Những ngày gần đây, giá sầu riêng tại nhiều vùng trồng ở miền Tây liên tục lao dốc. Có thời điểm, sầu riêng Ri6 xô (sầu riêng bán theo lô bán nguyên lô hoặc toàn bộ trái trên cây bao gồm cả loại đẹp (loại A) và loại nhỏ/xấu hơn (loại B, C) với cùng một mức giá, thường rẻ hơn mua chọn từng trái) chỉ được thương lái thu mua ở mức 23.000 – 28.000 đồng/kg, thấp hơn rất nhiều so với cùng kỳ năm ngoái.
Tuy nhiên, trái ngược với giá tại vườn, khi đến tay người tiêu dùng tại các chợ, siêu thị hay cửa hàng trái cây, sầu riêng Ri6 vẫn được bán với giá từ 50.000 – 100.000 đồng/kg tùy loại, thậm chí cao hơn đối với hàng tuyển chọn.
Khoảng cách lớn giữa giá thu mua và giá bán lẻ khiến nhiều người không khỏi thắc mắc: Vì sao nông dân bán rẻ nhưng người tiêu dùng vẫn phải mua với giá cao gấp nhiều lần?
Chị Nguyễn Thị Linh (chủ vườn sầu riêng tại xã Ngũ Hiệp, Đồng Tháp) cho biết, chưa năm nào đầu ra khó khăn như hiện nay. Theo chị Linh, thị trường xuất khẩu đang chững lại, trong khi nhiều địa phương bước vào chính vụ khiến nguồn cung tăng mạnh.
“Có thời điểm thương lái chỉ trả hơn 25.000 đồng/kg Ri6 xô. Giá này thấp hơn rất nhiều so với năm ngoái nhưng không bán cũng không được vì trái chín rất nhanh. Càng để lâu càng dễ nứt, sượng rồi lỗ nặng hơn”, chị Linh chia sẻ.
Theo nhiều nhà vườn, mức giá thương lái thu mua thực chất chỉ là giá “thô”, chưa qua tuyển chọn hay phân loại chất lượng. Dù vậy, điều khiến cả người trồng lẫn người mua khó hiểu là giá bán ngoài thị trường lại cao gấp đôi, thậm chí gấp ba lần.
Theo tìm hiểu của PV, để đến tay người tiêu dùng, một trái sầu riêng phải đi qua khá nhiều khâu trung gian như thương lái, vựa thu mua, kho phân loại, đầu mối phân phối rồi mới tới cửa hàng bán lẻ hoặc siêu thị. Mỗi công đoạn đều phát sinh thêm chi phí vận hành và lợi nhuận, khiến giá bán cuối cùng bị đẩy lên đáng kể.
Trao đổi với PV, anh Đỗ Ngọc Anh Tú (chủ một vựa thu mua sầu riêng tại Cái Bè, Đồng Tháp) cho rằng, nhiều người hiện chỉ nhìn vào giá mua tại vườn rồi so sánh trực tiếp với giá bán lẻ mà chưa hình dung hết các khoản chi phí phát sinh phía sau.
Theo anh Tú, sau khi thu mua từ nhà vườn, sầu riêng phải được vận chuyển về kho để tuyển lựa kỹ càng. Những trái đẹp, cơm vàng, chín đồng đều mới đủ tiêu chuẩn đưa vào siêu thị hoặc các cửa hàng cao cấp. Trong khi đó, những trái bị sâu, nứt, sượng hoặc mẫu mã xấu sẽ phải bán giá thấp, thậm chí loại bỏ.
“Không phải mua 10 tấn là bán được đủ 10 tấn. Tỷ lệ hao hụt của sầu riêng khá cao vì đây là loại trái cây khó bảo quản, dễ hư hỏng trong quá trình vận chuyển”, anh Tú cho biết.
Theo nhiều chủ vựa, tỷ lệ hao hụt của sầu riêng có thể lên tới 15 – 20%, đặc biệt trong thời tiết nắng nóng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến giá bán lẻ bị đẩy lên cao.
Bên cạnh đó, chi phí logistics hiện nay cũng tăng đáng kể. Với các chuyến hàng vận chuyển từ miền Tây lên Tp.HCM hoặc ra các tỉnh phía Bắc, chi phí xe lạnh, kho lạnh, nhân công bốc xếp và đóng gói đều tăng so với trước.
Cũng theo anh Tú cho biết, để giữ được chất lượng trái khi đến nơi tiêu thụ, sầu riêng bắt buộc phải được bảo quản trong điều kiện nhiệt độ ổn định. Riêng chi phí kho lạnh và vận chuyển đã chiếm tỷ trọng khá lớn trong giá thành cuối cùng.
Trong khi nhà vườn than lỗ, người tiêu dùng ở đô thị cũng bất ngờ khi giá sầu riêng ngoài thị trường vẫn neo ở mức cao.
Chị Minh Anh (ngụ phường Mỹ Tho) cho biết thường xuyên đọc tin tức về giá sầu riêng nhưng khi đi mua vẫn phải trả gần 70.000 đồng/kg Ri6 loại đẹp.
“Thấy báo đăng giá tại vườn chỉ hơn 20.000 đồng/kg mà ra cửa hàng vẫn bán cao nên tôi khá thắc mắc. Cuối cùng người tiêu dùng vẫn là người phải chịu giá cao”, chị Minh Anh nói.
Trước những thắc mắc này, nhiều tiểu thương bán lẻ cho rằng lợi nhuận thực tế không cao như nhiều người nghĩ.
Tại một cửa hàng trái cây ở Mỹ Tho, chị Phạm Thị Bích Liên cho biết chi phí mặt bằng, điện lạnh và nhân công hiện đều tăng mạnh. Trong khi đó, sầu riêng lại là mặt hàng có tỷ lệ hao hụt rất lớn.
“Sầu riêng không giống rau củ để được lâu. Nếu bán chậm vài ngày là xuống chất lượng ngay. Nhiều trái bên ngoài đẹp nhưng bên trong bị sượng thì người bán phải chịu”, chị Liên nói.
Theo chị Liên, khách hàng hiện ngày càng kỹ tính nên khâu tuyển chọn phải thực hiện rất nghiêm ngặt. Có khi nhập cả trăm ký nhưng vẫn phải loại bỏ một phần vì không đạt chất lượng.
Tương tự, chị Lê Thị Tám cho biết nhiều khách hàng nghĩ người bán lẻ “ăn dày”, nhưng thực tế lợi nhuận không quá lớn do phải bù vào phần hao hụt và hàng hư hỏng.
“Chỉ cần bán ra vài trái bị sượng là mất khách ngay. Vì vậy tụi tôi phải kiểm hàng rất kỹ, chấp nhận bỏ những trái không đạt để giữ uy tín”, chị Tám chia sẻ.
Có thể thấy, nghịch lý “nông dân bán rẻ, người mua vẫn phải trả giá cao” cho thấy chuỗi phân phối nông sản hiện vẫn còn quá nhiều tầng nấc trung gian. Phần lớn trái cây hiện nay vẫn phụ thuộc vào thương lái nhỏ lẻ, thiếu hệ thống kho lạnh và liên kết tiêu thụ trực tiếp nên chi phí bị cộng dồn qua từng khâu.
Nghị định 245/2026, các khoản thuế và tiền thuê đất được lùi thời hạn nộp thêm từ 2 đến 5 tháng, tùy từng kỳ khai.
Đối tượng áp dụng là các doanh nghiệp, tổ chức (bao gồm cả chi nhánh, đơn vị trực thuộc thực hiện khai thuế VAT riêng, khai thuế thu nhập doanh nghiệp riêng với cơ quan thuế quản lý trực tiếp), hộ gia đình, cá nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, hoạt động sản xuất, kinh doanh; doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ được xác định theo quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Nghị định số 80 của Chính phủ.
Đối với việc gia hạn nộp thuế thu nhập cá nhân, thời gian gia hạn đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tối đa là 5 tháng.
Cụ thể, kỳ tính thuế tháng 5 chậm nhất là ngày 20/11; kỳ tính thuế tháng 6, 7, 8, 9 chậm nhất là ngày 21/12; kỳ tính thuế quý II chậm nhất là ngày 2/11; kỳ tính thuế quý III chậm nhất là ngày 30/12. Quy định nêu trên không áp dụng đối với số thuế VAT khâu nhập khẩu.
Đối với gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thời gian gia hạn đối với số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp của quý II là 3 tháng; thời gian gia hạn đối với số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp của quý III là 2 tháng.
Số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp của quý II chậm nhất ngày 2/11. Số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp của quý III chậm nhất ngày 30/12.
Đối với việc gia hạn nộp tiền thuê đất, thời gian gia hạn đối với 50% số tiền thuê đất phát sinh phải nộp năm 2026 là 5 tháng.
Đối với 50% số tiền thuê đất phát sinh phải nộp năm 2026 (là số tiền thuê đất phải nộp kỳ thứ nhất năm 2026) của người nộp thuế đang được Nhà nước cho thuê đất trực tiếp theo quyết định hoặc hợp đồng của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền dưới hình thức trả tiền thuê đất hàng năm: thời hạn nộp tiền thuê đất được gia hạn chậm nhất là ngày 2/11.
Trường hợp người nộp thuế khai bổ sung hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế được gia hạn dẫn đến làm tăng số phải nộp và gửi đến cơ quan thuế trước khi hết thời hạn nộp thuế được gia hạn thì số thuế được gia hạn bao gồm cả số phải nộp tăng thêm do khai bổ sung.
Trường hợp người nộp thuế khai bổ sung hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế được gia hạn sau khi hết thời hạn nộp thuế được gia hạn thì không được gia hạn số phải nộp tăng thêm do khai bổ sung.
Trước đó, Bộ Tài chính ước tính tổng số thuế và tiền thuê đất được gia hạn theo chính sách này khoảng 125.000 tỷ đồng. Theo Bộ Tài chính, biện pháp này giúp doanh nghiệp cải thiện dòng tiền, bổ sung vốn lưu động, nhưng không làm giảm dự toán thu ngân sách.
Bộ Tài chính cho biết, trong các năm từ 2020 đến 2025, việc gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất đã hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh cân đối nguồn tài chính để tập trung hồi phục sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tại buổi họp báo thường kỳ quý 1 của Bộ Tài chính chiều 9.4, ông Lê Long, Phó cục trưởng Cục Thuế (Bộ Tài chính), cho biết, cơ quan thuế đã xác định một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp có doanh thu lớn nhưng kê khai lỗ.
Việc doanh nghiệp kê khai kết quả hoạt động thua lỗ hoặc lãi rất thấp có thể do nhiều nguyên nhân.
"Tuy nhiên, qua thực tế quản lý, cơ quan thuế phát hiện nhiều trường hợp doanh nghiệp có kết quả sản xuất kinh doanh thua lỗ nhiều năm vẫn tiếp tục mở rộng quy mô, tăng vốn đầu tư... Điều này đặt ra nhiều nghi vấn về tính trung thực trong thực hiện đúng các quy định của pháp luật về thuế, kế toán…", ông Long nhấn mạnh.
Để khắc phục tình trạng doanh nghiệp kê khai lỗ nhiều năm, cơ quan thuế đã tăng cường rà soát việc khai thuế, nộp thuế của các doanh nghiệp, kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế...
Liên quan tới quản lý thuế với doanh nghiệp thua lỗ nhiều năm, lãi mỏng, trong công văn mới đây, Cục Thuế đề nghị Chi cục Thuế doanh nghiệp lớn và thuế các tỉnh, thành phố trực tiếp quản lý thực hiện xây dựng chuyên đề kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế đối với 19 doanh nghiệp. Trường hợp không thể thực hiện kiểm tra, các đơn vị phải báo cáo rõ lý do.
19 doanh nghiệp này đều là "ông lớn" hoạt động trong nhiều ngành như thép, thủy sản, thức ăn chăn nuôi, vận tải biển... Cụ thể như bảng dưới đây:
Khi thực hiện kiểm tra đối với doanh nghiệp thua lỗ nhiều năm, lãi mỏng, cần lưu ý tính hợp lý của doanh thu - chi phí - lợi nhuận, đặc biệt các khoản chi phí lớn, bất thường. So sánh, đối chiếu tỷ lệ biến động của doanh thu với tỷ lệ biến động của chi phí đầu vào tương ứng; rà soát, đối chiếu với các hồ sơ, tài liệu liên quan.
Kiểm tra thời điểm, căn cứ ghi nhận doanh thu và thuế giá trị gia tăng đầu ra bảo đảm đúng kỳ hạch toán, kê khai; đối chiếu các hồ sơ liên quan để xác định việc ghi nhận doanh thu, xác định số thuế phải nộp đúng quy định, tránh ghi nhận thiếu hoặc kê khai không đúng.
Rà soát việc kê khai thuế giá trị gia tăng đầu vào - đầu ra, kiểm tra hóa đơn, chứng từ bảo đảm hợp lệ và đúng kỳ kê khai.
Kiểm tra, rà soát các hồ sơ tài liệu của các khoản chi phí giá vốn, chi phí quản lý, chi phí bán hàng... phát sinh trong kỳ đảm bảo các khoản chi phí nêu trên phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngoài ra, cần lưu ý kiểm tra các khoản chi phí lãi vay nội bộ tập đoàn; chi phí dịch vụ nội bộ tập đoàn như: chi phí dịch vụ trung tâm, chi phí ủy thác, chi phí hỗ trợ quản lý, chi phí bản quyền, nhượng quyền thương mại... đảm bảo phù hợp bản chất giao dịch độc lập và góp phần tạo ra doanh thu, thu nhập cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế; kiểm tra, rà soát kỹ các hợp đồng mua - bán hàng hóa với các bên có quan hệ liên kết, đảm bảo nguyên tắc độc lập trong việc xác định giá mua, giá bán hàng hóa.
Bên cạnh kiểm tra ngay 19 doanh nghiệp nêu trên, Cục Thuế đã rà soát, tổng hợp danh sách một số doanh nghiệp có doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ từ 1.000 tỉ đồng trở lên có phát sinh lỗ liên tiếp 2 năm 2023 và 2024, tổng là 302 doanh nghiệp.
Đơn vị này đề nghị thuế các tỉnh, thành phố, Chi cục Thuế doanh nghiệp lớn, Chi cục Thuế thương mại điện tử rà soát danh sách, cập nhật số liệu về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh theo số liệu kê khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025 của các doanh nghiệp trực tiếp quản lý để phân tích, xác định các doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế và đưa vào kế hoạch kiểm tra theo chuyên đề của năm 2026.
Danh sách doanh nghiệp đề xuất đưa vào kế hoạch kiểm tra theo chuyên đề, các đơn vị báo cáo về cục trong tháng 4.
Các đơn vị thực hiện những đề nghị về kiểm tra chuyên đề nêu trên ngay trong tháng 4, kết thúc kiểm tra chậm nhất trong tháng 12.
Thông tin từ các nhà vườn, giá vải bán vào các điểm cân xuất khẩu sang Trung Quốc tại xã Nam Dương, tỉnh Bắc Ninh những ngày vừa qua liên tục "phá đỉnh". Mỗi khi người dân chở vải ra đường, luôn có đến 2 - 3 thương lái bám theo để xem hàng, ngã giá.
Chở vải đến điểm cân sáng 31.5, anh Hoàng Văn Phượng, thôn Bến Huyện dễ dàng bán xong xe hàng với giá 60.000 đồng/kg, tăng gần 10.000 đồng/kg so với thời điểm cách đây 2 ngày.
Trước đó, ngày 29.5, giá vải chỉ hơn 50.000 đồng/kg đối với loại u hồng, từ 55.000 - 60.000 đồng/kg với loại vải Thanh Hà. Nhưng đến ngày 31.5, giá vải Thanh Hà loại đẹp nhất lập đỉnh mới khi thương lái Trung Quốc trả giá lên tới 70.000 đồng/kg.
"Vải Thanh Hà vỏ dày nên dễ vận chuyển đi xa, thương lái Trung Quốc rất thích mua. Nếu chọn được xe hàng đẹp, họ trả giá rất cao, quyết mua bằng được. Còn vải thiều, dự báo giá năm nay giá sẽ cao như mùa vụ năm 2024, bán tại vườn có thể lên hơn 100.000 đồng/kg", anh Phượng nói.
Cũng theo anh Phượng, vườn nhà của gia đình năm nay may mắn được khoảng 70% sản lượng so với năm 2025, dự kiến khi bán hết hàng, số tiền thu về khoảng 200 - 300 triệu đồng.
Còn tại xã Phúc Hòa - vùng vải trọng điểm chín sớm nhất tỉnh Bắc Ninh, chỉ sau hơn 10 ngày thu hoạch, vụ vải năm nay gần như đã kết thúc. Các nhà vườn không còn hàng để bán. Cuối vụ, giá vải u trứng loại to nhất, khoảng 17 - 18 quả/kg được thương lái săn lùng với giá từ 100.000 - 120.000/kg nhưng đã sớm "cháy hàng".
Đang liên kết với nhiều nhà vườn tại xã Phúc Hòa (Bắc Ninh) và xã Thanh Hà (Hải Phòng) để lấy hàng xuất khẩu, bà Ngô Thị Thu Hồng, Tổng giám đốc Công ty CP Ameii Việt Nam, cho biết doanh nghiệp này đang thu mua loại u hồng từ 38.000 - 42.000 đồng/kg. Còn vải thiều chính vụ, giá chốt hiện nay từ 60.000 - 62.000 đồng/kg, cao hơn giá thị trường khoảng 15%.
Tại hội nghị xúc tiến tiêu thụ vải thiều mùa vụ năm 2026 do UBND tỉnh Bắc Ninh tổ chức trong ngày 28.5, các doanh nghiệp có nhu cầu thu mua số lượng lớn vải tươi Bắc Ninh để tiêu thụ trong nước, hoặc xuất khẩu.
Trực tiếp khảo sát vùng trồng vải ở Bắc Ninh, ông Olivier Langlet, Tổng giám đốc Tập đoàn Central Retail Việt Nam, doanh nghiệp đã lên kế hoạch đưa vải vào tiêu thụ trong hệ thống bán lẻ của tập đoàn này, đặt mục tiêu thu mua gấp đôi sản lượng so với năm 2025.
Trong ngày 4.6, Central Retail sẽ đưa vải Bắc Ninh vào trưng bày ở vị trí đẹp nhất trong Tuần lễ trái cây Việt Nam diễn tại Đồng Tháp, quảng bá loại trái cây đặc sản này với người dân phía nam.
Chia sẻ với Thanh Niên, bà Ngô Thị Thu Hồng tiết lộ, qua rà soát vùng nguyên liệu, ngay từ đầu vụ doanh nghiệp đã ký các đơn hàng xuất khẩu tổng khối lượng trên 1.000 tấn quả tươi. Hiện tại, mỗi tuần sản lượng xuất khẩu đều đạt trên 100 tấn đi các nước Nhật, Mỹ, Úc...
"Mối lo lớn trong mùa vải năm nay là chất lượng. Có lẽ mất mùa, quả vải thưa nên sâu phát triển mạnh, rất nhiều quả bị sâu đầu nhưng khó phát hiện, rủi ro rất lớn khi xuất khẩu. Tỷ lệ lọc loại nhiều, chúng tôi đang lo sẽ không có đủ nguyên liệu để trả hàng theo đơn cho các đối tác", bà Hồng nói.
Sang Bắc Ninh khảo sát vùng nguyên liệu lên kế hoạch thu mua, ông Trần Ân Đồng, đại diện doanh nghiệp chuyên gia công nông sản tại tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), cho biết các doanh nghiệp Trung Quốc có nhu cầu nhập khẩu số lượng lớn vải Bắc Ninh để phục vụ nhu cầu của người dân trong nước. Ông Trần Ân Đồng và các đối tác cũng đang lên kế hoạch, đặt mục tiêu đưa vải Bắc Ninh vượt qua 2.000 km từ Quảng Ninh đến Bắc Kinh mà vẫn đảm bảo độ tươi ngon.
Theo ông Trần Ân Đồng, ngoài thu mua vải tươi, các doanh nghiệp Trung Quốc đang chú trọng chế biến vải sấy, đây cũng là sản phẩm thị trường có nhu cầu cao, thời gian bảo quản được lâu hơn, có thể bán quanh năm. Trong chuyến sang Việt Nam lần này, ông Đồng đang tìm hiểu cơ hội để đầu tư xưởng gia công, chế biến vải ngay tại Bắc Ninh.
Sở NN-MT tỉnh Bắc Ninh thông tin, toàn tỉnh đang có 243 mã số vùng trồng và 42 cơ sở đóng gói vải xuất khẩu sang Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Úc, Thái Lan và EU. Hiện nay, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Bắc Giang được giao trực tiếp quản lý chặt chẽ mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói; tăng cường giám sát việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, kiểm soát sinh vật gây hại, bảo đảm yêu cầu an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.
Mới đây, ngày 27.5, Sở NN-MT tỉnh Bắc Ninh tiếp tục có văn bản gửi các địa phương đề nghị tập trung chăm sóc, nâng cao chất lượng quả vải. Đối với trà vải sớm, sở này yêu cầu các địa phương tuyên truyền người dân dừng phun các loại thuốc bảo vệ thực vật để đảm bảo thời gian cách ly và an toàn thực phẩm cho quả vải. Đối với giống vải lai sớm Thanh Hà, sẽ thu hoạch từ đầu tháng 6, các hộ sản xuất tăng cường phun nước giảm nhiệt, thực hiện che chắn nắng để giảm tỷ lệ cháy vỏ quả.
Đối với vải thiều chính vụ, dự kiến thu hoạch từ giữa tháng 6, các hộ sản xuất sử dụng cân đối, hợp lý các loại phân bón để nuôi quả; hạn chế rụng, nứt quả bằng các chế phẩm qua lá; cắt bỏ cành bị sâu bệnh; tưới nước đều, giữ ẩm gốc bằng rơm rạ, lá khô; che nắng chùm quả để hạn chế cháy quả…
Trực tiếp khảo sát, kiểm tra các vùng trồng vải, ông Phạm Văn Thịnh, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh, yêu cầu trong mùa vụ năm nay, toàn bộ mã số vùng trồng vải thiều đều được kiểm tra nhiều lần, đặc biệt là kiểm soát tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, để quả vải trước khi đưa ra thị trường phải đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm cho người sử dụng, bảo vệ uy tín, thương hiệu nông sản Bắc Ninh.