“Công ty tôi đến bây giờ vẫn đánh giá nhân viên theo số giờ làm việc. Người làm hiệu quả, nhanh gọn như tôi để về đúng giờ thì không được đánh giá cao. Thay vào đó, họ cứ theo dõi camera, thấy nhân viên nào ngồi ở văn phòng lâu, đến 9-10 tối thì lại họp tuyên dương vì đã cố gắng, chăm chỉ, chứ không xem lại hiệu suất công việc hoàn thành đến đâu?
Nhiều lúc những người đó làm việc kém hiệu quả, khiến tiến độ công việc chậm lại, nhưng sếp vẫn hoàn toàn không để ý, cứ nghĩ đó là việc khó, nhân viên đã rất nỗ lực. Lâu dần tôi cũng thấy chán, có suy nghĩ ‘không lẽ trong giờ làm việc mình cứ ngồi chơi, đợi đến 5h chiều tan ca rồi mới bắt đầu làm để được đánh giá cao?'”.
Đó là chia sẻ của độc giả Pngqtq khi so sánh những khác biệt trong văn hóa lao động của người Việt và các nước châu Âu. Môi trường công sở châu Âu ưu tiên hiệu suất, trách nhiệm cá nhân, nhân viên chủ động nêu ý kiến, phản biện và đưa ra sáng kiến mà không cần chờ cho phép. Trong khi đó, tại Việt Nam, nhân viên thường ít “dám” phản biện quản lý, thường phải làm việc tăng ca, ngoài giờ.
Lấy dẫn chứng từ trải nghiệm thực tế của bản thân ở cả hai môi trường làm việc trong nước và nước ngoài, bạn đọc Mai bình luận: “Tôi là người từng làm việc ở Việt Nam (15 năm) và hiện tại đang có 8 năm làm việc ở Đức. Khi còn ở trong nước, rất nhiều đồng nghiệp của tôi có mặt ở công ty suốt 9-10 tiếng một ngày. Nhưng thời gian họ thực sự dành cho công việc thì chỉ tầm 5-6 tiếng, còn lại họ làm việc riêng, lướt mạng, mua bán, tám chuyện, xem video…
Theo lịch 17h là hết giờ làm nhưng nhiều người vẫn ngồi lại văn phòng để làm việc riêng, hay hưởng điều hòa của công ty. Nhưng ngoài giờ, buổi đêm, hay cuối tuần, tôi vẫn phải nhận tin nhắn, điện thoại của khách hàng, đồng nghiệp, trong khi hoàn toàn có thể giải quyết ngay trong giờ làm.
>> Kiệt sức vì 7 giờ tối vẫn phải ở lại văn phòng ‘chạy deadline’
Còn ở Đức không có chuyện đó. Nhân viên ở đây làm phải ra làm, tập trung cao, có thể thi thoảng giải lao 5-10 phút để uống cà phê, chào hỏi đồng nghiệp vài câu, chứ không có kiểu buôn chuyện cả tiếng đồng hồ. Buổi tối, cuối tuần, ngày lễ ở đây không có chuyện tôi phải nhận điện thoại về công việc.
Thi thoảng tôi cũng phải làm thêm buổi tối 1-2 tiếng ở nhà nếu có dự án gấp, nhưng hoàn toàn không bị bắt buộc. Ai cũng có công việc và cuộc sống riêng tách bạch, vừa vì quan điểm, văn hóa, vừa vì theo luật. Nếu có người nghỉ phép thì người khác phải làm thay. Vì thay phiên nhau nên tôi cũng không thấy ai phàn nàn”.
Có cùng nhận định khi làm việc ở môi trường nước ngoài, độc giả Louis Vu bổ sung thêm: “Tôi đang làm việc ở Bỉ, nhận thấy rằng người châu Âu không rốt ráo trong công việc như ở ta. Có thể một phần lớn là do văn hóa và mục tiêu cuộc sống của họ hoàn toàn khác. Với quỹ thời gian làm việc được trả công (38-40 giờ một tuần) nhìn chung tôi thấy họ làm việc hiệu quả và tập trung hơn so với hồi tôi còn làm ở Việt Nam.
Tôi và các đồng nghiệp bên này đôi khi vẫn làm thêm ở nhà vào buổi tối, hay cuối tuần, hay đôi khi là trong kỳ nghỉ. Nhưng đó thật sự chỉ là việc bất đắc dĩ vì deadline gấp mà thôi chứ không bao giờ trở thành một điều bắt buộc, thường xuyên. Sếp ở Bỉ không thể ép buộc chuyện này, vì nó liên quan tới phẩm giá của người lãnh đạo và luật pháp. Chưa kể, công ty phần lớn không trả thêm tiền làm ngoài giờ và thuế thu nhập rất cao (như tôi năm 2025 phải mức thuế trung bình là 37%)”.
Trước đây ở khu vực nhà tôi có bán cà phê bột đóng gói sẵn, tôi hay mua về pha. Một điều kỳ lạ là sau khi pha phin xong, dù không bỏ đường nhưng vẫn thấy ngọt. Một số người bảo dường như chỗ sản xuất đã trộn thêm đường vào. Đến khi tôi về quê chơi, thói quen ăn uống ngọt dường như vẫn còn và ngày càng nâng tầm hơn.
Tôi gọi một ly cà phê sữa, chỉ thấy chủ quán xúc 3 thìa cà phê đầy ắp đường, cho sữa vào. Nhấp một ngụm thì quá ngọt, đến khi uống hết, dưới đáy ly vẫn còn khoảng 2 cm đường bị bão hòa không tan hết.
Không riêng gì cà phê, nước dừa bình thường đã ngọt, nếu không dặn thì chủ quán vẫn cho đường vào. Nước cam đôi lúc tôi cũng thấy có vị ngọt tự nhiên, nhưng vẫn đầy ắp đường. Càng choáng hơn khi nhiều đứa trẻ mê mẩn hút trà sữa siêu ngọt.
Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho biết mức tiêu thụ đường trung bình của người Việt Nam là 46,5 g/ngày, cao gần gấp đôi mức khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (25 g/ngày). Chỉ trong khoảng 15 năm, lượng đường tiêu thụ đã tăng gấp 7 lần. Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng làm gia tăng các bệnh không lây nhiễm như béo phì, đái tháo đường, tim mạch.
Nhìn sang các nước láng giềng, chẳng hạn Thái Lan, họ đã bắt đầu tuýt còi đồ uống quá ngọt.
Bộ Y tế Thái Lan cho biết người dân nước này tiêu thụ trung bình 21 muỗng cà phê đường mỗi ngày, cao gấp hơn ba lần mức khuyến nghị của WHO. Từ tháng 2 năm nay, chín chuỗi cà phê lớn trên toàn quốc đã cam kết giảm một nửa lượng đường mặc định trong nhiều loại đồ uống theo sáng kiến của chính phủ.
Điều đáng chú ý là họ không cấm người dân uống ngọt. Ai thích ngọt vẫn có thể yêu cầu thêm đường. Họ chỉ thay đổi mặc định, tức là giảm lượng đường được cho vào ly nước ngay từ đầu.
Trong khi đó, ở Việt Nam, dường như nhiều quán vẫn giữ thói quen càng ngọt càng tốt. Có cảm giác nếu ly cà phê, ly nước cam hay ly trà sữa không đủ ngọt thì khách sẽ chê. Chính vì suy nghĩ đó mà nhiều người đang vô tình tiêu thụ lượng đường nhiều hơn nhu cầu của cơ thể mà không hề nhận ra.
Nguy hiểm ở chỗ, đường không chỉ đến từ ly cà phê buổi sáng. Nó còn có trong trà sữa, nước ngọt, bánh kẹo, sữa, nước chấm, thực phẩm chế biến sẵn... Mỗi thứ một ít nhưng cộng lại có thể vượt rất xa ngưỡng an toàn.
Nhiều người cho rằng mình không thích ăn đồ ngọt nên chắc không tiêu thụ nhiều đường. Nhưng chỉ cần mỗi ngày một ly cà phê sữa, một ly trà sữa hoặc nước giải khát, cộng thêm lượng đường ẩn trong các bữa ăn, con số đó đã không còn nhỏ.
Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta cần khắt khe hơn với lượng đường nạp vào cơ thể mỗi ngày. Một ly cà phê nên giữ được vị đắng đặc trưng, nước dừa nên được thưởng thức vị ngọt tự nhiên, còn nước cam cũng không cần thêm vài thìa đường mới dễ uống vì lúc đó chúng ta đang thèm một xíu vị chua.
Gần đây, tôi thấy có nhiều ý kiến bức xúc vì tình trạng mức lương doanh nghiệp đóng BHXH thấp hơn mức lương thực nhận của người lao động tại doanh nghiệp đó.
Nhiều ý kiến cho rằng doanh nghiệp (DN) lách luật, thiệt hại cho người lao động (NLĐ) khi nhận lương hưu sẽ nhận được số tiền ít hơn rất nhiều so với khi còn làm việc, nên cần phải ra luật để siết bắt buộc đóng BHXH đúng với mức lương thực.
Tuy nhiên, bản chất của vấn đề không phải như vậy. Những người soạn luật và Cơ quan quản lý đều biết, nhưng không phải để lách luật, mà chính là để thêm lựa chọn cho doanh nghiệp và người lao động.
Theo tôi, các bạn cần nắm rõ 02 nguyên tắc:
1. Với BHXH: Đóng cao thì hưởng cao.
2. Với NLĐ, thường dùng khái niệm "tiền lương", còn với DN thường dùng khái niệm "chi phí": Tổng chi phí của doanh nghiệp cho vị trí nhân sự đó là không đổi.
Xét ví dụ như sau:
Hai Doanh nghiệp A và B đều trả chi phí cho vị trí nhân sự cần tuyển là 20 triệu đồng một tháng.
- Doanh nghiệp A dùng chính sách đóng BHXH đúng bằng thu nhập.
- Doanh nghiệp B chỉ đóng BHXH mức cơ bản 6 triệu đồng một tháng.
Áp dụng các công thức với quy định hiện tại:
- NLĐ tại DN A sẽ nhận mức lương net hàng tháng gần 15 triệu đồng một tháng tháng
- NLĐ tại DN B sẽ nhận mức lương net hàng tháng gần 18 triệu đồng một tháng
Khi ấy đặt ra câu hỏi: Nếu bạn là người lao động, bạn chọn phương án của DN A hay B? (Nhấn mạnh rằng tổng chi phí của DN cho vị trí nhân sự là không đổi = 20 triệu đồng một tháng).
Nếu cá nhân bạn vẫn muốn nhận ít lại mỗi tháng 3 triệu đồng theo ví dụ trên, thì cũng dễ thôi, hoàn toàn có thể thỏa thuận với doanh nghiệp, hoặc chuyển công việc từ doanh nghiệp B sang doanh nghiệp A.
Còn trường hợp vừa muốn nhận 18 triệu đồng, vừa muốn đóng đủ BHXH, thì khi đó chi phí doanh nghiệp cho vị trí đó lại ở một mức mới.
Thú thực, nói về các bữa tiệc cưới rong vài năm trở lại đây, tôi ngày càng thấy mình lạc lõng. Việc đi ăn cưới với nhiều người dường như trở thành một "thủ tục" hơn là một dịp để gặp gỡ, chia sẻ niềm vui với cô dâu, chú rể.
Có lần, tôi đi dự đám cưới của một người bạn học cũ. Đến nơi, tôi được xếp vào một bàn toàn những người không quen biết. Điều đó cũng không quá lạ, vì chuyện ghép bàn vốn đã phổ biến. Nhưng điều khiến tôi bối rối là cách mọi người ứng xử trong bữa tiệc. Chưa kịp hỏi nhau vài câu xã giao, chưa kịp nhớ tên nhau, mọi người đã bắt đầu ăn vội. Các món ăn vừa dọn ra, ai nấy gắp nhanh, ăn nhanh, chẳng nói chuyện gì mấy.
Chỉ khoảng 30 phút sau khi ngồi vào bàn, chỉ chờ cô dấu chú rể tới bàn nâng ly xong, vài người đã bắt đầu đứng dậy. Rồi từng người một xin phép ra về khi có người còn chưa ăn xong. Tôi cũng đang cầm đũa cũng khựng lại khi thấy bàn đã vơi đi quá nửa. Không khí bỗng trở nên trống trải.
Có những lần khác, tôi thậm chí còn chưa kịp bắt chuyện thì họ đã lần lượt ra về. Cuối cùng, cả bàn chỉ còn lại mình tôi với vài chiếc ghế trống. Trong khoảnh khắc ấy, tôi phân vân: nên tiếp tục ngồi lại ăn cho xong, hay đứng dậy ra về như mọi người? Nhưng ngồi một mình giữa một bàn tiệc đông người trước đó khiến tôi thấy ngại. Cuối cùng, tôi chọn cách nhanh chóng dừng bữa, rồi lặng lẽ đứng dậy.
>> Chê cỗ cưới chán dù bỏ 500 K tiền mừng
Tôi hiểu rằng cuộc sống bây giờ bận rộn hơn, ai cũng có nhiều mối quan hệ, nhiều đám cưới phải đi. Có thể với nhiều người, việc đến dự, gửi phong bì, nâng ly chúc mừng chỉ là thủ tục cho đủ. Nhưng đôi khi, tôi tự hỏi: nếu tất cả chỉ dừng lại ở mức "hoàn thành nghĩa vụ" như vậy, thì ý nghĩa của một buổi tiệc cưới còn lại là gì?
Ngày trước, tôi vẫn nhớ những đám cưới nơi mọi người ngồi lại lâu hơn, trò chuyện nhiều hơn, có khi từ xa lạ thành quen biết. Không khí ấm áp ấy khiến việc đi ăn cưới không chỉ là vì cô dâu chú rể, mà còn là dịp để kết nối con người với nhau.
Có lẽ tôi hơi "cũ kỹ" khi vẫn mong chờ điều đó. Nhưng mỗi lần rơi vào cảnh ngồi một mình giữa bàn tiệc chóng tàn, tôi lại thấy tiếc cho một nét văn hóa đang dần phai nhạt. Và trong những bữa tiệc đông vui ấy, tôi lại cảm thấy mình cô đơn hơn bao giờ hết.