao tác nhấn giữ lâu kết hợp phản hồi rung. Tuy nhiên, giải pháp mới này bị đánh giá là chậm hơn và không thể hỗ trợ hoàn hảo cho một số tựa game đặc thù vốn được thiết kế riêng cho 3D Touch. Nhiều iFan tin rằng nếu có nhiều người sử dụng tính năng cảm ứng lực này hơn, Apple đã không loại bỏ nó vĩnh viễn.
Trước khi kỷ nguyên màn hình tràn viền của iPhone X thay thế bằng Face ID, Touch ID tích hợp trên nút Home là phương thức bảo mật tối tân. Chỉ cần đặt ngón tay lên cảm biến quét, người dùng có thể mở khóa, đăng nhập ứng dụng và phê duyệt thanh toán vô cùng nhanh chóng. Dù có nhược điểm khó sử dụng khi tay ướt hoặc đeo găng, tính năng này vẫn được đánh giá cao về độ tiện lợi.
Hiện tại, cụm camera TrueDepth của Face ID mang lại khả năng quét khuôn mặt 3D chuyên sâu rất an toàn và khó bị đánh lừa. Dù vậy, nhiều người dùng vẫn than phiền và muốn mang Touch ID trở lại vì tính đáng tin cậy và độ ổn định cao hơn. Ngoài ra, không phải ai cũng sẵn sàng cung cấp dữ liệu quét khuôn mặt cá nhân của mình cho hệ thống để bảo mật.
Trước thế hệ iPhone 7, các dòng máy đều sở hữu cổng âm thanh 3,5 mm để kết nối với đủ loại tai nghe có dây truyền thống. Việc loại bỏ cổng này giúp Apple tối ưu không gian nội thất quý giá bên trong để nhường chỗ cho tính năng khác, đồng thời tăng cường khả năng kháng nước. Tuy nhiên, điều này buộc người dùng phải chuyển dịch sang sử dụng tai nghe không dây AirPods được ra mắt cùng thời điểm.
Quyết định này gây ra nhiều tiếc nuối cho các tín đồ âm thanh vì chất lượng âm thanh Bluetooth không thể sánh bằng kết nối dây. Giờ đây, người dùng buộc phải sử dụng các bộ chuyển đổi rườm rà, dễ thất lạc và đối mặt với sự bất tiện khi không thể vừa sạc pin vừa nghe nhạc. Thao tác cắm sạc cho các thiết bị nghe không dây cũng tạo ra nhiều sự phiền toái trong quá trình sử dụng.
Trước đây, người dùng có thể tắt hoàn toàn các kết nối radio này trực tiếp từ Trung tâm Điều khiển chỉ bằng một cú chạm. Tuy nhiên, kể từ phiên bản iOS 11, thao tác chạm vào biểu tượng chỉ đơn thuần là ngắt kết nối tạm thời với mạng và thiết bị hiện tại. Hệ thống sẽ tự động kích hoạt lại Bluetooth và Wi-Fi vào lúc 5 giờ sáng hoặc ngay khi người dùng khởi động lại máy.
Việc bật liên tục các kết nối này tiềm ẩn rủi ro bảo mật lớn, tạo điều kiện cho tin tặc rà quét thiết bị hoặc lừa chấp nhận yêu cầu kết nối lạ. Để tắt hoàn toàn, người dùng buộc phải thực hiện các bước phức tạp hơn trong ứng dụng Cài đặt. Sự bất tiện này khiến nhiều người đành chấp nhận để mặc cho các cài đặt kết nối luôn hoạt động cả ngày.
Trước khi Apple loại bỏ tab ứng dụng trên phiên bản iTunes 12.7, người dùng có thể sắp xếp giao diện màn hình chính thông qua máy tính. Việc hiển thị trực quan toàn bộ các trang màn hình giúp thao tác nhấn, kéo thả hoặc gom nhóm ứng dụng diễn ra thần tốc. Ngoài ra, người dùng cũng có thể chọn xóa hàng loạt ứng dụng cùng một lúc rồi nhấn đồng bộ hóa rất tiện lợi.
Hiện tại, việc quản lý trực tiếp trên điện thoại bị đánh giá là vụng về và tẻ nhạt nếu thiết bị sở hữu số lượng ứng dụng lớn. Việc xóa ứng dụng cũng buộc phải thực hiện thủ công từng cái một ngay cả khi đang ở chế độ chỉnh sửa. Apple thậm chí đã khai tử hoàn toàn iTunes khỏi hệ điều hành macOS và chuyển dịch sang các ứng dụng độc lập riêng biệt.