Cảng Hàng không Quốc tế Gia Bình được phát triển theo mô hình trung tâm kinh tế hàng không thế hệ mới – Ảnh: CTV
Sân bay Gia Bình được phát triển theo mô hình trung tâm kinh tế hàng không thế hệ mới với ba trụ cột chính.
Thứ nhất là hạ tầng hàng không tiêu chuẩn cao, giữ vai trò trung tâm trong kết nối khu vực và quốc tế, đáp ứng nhu cầu vận hành dài hạn.
Thứ hai là hệ sinh thái kinh tế – logistics – thương mại, nơi tập trung các hoạt động tạo giá trị gia tăng như dịch vụ, xuất nhập khẩu và công nghiệp phụ trợ.
Thứ ba là không gian đô thị và dịch vụ tích hợp, hướng tới xây dựng môi trường sống, làm việc và trải nghiệm đồng bộ cho chuyên gia và người lao động.
Để có thể triển khai định hướng mới này, chủ đầu tư dự án đã tìm kiếm và hợp tác với đội ngũ chuyên gia hàng đầu thế giới tham gia dự án vận hành sân bay Gia Bình.
Đây không chỉ là các lãnh đạo cấp cao mà còn là những chuyên gia từng trực tiếp vận hành và phát triển trung tâm hàng không quốc tế lớn như Hamad (Qatar), Changi (Singapore), Heathrow (Anh) và Munich (Đức).
Kinh nghiệm thực tiễn từ các sân bay hàng đầu thế giới được kỳ vọng sẽ góp phần xây dựng mô hình khai thác và vận hành đạt chuẩn quốc tế cho Gia Bình.
Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia có kinh nghiệm thiết kế chuyên biệt cùng tham gia dự án nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển mô hình sân bay hiện đại.
Qua đó, Cảng hàng không quốc tế Gia Bình có điều kiện tiếp cận các thông lệ tiên tiến ngay từ giai đoạn đầu.
Dự án cũng từng bước xây dựng năng lực nội tại thông qua đào tạo và chuyển giao, hướng tới mục tiêu vận hành hiệu quả và bền vững trong dài hạn.
Trong bối cảnh thị trường lao động cạnh tranh nhưng ngành hàng không chưa có nhiều yếu tố mới, những dự án quy mô lớn và có tầm nhìn dài hạn như Cảng Hàng không Quốc tế Gia Bình đang trở thành điểm đến hấp dẫn đối với lực lượng lao động chất lượng cao.
Không chỉ tạo ra cơ hội việc làm đa dạng, dự án còn góp phần hình thành một cộng đồng chuyên gia với môi trường làm việc mang tính quốc tế, lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng và không gian sống hiện đại. Đây cũng là những yếu tố quan trọng ngày càng được thế hệ nhân lực trẻ, chất lượng cao ưu tiên lựa chọn nơi làm việc.
Sự phát triển của Cảng hàng không quốc tế Gia Bình phù hợp với xu hướng toàn cầu, khi các trung tâm kinh tế hàng không trở thành hạt nhân thu hút nhân lực quốc tế.
Điểm khác biệt của Gia Bình nằm ở lợi thế vùng và cách tiếp cận đồng bộ ngay từ đầu.
Hạ tầng được quy hoạch gắn liền với phát triển đô thị, dịch vụ và hệ sinh thái kinh tế.
Nhờ đó, dự án không chỉ tạo ra nhu cầu nhân lực lớn mà còn góp phần nâng cao chất lượng nguồn cung lao động thông qua việc thu hút, đào tạo và giữ chân đội ngũ nhân sự có kỹ năng cao.
Ở góc độ dài hạn, Cảng Hàng không quốc tế Gia Bình được kỳ vọng trở thành “điểm neo” cho sự dịch chuyển của dòng nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nhóm chuyên gia, kỹ sư và lao động tri thức.
Khi các tập đoàn, doanh nghiệp và chuỗi dịch vụ tập trung về khu vực này, nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao được dự báo sẽ tiếp tục gia tăng, tạo nên vòng xoáy phát triển tích cực giữa kinh tế, việc làm và đô thị.
Với quy mô, định hướng và tầm nhìn đã được xác lập, cảng hàng không Quốc tế Gia Bình không chỉ là một dự án hạ tầng trọng điểm mà đang dần trở thành một trung tâm hội tụ cơ hội nghề nghiệp, môi trường làm việc chất lượng và hệ sinh thái phát triển bền vững.
Đây được xem là nền tảng để hình thành cộng đồng nhân lực mới – năng động, quốc tế và sẵn sàng đồng hành cùng những bước phát triển tiếp theo của khu vực phía Bắc.
Tại họp báo chiều 14/4, ông Đào Xuân Tuấn, Vụ trưởng Quản lý ngoại hối (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, việc xét duyệt hồ sơ xin cấp phép sản xuất vàng miếng được thực hiện chặt chẽ. Ngân hàng Nhà nước đang xem xét và sẽ công bố các đơn vị được đủ điều kiện được cấp phép sản xuất vàng miếng, nhập khẩu nguyên liệu.
Theo ông Tuấn, việc bổ sung thêm các đơn vị được cấp phép sản xuất vàng miếng và nhập khẩu nguyên liệu sẽ giúp tăng nguồn cung, góp phần bình ổn thị trường và thu hẹp chênh lệch giá vàng trong nước với thế giới.
Theo Nghị định 232 sửa đổi, bổ sung Nghị định 24 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, cơ chế độc quyền vàng miếng được xóa bỏ. Ngân hàng Nhà nước sẽ giao quyền nhập khẩu và sản xuất vàng miếng cho một số ngân hàng và doanh nghiệp đủ điều kiện.
Ngân hàng, doanh nghiệp muốn được cấp phép sản xuất vàng miếng phải có giấy phép mua bán, kinh doanh mặt hàng này. Họ cũng phải đáp ứng điều kiện về vốn, với doanh nghiệp là từ 1.000 tỷ đồng trở lên, ngân hàng từ 50.000 tỷ. Dự kiến có khoảng 8 ngân hàng và 3 doanh nghiệp gồm PNJ, DOJI và SJC đáp ứng yêu cầu về vốn điều lệ để sản xuất vàng miếng.
Cũng tại họp báo, Phó thống đốc Phạm Thanh Hà cho biết đến hết tháng 3, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,18 triệu tỷ đồng, tăng hơn 3% so với cuối năm ngoái.
Năm nay, Ngân hàng Nhà nước định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15%. Chỉ tiêu này có thể điều chỉnh theo diễn biến thực tế nhằm kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng và đảm bảo an toàn hệ thống.
"Nhu cầu tín dụng cho sản xuất và tiêu dùng có xu hướng tăng, trong khi huy động vốn có thể chịu cạnh tranh từ các kênh đầu tư khác như bất động sản, chứng khoán, tạo thêm sức ép lên hệ thống ngân hàng", ông Phạm Thanh Hà nhận định.
Trong bối cảnh đó, Phó thống đốc cho biết Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp với chính sách tài khóa.
Cơ quan này theo dõi sát diễn biến lãi suất huy động và cho vay, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết. Chính sách tỷ giá cũng được điều hành linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường, góp phần ổn định thị trường ngoại hối.
Tối 29-4, thông tin từ Cục Thuế cho biết Cục trưởng Cục Thuế đã có công điện gửi trưởng thuế các tỉnh, thành phố, yêu cầu lưu ý triển khai chính sách mới đối với doanh nghiệp, hộ và cá nhân kinh doanh.
Theo Cục Thuế, cùng ngày, Chính phủ ban hành Nghị định 141 về nâng ngưỡng doanh thu miễn thuế đối với hộ kinh doanh, đồng thời bổ sung ngưỡng miễn thuế cho doanh nghiệp. Chính sách được áp dụng từ ngày 1-1-2026.
Cụ thể, mức doanh thu năm không chịu thuế giá trị gia tăng và không phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với hộ, cá nhân kinh doanh được nâng từ 500 triệu đồng lên 1 tỉ đồng/năm.
Theo tính toán của Bộ Tài chính, hơn 2,5 triệu hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh sẽ được hưởng lợi từ chính sách này. Ngân sách nhà nước dự kiến giảm thu khoảng 4.850 tỉ đồng mỗi năm.
Về hóa đơn điện tử, theo Nghị định 141, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 1 tỉ đồng phải áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế hoặc hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế.
Với hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm từ 1 tỉ đồng trở xuống, nếu đáp ứng điều kiện và có nhu cầu sử dụng hóa đơn điện tử thì được đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế hoặc hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền kết nối dữ liệu với cơ quan thuế.
Đây là điểm mới quan trọng, tháo gỡ vướng mắc cho nhóm hộ kinh doanh dưới ngưỡng chịu thuế nhưng vẫn có nhu cầu xuất hóa đơn.
Nghị định 141 cũng quy định trường hợp hộ, cá nhân mới ra kinh doanh hoặc năm trước có doanh thu dưới ngưỡng chịu thuế nhưng trong năm tính thuế phát sinh doanh thu trên 1 tỉ đồng thì phải áp dụng hóa đơn điện tử theo quy định.
Thời hạn đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử là 30 ngày kể từ ngày cuối cùng của kỳ tính thuế có doanh thu lũy kế vượt 1 tỉ đồng.
Ngoài các quy định trên, Chính phủ miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có doanh thu năm từ 1 tỉ đồng trở xuống.
Theo Bộ Tài chính, việc bổ sung ngưỡng miễn thuế cho doanh nghiệp nhằm bảo đảm công bằng với hộ, cá nhân kinh doanh, đồng thời khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp để hoạt động minh bạch, chuyên nghiệp hơn.
Ước tính có khoảng 235.800 doanh nghiệp được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, với tổng số thuế được miễn hơn 2.100 tỉ đồng.
Đây cũng là một trong những chính sách góp phần thực hiện mục tiêu tại Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Theo đó, đến năm 2030 cả nước có 2 triệu doanh nghiệp và đến năm 2045 có 3 triệu doanh nghiệp.
Bộ Tài chính cho biết chính sách hiện hành đang miễn thuế 2 năm đầu cho hộ kinh doanh chuyển lên doanh nghiệp. Trong quý 1 năm nay, số hộ chuyển đổi thành doanh nghiệp đạt 1.600, gấp 7,7 lần cùng kỳ.
Thông tin được Ngân hàng Nhà nước nêu trong báo cáo về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước vừa công bố.
Theo cơ quan quản lý, dự trữ ngoại hối từng đạt mức kỷ lục gần 112 tỷ USD vào tháng 1/2022, tăng mạnh so với mức 34 tỷ USD cuối năm 2014 nhờ mua ngoại tệ trong các giai đoạn thị trường thuận lợi.
Tuy nhiên, từ năm 2022, thị trường tài chính toàn cầu biến động mạnh khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng và duy trì lãi suất ở mức cao, cùng với tác động của dịch Covid-19, căng thẳng địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng và biến động giá năng lượng. Các yếu tố này gây áp lực lên tỷ giá và thị trường ngoại hối trong nước.
Do đó, Ngân hàng Nhà nước cho biết đã sử dụng một phần dự trữ ngoại hối để can thiệp thị trường ngoại hối, góp phần bảo đảm thanh khoản ngoại tệ, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế, hỗ trợ ổn định tỷ giá, kiểm soát lạm phát và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.
Cùng với báo cáo trên, Ngân hàng Nhà nước lấy ý kiến dự thảo nghị định sửa đổi Nghị định 50 với một số đề xuất mới nhằm tăng tính linh hoạt trong quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước.
Theo đó, cơ quan này đề xuất loại trừ thu nhập và chi phí liên quan đến hoạt động đầu tư vàng khỏi tiêu chí đánh giá sinh lời của dự trữ ngoại hối. Theo Ngân hàng Nhà nước, việc nắm giữ vàng của các ngân hàng trung ương chủ yếu nhằm đa dạng hóa danh mục đầu tư, phòng ngừa rủi ro và bảo đảm thanh khoản thay vì nhằm tối đa lợi nhuận.
Dự thảo cũng bổ sung công cụ quyền chọn vào các hình thức can thiệp thị trường và cho phép thực hiện giao dịch ngoại tệ từ quỹ dự trữ ngoại hối với tổ chức tín dụng bị rút tiền hàng loạt để hỗ trợ thanh khoản.
Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung quyền rút vốn đặc biệt (SDR) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vào nguồn hình thành dự trữ ngoại hối nhà nước.
Bên cạnh đó, cơ quan quản lý đề xuất giảm tần suất phê duyệt cơ cấu đầu tư dự trữ ngoại hối từ 6 tháng xuống một năm. Tiêu chuẩn và hạn mức đầu tư sẽ được điều chỉnh khi cần thiết, thay vì định kỳ như hiện nay, nhằm tăng tính chủ động trong quản lý danh mục dự trữ.