Tính tới năm 2025, Việt Nam đã xuất siêu liên tiếp 10 năm. Mức xuất siêu năm 2025 khá cao, trên 20 tỉ USD. Tuy nhiên, 5 tháng đầu năm nay, Việt Nam lại nhập siêu gần 14 tỉ USD, đặt ra nhiều băn khoăn về khả năng đảo chiều cán cân thương mại.
Trao đổi với Thanh Niên, ông Trần Thanh Hải, Phó cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), đánh giá, nhìn tổng thể, triển vọng xuất, nhập khẩu trong các tháng cuối năm phụ thuộc lớn vào diễn biến kinh tế thế giới, tình hình địa chính trị, xu hướng giá năng lượng và kết quả đàm phán thương mại của các nền kinh tế lớn.
Bên cạnh đó, tiến trình đàm phán thuế quan với Mỹ sẽ tiếp tục là một trong những yếu tố có ảnh hưởng đáng kể đến triển vọng xuất khẩu của Việt Nam.
Theo tiến sĩ kinh tế Lê Bá Chí Nhân, nửa cuối năm, xuất khẩu hàng hóa vẫn có nhiều cơ hội, nhưng thách thức sẽ phức tạp, đa chiều hơn.
Khó khăn lớn nhất là sự suy giảm và phân hóa của nhu cầu tại các thị trường chủ lực (Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản). Kinh tế thế giới tăng trưởng chậm chạp, lạm phát dai dẳng ở một số khu vực khiến người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu với các mặt hàng phi thiết yếu như dệt may, da giày, đồ gỗ, điện tử tiêu dùng – những ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giỏ xuất khẩu Việt Nam.
Cạnh đó, xu hướng bảo hộ thương mại và hàng rào phi thuế quan gia tăng mạnh. Các nước phát triển ngày càng sử dụng tiêu chuẩn môi trường (CBAM của EU), lao động, truy xuất nguồn gốc và quy tắc xuất xứ để hạn chế hàng nhập khẩu. Doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là nhỏ và vừa, đang gặp khó khăn trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn này.
Ông Nhân cũng đề cập tới rủi ro địa chính trị và chi phí logistics tăng cao. Biến động biển Đỏ, giá năng lượng và cước vận tải biển có thể làm bào mòn lợi nhuận xuất khẩu vốn đã mỏng.
Cạnh tranh quốc tế đang chuyển dịch căn bản: từ cạnh tranh giá thành sang cạnh tranh về công nghệ, xanh hóa và phát triển bền vững. Các thị trường lớn đòi hỏi sản phẩm phải giảm phát thải carbon, sử dụng năng lượng sạch và tuân thủ ESG. Đây là thách thức dài hạn đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải chuyển đổi số, đầu tư công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo ông Nhân, nhập khẩu mạnh nửa đầu năm thường là tiền đề cho xuất khẩu tăng tốc các quý sau nhờ chu kỳ sản xuất. Nửa cuối năm cũng là mùa cao điểm mua sắm cuối năm tại Mỹ và EU, tạo động lực quan trọng.
Khả năng cải thiện cán cân thương mại trong nửa cuối năm khá cao, nhưng không nên kỳ vọng xuất siêu ở mức cao kỷ lục như các năm trước.
Kịch bản cơ sở là nhập siêu sẽ thu hẹp dần, có thể chuyển sang cân bằng hoặc xuất siêu nhẹ vào cuối năm. Dù kết quả cuối năm không đạt xuất siêu lớn, điều đó cũng chưa hẳn tiêu cực nếu nguyên nhân chính đến từ đầu tư sản xuất mạnh mẽ và nâng cấp năng lực công nghiệp.
“Quan trọng hơn con số xuất siêu là chất lượng tăng trưởng thương mại: nâng cao giá trị gia tăng, tăng tỷ lệ nội địa hóa và củng cố vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu”, ông Nhân nhấn mạnh.
Ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính – Ngân hàng (Trường đại học Nguyễn Trãi), phân tích, kinh nghiệm từ các năm 2024 và 2025 cho thấy, nửa cuối năm thường là giai đoạn xuất khẩu tăng tốc mạnh hơn nhờ sự phục hồi của các ngành hàng chủ lực như điện tử, máy tính, điện thoại, dệt may, da giày và đồ gỗ. Đây là cơ sở để kỳ vọng cán cân thương mại có thể được cải thiện.
Tuy nhiên, khác với các năm trước, năm 2026 đang đối mặt với mức độ bất định của kinh tế thế giới cao hơn đáng kể. Mục tiêu phù hợp hiện nay là phấn đấu cải thiện dần cán cân thương mại trong nửa cuối năm, hướng tới duy trì trạng thái thặng dư thương mại cho cả năm 2026.
Về giải pháp, ông Huy cho rằng, cần đặc biệt nâng cao chất lượng công tác dự báo, phân tích và cảnh báo sớm diễn biến thị trường quốc tế để hỗ trợ doanh nghiệp chủ động xây dựng phương án sản xuất, xuất khẩu.
Cạnh đó, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và mở rộng thị trường xuất khẩu; hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn môi trường và các yêu cầu kỹ thuật ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu…
Tại Hội thảo văn hóa kinh doanh gắn với chấp hành pháp luật tổ chức chiều 3.4, tại Hà Nội, nhiều hộ kinh doanh bày tỏ lo ngại sai sót trong hồ sơ hoặc bị phạt vì chậm kê khai thuế quý 1 - kỳ kê khai thuế đầu tiên sau khi xóa thuế khoán.
Giải đáp vấn đề này, ông Nguyễn Thanh Phúc, đại diện Công ty Luật và Kế toán Việt Mỹ, cho biết, hộ kinh doanh kê khai thuế chậm sẽ bị xếp vào nhóm rủi ro và bị xử phạt theo quy định tại điều 13 Nghị định 125/2020/NĐ-CP.
Hành vi vi phạm về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế bị xử phạt như sau: phạt cảnh cáo đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn từ 1 - 5 ngày và có tình tiết giảm nhẹ; phạt tiền từ 2 - 5 triệu đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn từ 1 - 30 ngày; phạt tiền từ 5 - 8 triệu đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định từ 31 - 60 ngày.
Hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định từ 61 - 90 ngày bị phạt tiền từ 8 - 15 triệu đồng.
Phạt tiền từ 15 - 25 triệu đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn trên 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế, có phát sinh số thuế phải nộp và người nộp thuế đã nộp đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế hoặc trước thời điểm cơ quan thuế lập biên bản về hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế…
"Mức phạt áp dụng với hộ kinh doanh bằng một nửa so với doanh nghiệp. Như vậy, nếu chậm từ 1 - 5 ngày và là lần đầu, hộ kinh doanh có thể chỉ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo. Tuy nhiên, từ lần vi phạm thứ hai trở đi, nếu chậm từ 1 - 30 ngày sẽ bị phạt từ 1 - 2,5 triệu đồng; chậm từ 61 - 90 ngày, mức phạt tăng lên 4 - 7,5 triệu đồng. Với hành vi chậm trên 90 ngày (từ ngày thứ 91 trở đi), hộ kinh doanh có thể bị phạt từ 7,5 - 12,5 triệu đồng", ông Phúc phân tích.
Ngoài ra, nếu kê khai đúng hạn nhưng chậm nộp tiền thuế đã phát sinh, hộ kinh doanh còn phải chịu tiền chậm nộp. Mức tính là 0,03%/ngày nhân (x) với số ngày chậm nộp và số tiền thuế chậm nộp.
Tại hội thảo, hộ kinh doanh Nguyễn Thị Thùy Dung (Hà Nội) hiện kinh doanh mặt hàng dụng cụ thể thao đặt câu hỏi: nếu đầu năm, hộ đăng ký kinh doanh theo mức một (doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống - PV), nhưng sau đó, doanh thu vượt 500 triệu đồng thì hộ có bắt buộc phải chuyển sang mức hai hay không?
Ngoài ra, khi doanh thu đạt 1 tỉ đồng, hộ kinh doanh có phải đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử và xuất hóa đơn ngay tại thời điểm vượt ngưỡng hay không?
Bà Nguyễn Thị Thu Hà (Ban Chính sách, thuế quốc tế, Cục Thuế) cho biết, theo quy định tại Nghị định 68/2026/NĐ-CP, nếu từ quý 2, doanh thu của hộ kinh doanh đã vượt trên 500 triệu đồng thì phải thực hiện kê khai thuế theo phương thức tương ứng kể từ quý đó.
Đối với sử dụng hóa đơn điện tử, khi doanh thu trong năm vượt 1 tỉ đồng thì hộ kinh doanh phải đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử. Thời hạn thực hiện là trong vòng 30 ngày kể từ khi kết thúc kỳ kê khai thuế của quý phát sinh mức doanh thu vượt ngưỡng.
"Cơ quan thuế khuyến nghị các hộ kinh doanh chủ động theo dõi sát doanh thu thực tế để kịp thời chuyển đổi phương thức kê khai, thực hiện nghĩa vụ hóa đơn", bà Hà nhấn mạnh.
Lãi suất cho vay bất động sản (BĐS) đã và đang tăng cao, lên đến 14 - 15%/năm, các hợp đồng cũ còn bị điều chỉnh cao hơn. Nhưng đáng lo ngại hơn là vay mua BĐS, đầu tư hay cho nhu cầu ở thực, lúc này không đơn giản.
Tình trạng này xuất phát từ việc siết cho vay BĐS để kiểm soát tín dụng an toàn, hiệu quả của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Theo số liệu từ NHNN, năm 2025 tín dụng BĐS tăng khoảng 22%, nhưng nếu tính đầy đủ các khoản vay tiêu dùng có liên quan đến BĐS, mức tăng thực tế có thể lên tới 28 - 30%.
https://www.youtube.com/watch?v=ISTVVtVo1ro
Trước thực tế này, NHNN đã yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm soát chặt tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm 2026. Theo đó, dư nợ tín dụng trong 3 tháng đầu năm không được vượt quá 25% chỉ tiêu tăng trưởng cả năm (ở mức khoảng 15%). Đặc biệt, dư nợ cho vay BĐS tại mỗi NH không được tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung. Đây được xem là bước đi nhằm hạn chế rủi ro khi thị trường BĐS có dấu hiệu tăng nhanh trở lại sau giai đoạn trầm lắng.
Ngay sau chỉ đạo của NHNN, một số NH đã tạm dừng cho vay BĐS, lãi vay mua nhà đất cũng tăng vọt... Trong bối cảnh VN đang thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, siết tín dụng BĐS - ngành kinh tế có liên quan đến hơn 40 lĩnh vực khác nhau, chiếm 12% trong GDP... - có thể ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng chung.
Vậy siết cho vay BĐS thế nào để vừa bảo đảm an toàn tín dụng, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế? Câu trả lời sẽ được làm rõ tại hội thảo "Tín dụng BĐS, kiểm soát thế nào để phát triển" do Báo Thanh Niên tổ chức lúc 8 giờ 30 sáng 17.4 với sự tham gia của đại diện NHNN, đại diện Bộ Xây dựng, các chuyên gia kinh tế hàng đầu VN và đặc biệt các DN, NH hàng đầu VN như VietinBank, HDbank, ACB, Novaland, CC1, SCCI, HASCO... để cùng phác họa bức tranh thị trường BĐS và tìm giải pháp hiệu quả nhất cho người dân, DN có nhu cầu vay vốn.
Hội thảo được trực tiếp trên các nền tảng của Báo Thanh Niên.
Ngày 26.5, Bộ Công thương đã thông tin về những góp ý từ VAMA và VAMM đánh giá về độ tương thích của các dòng xe đối xăng E10 sẽ được bán thay thế xăng khoáng từ ngày 1.6. Các góp ý này được 2 hiệp hội nói trên gửi từ Bộ Công thương từ tháng 8.2025.
Đánh giá tính phù hợp, mức độ ảnh hưởng của xăng sinh học E10 RON 95 đối với các loại động cơ theo từng thời kỳ sản xuất, VAMA cho rằng, về sơ bộ các mẫu xe đang sản xuất ở thời điểm hiện tại đều tương thích với xăng E10.
Tuy nhiên, VAMA cho rằng, vẫn tồn tại quan ngại về các mẫu xe sản xuất trong quá khứ thời điểm mà xăng E10 chưa phổ biến, các mẫu xe này vốn không được thiết kế để tương thích với xăng E10, có thể gặp các vấn đề về vận hành khi sử dụng xăng E10.
VAMA dẫn thông tin của một hãng thành viên, mẫu ô tô tải hạng nhẹ của hãng được sản xuất từ năm 1996 nên chưa tương thích với xăng E10. Mẫu xe này đã dừng sản xuất năm 2023 và tính tới nay thì số lượng mẫu xe này được bán ra thị trường là hơn 60.000 xe.
Ngoài ra, một số hãng khác hiện đang tiến hành rà soát lại toàn bộ các mẫu xe đã lưu hành trong quá khứ để tổng hợp số lượng cũng như đánh giá tác động của nhiên liệu E10 đối với hoạt động của các xe này. Qua rà soát, các hãng đều có chung nhận định rằng đối với các mẫu xe sản xuất trước năm 2006, sẽ có một số mẫu xe không tương thích với xăng E10.
Cũng trong văn bản gửi Bộ Công thương, VAMA ủng hộ chủ trương mở rộng bán xăng sinh học E10RON 95 của Chính phủ để giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, việc ngay lập tức bán 100% xăng E10 trên toàn thị trường sẽ ảnh hưởng tới người dân đang sở hữu những dòng xe cũ không tương thích với xăng E10.
Do vậy, VAMA đề xuất bán song song xăng E10 cùng với xăng khoáng, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền để người dân có xe tương thích chủ động chuyển đổi sang sử dụng xăng E10.
Ngoài ra, VAMA đề xuất kiểm soát chặt chẽ chất lượng xăng E10 trong tất cả các khâu: phối trộn, tồn trữ, vận chuyển, phân phối. Đồng thời, đề xuất sử dụng xăng E10 RON 95 có mức tiêu chuẩn khí thải tối thiểu là Euro 4, vì theo Quyết định số 49/2011/QĐ-TTg ngày 1.9.2011 của Thủ tướng Chính phủ, Việt Nam đã áp dụng tiêu chuẩn khí thải mức 4 từ ngày 1.1.2017 và áp dụng mức 5 từ ngày 1.1.2022 đối với các loại xe ô tô sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới.
VAMA cho rằng, việc sử dụng xăng E10RON 95 có mức tiêu chuẩn Euro thấp hơn Euro 4 sẽ không tương thích với các sản phẩm ô tô sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu mới, ảnh hưởng tới hoạt động của động cơ, độ bền xe và khí thải.
Đại diện 5 hãng xe máy thành viên: Honda, Yamaha, Piaggio, SYM và Suzuki, VAMM cũng gửi văn bản của Bộ Công thương xác nhận, các đời xe máy của thương hiệu nói trên đều tương thích và không phải thay đổi về kỹ thuật. Riêng với Suzuki, trừ các đời xe sau đang chờ thông tin xác thực về việc tương thích: Viva 110, Smash, Smash Revo, Shogun, Amity, AN125, GN125, Hayate, EN150, Gz150, UA125, GD110.
VAMM hoàn toàn đồng ý với định hướng mở rộng sử dụng xăng E10; tuy nhiên cần lưu ý việc xăng sử dụng cho phương tiện giao thông phải có chất lượng đảm bảo tiêu chuẩn tương ứng với tiêu chuẩn khí thải của phương tiện.
Theo VAMM, từ năm 2017, các loại xe mô tô hai bánh sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới phải áp dụng tiêu chuẩn khí thải mức III (Quyết định 49/2011/QĐ-TTG ngày 1.9/2011) và từ ngày 1.7.2026 áp dụng mức IV (Quyết định 19/2024/QĐ-TTG ngày 15.11.2024).
Do vậy, VAMM đề xuất phối trộn xăng E10 có tiêu chuẩn phù hợp với lộ trình tiêu chuẩn khí thải của xe máy để đảm bảo hiệu quả vận hành cho xe.
Theo Thông tư số 50/2025/TT-BCT của Bộ Công thương, từ ngày 1.6.2026, xăng không chì phải phối trộn, pha chế thành xăng sinh học E10RON 95 để sử dụng cho động cơ xăng trên toàn quốc; tiếp tục phối trộn, pha chế xăng E5RON 92 để sử dụng cho động cơ xăng đến hết 31.12.2030.