Thông tin từ các nhà vườn, giá vải bán vào các điểm cân xuất khẩu sang Trung Quốc tại xã Nam Dương, tỉnh Bắc Ninh những ngày vừa qua liên tục “phá đỉnh”. Mỗi khi người dân chở vải ra đường, luôn có đến 2 – 3 thương lái bám theo để xem hàng, ngã giá.
Chở vải đến điểm cân sáng 31.5, anh Hoàng Văn Phượng, thôn Bến Huyện dễ dàng bán xong xe hàng với giá 60.000 đồng/kg, tăng gần 10.000 đồng/kg so với thời điểm cách đây 2 ngày.
Trước đó, ngày 29.5, giá vải chỉ hơn 50.000 đồng/kg đối với loại u hồng, từ 55.000 – 60.000 đồng/kg với loại vải Thanh Hà. Nhưng đến ngày 31.5, giá vải Thanh Hà loại đẹp nhất lập đỉnh mới khi thương lái Trung Quốc trả giá lên tới 70.000 đồng/kg.
“Vải Thanh Hà vỏ dày nên dễ vận chuyển đi xa, thương lái Trung Quốc rất thích mua. Nếu chọn được xe hàng đẹp, họ trả giá rất cao, quyết mua bằng được. Còn vải thiều, dự báo giá năm nay giá sẽ cao như mùa vụ năm 2024, bán tại vườn có thể lên hơn 100.000 đồng/kg”, anh Phượng nói.
Cũng theo anh Phượng, vườn nhà của gia đình năm nay may mắn được khoảng 70% sản lượng so với năm 2025, dự kiến khi bán hết hàng, số tiền thu về khoảng 200 – 300 triệu đồng.
Còn tại xã Phúc Hòa – vùng vải trọng điểm chín sớm nhất tỉnh Bắc Ninh, chỉ sau hơn 10 ngày thu hoạch, vụ vải năm nay gần như đã kết thúc. Các nhà vườn không còn hàng để bán. Cuối vụ, giá vải u trứng loại to nhất, khoảng 17 – 18 quả/kg được thương lái săn lùng với giá từ 100.000 – 120.000/kg nhưng đã sớm “cháy hàng”.
Đang liên kết với nhiều nhà vườn tại xã Phúc Hòa (Bắc Ninh) và xã Thanh Hà (Hải Phòng) để lấy hàng xuất khẩu, bà Ngô Thị Thu Hồng, Tổng giám đốc Công ty CP Ameii Việt Nam, cho biết doanh nghiệp này đang thu mua loại u hồng từ 38.000 – 42.000 đồng/kg. Còn vải thiều chính vụ, giá chốt hiện nay từ 60.000 – 62.000 đồng/kg, cao hơn giá thị trường khoảng 15%.
Tại hội nghị xúc tiến tiêu thụ vải thiều mùa vụ năm 2026 do UBND tỉnh Bắc Ninh tổ chức trong ngày 28.5, các doanh nghiệp có nhu cầu thu mua số lượng lớn vải tươi Bắc Ninh để tiêu thụ trong nước, hoặc xuất khẩu.
Trực tiếp khảo sát vùng trồng vải ở Bắc Ninh, ông Olivier Langlet, Tổng giám đốc Tập đoàn Central Retail Việt Nam, doanh nghiệp đã lên kế hoạch đưa vải vào tiêu thụ trong hệ thống bán lẻ của tập đoàn này, đặt mục tiêu thu mua gấp đôi sản lượng so với năm 2025.
Trong ngày 4.6, Central Retail sẽ đưa vải Bắc Ninh vào trưng bày ở vị trí đẹp nhất trong Tuần lễ trái cây Việt Nam diễn tại Đồng Tháp, quảng bá loại trái cây đặc sản này với người dân phía nam.
Chia sẻ với Thanh Niên, bà Ngô Thị Thu Hồng tiết lộ, qua rà soát vùng nguyên liệu, ngay từ đầu vụ doanh nghiệp đã ký các đơn hàng xuất khẩu tổng khối lượng trên 1.000 tấn quả tươi. Hiện tại, mỗi tuần sản lượng xuất khẩu đều đạt trên 100 tấn đi các nước Nhật, Mỹ, Úc…
“Mối lo lớn trong mùa vải năm nay là chất lượng. Có lẽ mất mùa, quả vải thưa nên sâu phát triển mạnh, rất nhiều quả bị sâu đầu nhưng khó phát hiện, rủi ro rất lớn khi xuất khẩu. Tỷ lệ lọc loại nhiều, chúng tôi đang lo sẽ không có đủ nguyên liệu để trả hàng theo đơn cho các đối tác”, bà Hồng nói.
Sang Bắc Ninh khảo sát vùng nguyên liệu lên kế hoạch thu mua, ông Trần Ân Đồng, đại diện doanh nghiệp chuyên gia công nông sản tại tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), cho biết các doanh nghiệp Trung Quốc có nhu cầu nhập khẩu số lượng lớn vải Bắc Ninh để phục vụ nhu cầu của người dân trong nước. Ông Trần Ân Đồng và các đối tác cũng đang lên kế hoạch, đặt mục tiêu đưa vải Bắc Ninh vượt qua 2.000 km từ Quảng Ninh đến Bắc Kinh mà vẫn đảm bảo độ tươi ngon.
Theo ông Trần Ân Đồng, ngoài thu mua vải tươi, các doanh nghiệp Trung Quốc đang chú trọng chế biến vải sấy, đây cũng là sản phẩm thị trường có nhu cầu cao, thời gian bảo quản được lâu hơn, có thể bán quanh năm. Trong chuyến sang Việt Nam lần này, ông Đồng đang tìm hiểu cơ hội để đầu tư xưởng gia công, chế biến vải ngay tại Bắc Ninh.
Sở NN-MT tỉnh Bắc Ninh thông tin, toàn tỉnh đang có 243 mã số vùng trồng và 42 cơ sở đóng gói vải xuất khẩu sang Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Úc, Thái Lan và EU. Hiện nay, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Bắc Giang được giao trực tiếp quản lý chặt chẽ mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói; tăng cường giám sát việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, kiểm soát sinh vật gây hại, bảo đảm yêu cầu an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.
Mới đây, ngày 27.5, Sở NN-MT tỉnh Bắc Ninh tiếp tục có văn bản gửi các địa phương đề nghị tập trung chăm sóc, nâng cao chất lượng quả vải. Đối với trà vải sớm, sở này yêu cầu các địa phương tuyên truyền người dân dừng phun các loại thuốc bảo vệ thực vật để đảm bảo thời gian cách ly và an toàn thực phẩm cho quả vải. Đối với giống vải lai sớm Thanh Hà, sẽ thu hoạch từ đầu tháng 6, các hộ sản xuất tăng cường phun nước giảm nhiệt, thực hiện che chắn nắng để giảm tỷ lệ cháy vỏ quả.
Đối với vải thiều chính vụ, dự kiến thu hoạch từ giữa tháng 6, các hộ sản xuất sử dụng cân đối, hợp lý các loại phân bón để nuôi quả; hạn chế rụng, nứt quả bằng các chế phẩm qua lá; cắt bỏ cành bị sâu bệnh; tưới nước đều, giữ ẩm gốc bằng rơm rạ, lá khô; che nắng chùm quả để hạn chế cháy quả…
Trực tiếp khảo sát, kiểm tra các vùng trồng vải, ông Phạm Văn Thịnh, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh, yêu cầu trong mùa vụ năm nay, toàn bộ mã số vùng trồng vải thiều đều được kiểm tra nhiều lần, đặc biệt là kiểm soát tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, để quả vải trước khi đưa ra thị trường phải đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm cho người sử dụng, bảo vệ uy tín, thương hiệu nông sản Bắc Ninh.
Thuế TP.HCM thông tin kết quả thu ngân sách 6 tháng đầu năm 2026 không kể tiền sử dụng đất và xổ số kiến thiết, đạt 308.478 tỉ đồng, bằng 64,3% dự toán Chính phủ giao, tăng 28,6% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, số thu từ khu vực sản xuất, kinh doanh đạt 225.147 tỉ đồng, bằng 71,1% dự toán Chính phủ giao, tăng 41,1% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 56,27% tổng thu, tiếp tục khẳng định vai trò của khu vực sản xuất, kinh doanh trong việc tạo lập nguồn thu bền vững cho ngân sách nhà nước.
Đối với thu hồi nợ thuế, tính đến ngày 30.6, Thuế TP.HCM đã thu hồi được 12.979 tỉ đồng tiền nợ thuế, đạt 103,66% so với cùng kỳ năm 2025.
Bên cạnh những kết quả đạt được, ông Nguyễn Văn Công - Phó trưởng Thuế TP.HCM cho rằng vẫn phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức khi tình hình kinh tế trong nước và quốc tế còn tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro, biến động khó lường. Để mục tiêu hoàn thành cao nhất dự toán thu ngân sách nhà nước năm 2026, cơ quan thuế tập trung khai thác các nguồn thu còn dư địa, nhất là nguồn thu từ đất đai và các lĩnh vực còn tiềm năng. Đồng thời tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ thuế nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh, qua đó tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách nhà nước.
"Tập trung kiểm tra các doanh nghiệp có rủi ro cao, doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá, kê khai lỗ kéo dài; tăng cường kiểm tra các lĩnh vực có rủi ro như thương mại điện tử, kinh doanh số, ăn uống, bán lẻ, nha khoa, chăm sóc sức khỏe, thẩm mỹ và các ngành nghề có doanh thu tiền mặt lớn. Tiếp tục siết chặt quản lý rủi ro về hóa đơn; tăng cường kiểm soát dòng tiền, quản lý giao dịch liên kết và chống thất thu thuế", ông Nguyễn Văn Công cho hay.
Theo ông Nguyễn Văn Công, cơ quan thuế tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về hoạt động thương mại điện tử; phát triển các ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ phân tích dữ liệu, đánh giá rủi ro và hỗ trợ công tác thanh tra, kiểm tra. Đẩy mạnh chia sẻ dữ liệu với các cơ quan công an, tài chính, ngân hàng và chính quyền địa phương nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và chống thất thu thuế. Bên cạnh đó, đơn vị tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý và hỗ trợ người nộp thuế; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, nâng cao trách nhiệm công vụ, xây dựng ngành thuế chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch và phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày càng tốt hơn.
Sở hữu hơn 30 khu công nghiệp (KCN) và nhiều nhà xưởng cho thuê tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước, ông Trần Việt Anh - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu Tư SCC (SCCI) - nêu thực trạng: Để xây dựng được một KCN hoàn chỉnh, vốn đầu tư bỏ ra ban đầu rất lớn. Chẳng hạn, 1 KCN quy mô 400 ha thì ngay từ đầu đã phải đầu tư hạ tầng hết 400 ha đó. Thế nhưng, các KCN không thể ngay lập tức lấp đầy mà phải cần thời gian dài. Điều này nghĩa là thời gian hoàn vốn cho bất động sản công nghiệp (BĐS CN) là rất lớn.
Trong khi đó, đây là ngành khá nhạy cảm với những tác động từ bên ngoài. Chiến tranh vừa nổ ra là lập tức đứt gãy chuỗi cung ứng, nhiều khách hàng của SCCI chuẩn bị ký hợp đồng lập tức chậm lại, chờ, ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của công ty.
Thế nhưng, ông Trần Việt Anh cho rằng một điều bất hợp lý là NHNN, các ngân hàng thương mại hiện không tách riêng BĐS CN như 1 trường hợp riêng mà gom chung hết vào BĐS và không coi đây là 1 động lực phát triển kinh tế. Việt Nam là trường hợp rất riêng vẫn còn gom chung BĐS CN với các loại BĐS khác.
Ở Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, họ tách BĐS CN ra thành 1 dòng riêng, gắn với động lực sản xuất, gắn với hoạt động thương mại. Khi đã gắn BĐS CN với động lực sản suất thì định hướng dòng vốn của ngân hàng sẽ có khác. Các DN BĐS CN sẽ có lợi thế khi tiếp cận vốn tín dụng.
Để chứng minh quan điểm này, ông Trần Việt Anh dẫn chứng: Trong chuyến thăm Trung Quốc vừa qua, đoàn đại biểu cấp cao của Việt Nam do Tổng Bí Thư Tô Lâm dẫn đầu đã tới thăm KCN ở Hùng An. Nơi đây được nhà nước quy hoạch tổng thể ngay từ đầu, huy động nguồn tài chính lớn, chủ động nguồn nhân lực. Nhờ vậy, chỉ sau gần 10 năm, Hùng An đã thu hút tới 400 DN lớn, hình thành 1 hệ sinh thái công nghệ, công nghiệp rất tốt.
Điển hình, tất cả thủ tục, kể cả tín dụng ở đây DN chỉ trong 1 tháng là hoàn thành xong. Ngân hàng cho vay đánh giá trên hiệu quả 1 dự án mang lại chứ không đánh giá trên tài sản thế chấp như tại Việt Nam. Có trường hợp 1 DN chỉ sau 10 năm về Hùng An hoạt động đã trở thành DN nằm top 3 nhà cung cấp giải pháp điện thông minh của Trung Quốc.
"Có thể thấy, chính phủ Trung Quốc coi Hùng An là 1 cực tăng trưởng mới của Trung Quốc. Họ xác định rõ BĐS không phải để đầu cơ, mà là hạ tầng cho tăng trưởng dài hạn. Vì thế, các chính sách của họ và nguồn tín dụng cũng được nắn theo hướng này. Trong khi đó, ở Việt Nam, chúng tôi phát triển 1 khu BĐS CN ở Gia Lai 20 năm, cho thuê giá rất thấp nhưng đến giờ mới lấp đầy khoảng 70%. Nếu vay ngân hàng hàng, chịu lãi suất 20 năm thì chỉ có "chết" - ông Việt Anh nói thẳng
Từ câu chuyện của Hùng An, Tổng giám đốc SCCI khẳng định: Vốn tín dụng cho BĐS nếu buông lỏng sẽ thành rủi ro nhưng nếu niểm soát quá sẽ thành điểm nghẽn. Việt Nam cần thống nhất quan điểm coi BĐS là động lực tăng trưởng, nhất là BĐS CN, logistics. Từ đó, nhận diện vấn đề không phải siết hay nới mà là định hướng dòng vốn.
Ông đề xuất: Cơ quan quản lý cần phân loại tín dụng bất động sản theo mục tiêu sử dụng, ưu tiên cho bất động sản công nghiệp, logistics. Bên cạnh đó, thiết kế cơ chế tín dụng dài hạn, phù hợp chu kỳ đầu tư. Quan trọng là kiểm soát tín dụng dựa trên chất lượng dự án và năng lực doanh nghiệp, không cào bằng. Cuối cùng là cần nhìn nhận bất động sản nói chung như hạ tầng kinh tế, tương tự giao thông hay năng lượng.
"Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang dịch chuyển, Việt Nam đang có cơ hội rất lớn. Nhưng cơ hội đó chỉ trở thành hiện thực khi dòng vốn đi đúng chỗ. Nếu chúng ta chỉ nhìn bất động sản dưới góc độ rủi ro tín dụng, chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội. Nếu nhìn đúng bản chất, bất động sản chính là hạ tầng của tăng trưởng" - ông Trần Việt Anh nhấn mạnh.
Phát biểu tại hội thảo, ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công thương) cho biết kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng trưởng rất ấn tượng và không ngừng mở rộng. Giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 500 tỉ USD, tăng trưởng trên 10%.
Tuy nhiên, thị trường quốc tế đang đặt ra nhiều thách thức mới đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Các thách thức này xuất phát từ những biến động khó lường của tình hình chính trị, kinh tế và ngoại giao toàn cầu, làm thay đổi môi trường thương mại quốc tế.
Ông Phú đánh giá Đắk Lắk có hệ sinh thái nông sản phong phú, diện tích canh tác thuộc nhóm lớn nhất cả nước và nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành chế biến. Tuy nhiên, số lượng sản phẩm chế biến sâu từ nguồn nông sản của tỉnh vẫn còn khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng.
Ông Phú đề nghị quy hoạch các khu công nghiệp của tỉnh phải được đặt trong tổng thể hệ thống logistics liên vùng nhằm bảo đảm khả năng kết nối lâu dài. Đồng thời, cần điều chỉnh quy hoạch các khu, cụm công nghiệp theo hướng tập trung để tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các dự án năng lượng và hạ tầng truyền tải điện.
Việc kết nối các dự án năng lượng cũng cần gắn với hệ thống logistics liên ngành nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và phát triển bền vững.
Để phát huy vai trò của logistics và nâng cao năng lực kết nối chuỗi ngành hàng, Hiệp hội Logistics và Cảng biển tỉnh Đắk Lắk đề xuất nhiều giải pháp. Trong đó có xây dựng chuỗi cung ứng lạnh đồng bộ tại vùng nguyên liệu; phát triển cụm công nghiệp gắn với cảng cạn ICD và kho bãi thông minh; thúc đẩy chuyển đổi số; tăng cường liên kết vùng và hợp tác quốc tế.
Hiệp hội cũng đề xuất triển khai "Bản đồ số logistics Đắk Lắk", một giải pháp ứng dụng công nghệ số nhằm xây dựng nền tảng kết nối trực tuyến giữa chủ hàng, doanh nghiệp vận tải, đơn vị kho bãi, trung tâm logistics và các cơ quan quản lý nhà nước.
Hệ thống giúp tối ưu hóa luồng vận chuyển, giảm tỉ lệ xe chạy rỗng chiều về khoảng 40%, tiết kiệm từ 15% đến 20% chi phí logistics tổng thể cho hơn 12.000 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh.
Bên cạnh đó, hiệp hội kiến nghị tỉnh ưu tiên quỹ đất sạch và các chính sách ưu đãi về thuê đất, thuế và hạ tầng cho các dự án logistics, cảng cạn ICD, trung tâm phân phối và kho bãi hiện đại, đặc biệt tại Buôn Ma Thuột và các đầu mối giao thông chiến lược.
Hiệp hội cũng kiến nghị tỉnh nghiên cứu triển khai cơ chế một cửa liên thông; ưu tiên thu hút các nhà đầu tư xây dựng kho lạnh, trung tâm sơ chế, kiểm định chất lượng ngay tại vùng nguyên liệu; đồng thời có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phương tiện vận tải lạnh chuyên dụng.
Hiệp hội đề xuất lấy "Bản đồ số logistics Đắk Lắk" làm nền tảng kết nối dữ liệu dùng chung cho cộng đồng doanh nghiệp; đồng thời xem xét thành lập tổ công tác hoặc ban điều phối phát triển logistics cấp tỉnh với sự tham gia của các sở, ngành, địa phương và hiệp hội nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp.