Bắt đầu từ cuối tháng 3, “Sắc Lam Tân Thời” là dự án văn hóa – nghệ thuật do nhóm sinh viên khoa truyền thông và văn hóa đối ngoại (Học viện Ngoại giao Hà Nội) khởi xướng, với mục đích tôn vinh pháp lam Huế và đưa loại hình nghệ thuật này trở nên gần gũi.
Sinh viên Hoàng Thị Thanh Trúc – Phó ban tổ chức – cho biết do lựa chọn sản phẩm văn hóa tồn tại cách đây gần 200 năm, nên nhóm gặp nhiều khó khăn trong quá trình tìm kiếm tư liệu.
Để tìm hiểu, nhóm dự án thực hiện chuyến đi thực địa tại Huế, tìm gặp và phỏng vấn các nghệ nhân, chuyên gia, thực hiện nhiều bài đăng truyền thông trên nhiều nền tảng YouTube, Threads, Facebook, TikTok… nhằm quảng bá dự án.
Vừa qua, nhóm tổ chức sự kiện trải nghiệm tương tác về pháp lam tại Hà Nội. Người tham dự được chơi các trò chơi tương tác và tự tay thực hiện các công đoạn chế tác pháp lam, từ vẽ màu lên phôi đồng, nung men, đến đánh bóng và hoàn thiện sản phẩm.
Với ý tưởng kết hợp pháp lam và thổ cẩm, nhóm dự án tổ chức workshop “Sắc Lam Chạm Mây” tại Lào Cai. Lợi nhuận thu được từ workshop được dùng để mua sách vở, đồ dùng học tập cho các em nhỏ tại địa phương.
Sắp tới, đội ngũ dự án “Sắc Lam Tân Thời” tiếp tục thực hiện các bài đăng truyền thông trên mạng xã hội. Đồng thời nhóm mong muốn có thể phối hợp với các đơn vị nhằm tổ chức nhiều buổi workshop khác.
Trong khi đó một nhóm sinh viên khác của khoa truyền thông và văn hóa đối ngoại (Học viện Ngoại giao Hà Nội) thành lập dự án “Họa Sắc Kinh Kỳ”, với sự phối hợp của Ban quản lý hồ Hoàn Kiếm và phố cổ Hà Nội cùng Câu lạc bộ Tinh hoa nghề Việt.
Sinh viên Hà Anh Tuấn – Trưởng ban tổ chức – chia sẻ dự án thực hiện các bài đăng truyền thông trên mạng xã hội, như series phim tài liệu ngắn hoặc video phỏng vấn đường phố.
Vừa qua, đội ngũ thực hiện đã tổ chức sự kiện “Họa Sắc Kinh Kỳ – The Heritage of Hang Trong Art”, thu hút hơn 1.000 người tham dự. Tại đây họ được xem tranh, thử in ấn mộc bản, lắng nghe về kỹ thuật “vờn màu”…
Bạn Oskar Nilsson – khách tham quan từ Thụy Điển – chia sẻ: “Bối cảnh ở đây chân thực đến kinh ngạc, là phông nền hoàn hảo để tìm hiểu về tranh Hàng Trống. Bên cạnh những màu sắc rực rỡ, tôi đã thực sự hiểu về di sản Việt Nam và niềm đam mê mà thế hệ trẻ dành cho việc bảo tồn những giá trị này”.
Trong thời gian tới, “Họa Sắc Kinh Kỳ” dự định tiếp tục quảng bá thông qua mạng xã hội, đồng thời tổ chức nhiều triển lãm và workshop trải nghiệm ở nhiều tỉnh, thành khác.
“Chúng tôi mong người trẻ cảm nhận rằng tranh Hàng Trống không quá xa vời, để dòng tranh này được lan tỏa nhiều hơn và có cơ hội phát triển”, Tuấn nói.
Nhận ra tiềm năng của nhạc cụ dân tộc, nhóm sinh viên khoa thương mại (Trường đại học Văn Lang) thành lập dự án “Âm Sắc Cố Đô”.
Bạn Hồ Ngọc Phú – Trưởng ban tổ chức – nhắn nhủ: “Thông qua dự án, chúng tôi hy vọng các bạn trẻ thấy rằng nhạc cụ dân tộc của Việt Nam vẫn có cái hay riêng. Người trẻ cần cho nhạc cụ dân tộc cơ hội để hòa mình vào dòng chảy hiện đại”.
Cùng lấy cảm hứng từ nhạc cụ dân tộc như các dự án trước đó, “Âm Sắc Cố Đô” tạo sự khác biệt khi không giới hạn ở việc trưng bày thưởng lãm mà còn cho người trẻ trực tiếp trải nghiệm.
Vừa qua, dự án tổ chức triển lãm “Thanh Âm Ký Ức” và buổi trình diễn nghệ thuật “Dòng Chảy Di Sản”, với khoảng 500 khán giả trẻ tham gia. Tại sự kiện, người tham dự được trực tiếp chơi thử một vài nhạc cụ như đàn bầu, đàn tranh… thưởng thức tiết mục hòa tấu nhạc cụ dân tộc từ nghệ nhân.
Bên cạnh đó, khách tham quan còn có cơ hội tham gia minigame lắng nghe và nhận diện từng loại nhạc cụ.
Bạn Nguyễn Duy Thành – khách tham dự sự kiện – đánh giá: “Điểm nổi bật của chương trình là cách dung hòa giữa yếu tố học thuật và trải nghiệm thực tế, giúp người tham gia tiếp cận văn hóa một cách tự nhiên, không gò bó”.
Trong thời gian tới, nhóm dự án “Âm Sắc Cố Đô” hy vọng sẽ có cơ hội mở rộng và phát triển. Ngoài ra nhóm mong muốn sẽ có nhiều dự án tương tự được thực hiện, để nhạc cụ dân tộc thực sự chạm đến người trẻ.
Chiều 24.4, ban giám hiệu Trường tiểu học Lương Thế Vinh phường Bến Cát (TP.HCM) đã có quyết định điều chuyển công tác, làm công việc không tiếp xúc với học sinh trong thời gian 1 năm, đối với giáo viên L.T.M khi cô này phạt học sinh lớp 3 tự đâm kim tiêm vào tay do các lỗi như không đeo khăn quàng đỏ, nói chuyện trong lớp…
Trước đó, sự việc vỡ lở khi một phụ huynh trường này thấy con về nhà mệt mỏi, gặng hỏi mãi mới biết. Ngày 13.4, lãnh đạo Trường tiểu học Lương Thế Vinh ghi nhận ít nhất 5 học sinh đã từng tự chích vào tay mình theo cách ấy.
Là người làm giáo dục gần 20 năm, làm tham vấn tâm lý vài năm gần đây, tôi đã có dịp trò chuyện với hàng ngàn thầy cô, cha mẹ đang vật lộn với cảm giác bất lực trước học sinh, trước con cái. Tôi hiểu áp lực của việc quản lý một lớp học 40-50 em hiếu động, hiểu nỗi sợ bị đánh giá khi lớp thiếu kỷ luật. Tôi không viết bài này để thêm một tiếng nói phẫn nộ. Tôi viết vì đằng sau sự việc "rợn người" nói trên, có một quan niệm đang âm thầm vận hành trong tâm thức nhiều người làm các công việc chạm đến con người như giáo dục.
Triết gia Martin Buber, trong tác phẩm Ich und Du (1923), phân biệt hai cách con người có thể tương tác trong thế giới: "Tôi-Người" và "Tôi-Vật". Trong quan hệ Tôi-Người, tôi đối xử với bạn như một chủ thể trọn vẹn, không thể bị rút gọn thành chức năng hay mục đích sử dụng. Trong quan hệ Tôi-Vật, bạn là một đối tượng có thể đo lường, phân loại, chỉnh sửa.
Buber không cho rằng quan hệ Tôi-Vật là xấu. Khi tôi vận hành một chiếc máy, quan hệ ấy là hợp lẽ. Điều ông cảnh báo là khi cách nhìn Tôi-Vật len lỏi vào những mối quan hệ lẽ ra phải là Tôi-Người, như giữa cha mẹ và con, giữa thầy và trò, thì những hành xử quan tâm và nhân bản bị đánh mất, và bạo lực trở thành một lựa chọn thuận tiện. Trong câu chuyện cô giáo phạt học trò bằng kim tiêm, nếu cô giáo đã xem học sinh là đối tượng, thì mọi đau đớn xảy ra với đối tượng ấy đều có thể quy về "lỗi của đối tượng". Trong mắt của cô giáo ấy, đứa trẻ đã không còn là một con người đang loay hoay lớn lên, mà đã trở thành một đối tượng chờ được răn đe.
Tôi không viết bài này để buộc tội một cô giáo vừa vào nghề ba năm. Điều làm tôi đau lòng không phải một hành vi cá biệt như vậy, mà sâu hơn, tôi có cảm giác rằng những hành vi ấy nảy sinh từ một "mảnh đất tâm thức" đã tồn tại từ lâu.
Trong tâm thức một bộ phận không nhỏ thầy cô lẫn cha mẹ Việt Nam, đứa trẻ vẫn được hình dung như đất sét - hỗn độn chưa thành hình, chờ bàn tay người lớn nhào nặn thành hình dạng họ mong muốn. Tâm thức ấy nếu không được quân bình lại bằng tinh thần tôn trọng phẩm giá con người - dù con người ấy nhỏ bé đến đâu, nó có thể trở thành "giấy phép" để đàn áp một cách thô bạo bất cứ thứ gì không vừa khuôn.
Quan niệm "học sinh/trẻ em là đối tượng để uốn nắn" tồn tại vì nó tiện lợi. Khi tôi xem bạn là con người trọn vẹn, tôi phải dừng lại, phải hỏi, phải lắng nghe, phải thừa nhận giới hạn của bạn và của chính mình. Nhưng khi tôi xem bạn là đối tượng cần định hình, tôi chỉ việc thẳng tay áp dụng kỹ thuật và kỷ luật. Một lớp học 40 em mà xem mỗi em là một con người độc đáo thì có vẻ mệt quá, trong khi một lớp học 40 đối tượng cần quản lý thì cứ "theo đúng công thức" là được.
Đó là lý do vì sao khẩu hiệu "lấy học sinh làm trung tâm" được treo ở nhiều trường, nhưng kim tiêm lại vẫn xuất hiện trên bàn một giáo viên. Khẩu hiệu là ngôn từ bề mặt, trong khi tâm thái và quan niệm là nền tảng sâu bên trong. Khi nền tảng chưa thay đổi, khẩu hiệu chỉ là lớp sơn bóng bẩy bên ngoài.
Cô giáo trong câu chuyện trên sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật lẫn đạo đức nghề nghiệp, như mới đây, cô bị điều chuyển công tác, làm công việc không tiếp xúc với học sinh trong thời gian 1 năm. Tôi cũng mong những người làm việc với cô vẫn sẽ cân nhắc tất cả các phương diện của cô như một con người toàn vẹn chứ không phải một "đối tượng để xử lý" khác. Mặt khác, những người còn lại chúng ta - thầy cô, cha mẹ, nhà quản lý giáo dục, nhà tham vấn, bác sĩ… mọi nghề nghiệp làm việc chính với con người phải đối diện một câu hỏi khó hơn nhiều: Chúng ta có đang thật sự cư xử với mỗi người mình gặp như một con người trong công việc hàng ngày của mình không, hay đã quen xem họ như "đối tượng làm việc"?
Carl Rogers, nhà tâm lý học nhân bản đã dành cả đời để bảo vệ một điều đơn giản: Con người - bất kể tuổi tác, hành vi - xứng đáng được đón nhận vô điều kiện với phẩm giá của mình. Không phải chấp nhận mọi hành vi, mà là dù hành vi nào xảy ra, con người ấy vẫn là con người, không thể bị rút gọn thành hành vi và dán nhãn bằng một vài kết luận hạn hẹp.
Một đứa trẻ nói chuyện trong giờ học không phải là đứa ồn ào, mà là một con người đang học cách điều tiết bản thân và cần người lớn đồng hành. Khoảng cách giữa hai cách nhìn ấy quyết định cách tương tác nào là phù hợp ở lớp học. Khi nhìn học sinh như một con người, kỷ luật của giáo viên là đối thoại - có giới hạn, có hậu quả, nhưng vẫn trong không gian tôn trọng phẩm giá. Ngược lại, khi nhìn học sinh như đối tượng thì những thứ như kim tiêm, roi vọt, lời lăng mạ hay chửi mắng trở thành những lựa chọn "thích đáng".
Chiều 16.7, UBND tỉnh Gia Lai tổ chức họp báo công bố Năm Lượng tử Gia Lai 2026, chuỗi sự kiện khoa học - công nghệ quy mô quốc tế diễn ra từ tháng 1 đến tháng 12.2026.
Theo UBND tỉnh Gia Lai, công nghệ lượng tử đang được xem là một trong những nền tảng công nghệ chiến lược, có khả năng tạo ra bước đột phá trong nhiều lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), an ninh mạng, tài chính, y tế, logistics, năng lượng, vật liệu mới và tối ưu hóa hệ thống quy mô lớn.
Nhiều quốc gia như Mỹ, Canada, Nhật Bản, Trung Quốc và các nước thuộc Liên minh châu Âu đã đầu tư hàng tỉ USD phát triển công nghệ lượng tử. Đồng thời, các tập đoàn công nghệ lớn như IBM, Google, Microsoft, NVIDIA cũng đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực, đưa công nghệ lượng tử từ giai đoạn nghiên cứu sang ứng dụng và thương mại hóa.
Trên cơ sở đó, UBND tỉnh Gia Lai phối hợp với Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC), Mạng lưới đổi mới sáng tạo và chuyên gia công nghệ lượng tử Việt Nam (VNQuantum), Trung tâm Quốc tế khoa học và giáo dục liên ngành (ICISE), Viện Lượng tử mở cùng nhiều đối tác trong và ngoài nước tổ chức Năm Lượng tử Gia Lai 2026.
Chuỗi sự kiện gồm 4 hợp phần chính: khoa học, công nghệ, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và giáo dục - đào tạo. Chương trình dự kiến quy tụ các nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp, quỹ đầu tư, startup, trường đại học và tài năng trẻ đến từ Việt Nam cùng nhiều quốc gia trên thế giới.
Theo ban tổ chức, chương trình hướng đến thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ lượng tử; tăng cường kết nối giữa nghiên cứu, đào tạo, đổi mới sáng tạo và đầu tư. Các lĩnh vực ưu tiên gồm nông nghiệp thông minh, logistics, quản lý tài nguyên, môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, năng lượng và an toàn dữ liệu.
Năm Lượng tử Gia Lai 2026 sẽ diễn ra chuỗi sự kiện quốc tế cùng cuộc thi Hackathon quốc tế về tính toán lượng tử vì mục tiêu phát triển xã hội. Ban tổ chức kỳ vọng đây sẽ trở thành một trong những sự kiện công nghệ tiêu biểu của Việt Nam trong năm 2026, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ công nghệ lượng tử toàn cầu.
PGS-TS-BS Nguyễn Thanh Hiệp sinh năm 1976, quê Bình Dương. Ông từng là Phó hiệu trưởng rồi Hiệu trưởng Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch (TP.HCM). Trước đó, ông cũng là Trưởng phòng khám đa khoa trường, Trưởng khoa Y tế công cộng, Trưởng bộ môn Y học gia đình. Hiện nay ông giữ chức vụ Hiệu trưởng Trường Y và Khoa học sức khỏe của Trường ĐH Công nghệ TP.HCM.
Vậy ngoài PGS-TS Nguyễn Thanh Hiệp, hiện nay lãnh đạo trường y, khoa y của các trường ĐH ngoài công lập có đào tạo khối ngành sức khỏe đến từ đâu?
Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng là trường đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó khối ngành sức khỏe là lĩnh vực trọng tâm của trường.
Hiện nay, hiệu trưởng của trường là GS-TS-BSCKII Phạm Văn Lình. Giáo sư Lình là nhà giáo nhân dân, một chuyên gia y tế có uy tín lớn với gần 40 năm kinh nghiệm và đã từng giữ nhiều chức vụ quản lý cấp cao tại các trường ĐH y dược công lập.
Ông từng làm Hiệu trưởng Trường ĐH Y dược Cần Thơ, Giám đốc Bệnh viện Trường ĐH Y dược Cần Thơ, Hiệu trưởng Trường ĐH Y dược (ĐH Huế), Giám đốc Bệnh viện Trường ĐH Y dược Huế.
Tại ĐH Phenikaa, thầy thuốc nhân dân, GS-TS-BS Đỗ Quyết hiện là Hiệu trưởng Trường Y dược. Ông đã có hơn 40 năm cống hiến trong hệ thống quân y và là một chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực hô hấp và ghép tạng tại Việt Nam.
Giáo sư Đỗ Quyết từng trải qua các chức vụ Phó giám đốc, Giám đốc Học viện Quân y; Chủ nhiệm Khoa Lao và bệnh phổi kiêm Giám đốc Trung tâm Hô hấp – Bệnh viện Quân y 103; Phó giám đốc Bệnh viện Quân y 103.
Hiệu trưởng Trường Y dược ĐH Duy Tân là nhà giáo nhân dân, GS-TS-BS Trần Hữu Dàng. Ông từng là Phó hiệu trưởng Trường ĐH Y dược (ĐH Huế), Phó trưởng Khoa Nội tổng hợp – Lão khoa Bệnh viện Trung ương Huế.
Giáo sư Dàng cũng từng làm Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế và Chủ tịch Hội Nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam (VADE).
Nếu đa số các trường đều bổ nhiệm vị trí quản lý là người trong nước, thì Trường ĐH Tân Tạo lại có Phó hiệu trưởng kiêm Trưởng Khoa Y là chuyên gia tim mạch can thiệp người Mỹ gốc Việt, GS-BS Thạch Ngọc Nguyễn.
Giáo sư Ngọc Thạch Nguyễn là giáo sư trợ lý lâm sàng tại Trường Y ĐH Indiana (Mỹ), giáo sư danh dự tại Trường ĐH Y Hà Nội và Viện Tim mạch Việt Nam. Ông là người Mỹ gốc Việt đầu tiên được bầu vào Ban chấp hành Hội Tim mạch Mỹ và Hội Tim mạch can thiệp Mỹ (SCAI).
Ông đang giữ chức vụ Giám đốc Nghiên cứu tim mạch của Bệnh viện Methodist (Merrillville, bang Indiana, Mỹ). Đây cũng là nơi ông thường xuyên tạo điều kiện đưa các thế hệ sinh viên y khoa xuất sắc của Việt Nam sang thực tập lâm sàng. Ông từng đảm nhiệm vai trò Giám đốc Khoa Tim mạch của Trung tâm Y tế St. Mary (bang Indiana, Mỹ).
Mới đây, Trường ĐH Nam Cần Thơ cũng bổ nhiệm PGS-TS-BS Phillip Trần, một bác sĩ đang hành nghề lâm sàng tại Mỹ, làm Hiệu trưởng Trường Khoa học sức khỏe.
Ông là chuyên gia tim mạch can thiệp tại Bệnh viện Dignity Health, Chủ tịch Hội đồng Học thuật tại Bệnh viện Dignity Health YRMC, thành viên Hiệp hội Y khoa Mỹ. PGS-TS Phillip Trần cũng giảng dạy tại ĐH Midwestern. ĐH Y khoa ATSU và ĐH Des Moines (Mỹ).
GS-TS-BS Lê Văn Cường, Hiệu trưởng Trường ĐH Phan Châu Trinh từng công tác tại Khoa Gan mật tụy Bệnh viện Bình Dân, Phòng khám Tiêu hóa Bệnh viện ĐH Y dược TP.HCM, bác sĩ cao cấp và cố vấn chuyên môn cho bệnh viện Bệnh viện đa khoa Tâm Trí Sài Gòn.
Ông cũng từng chủ nhiệm bộ môn Giải phẫu, Trưởng phòng Nghiên cứu khoa học và công nghệ, giảng viên cao cấp của Trường ĐH Y dược TP.HCM; Phó chủ nhiệm bộ môn Ngoại tại Trường Y khoa Phạm Ngọc Thạch.
Trưởng Khoa Y Trường ĐH Văn Lang là TS-BS Nguyễn Hùng Vĩ. Tiến sĩ Vĩ là nguyên Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang. Ông từng làm Chủ tịch Hội Y học tỉnh Tiền Giang, Phó chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Na Uy tỉnh Tiền Giang, nguyên Phó giám đốc Sở Y tế tỉnh Tiền Giang, quyền Giám đốc Bệnh viện Phụ sản tỉnh Tiền Giang và nguyên Hiệu trưởng Trường CĐ Y tế Tiền Giang;
Trong khi đó, trước khi trở thành Trưởng khoa Y của Trường ĐH Võ Trường Toản, PGS-TS-BS. Lê Anh Thư đã có hơn 40 năm cống hiến trong ngành y tế công lập và là một trong những chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực nội cơ xương khớp tại Việt Nam.
Bà từng giữ chức vụ Trưởng khoa Nội cơ xương khớp Bệnh viện Chợ Rẫy (TP.HM) Tại đây, bà đã xây dựng và phát triển khoa trở thành một trong những trung tâm điều trị bệnh lý cơ xương khớp hàng đầu phía Nam. Sau đó, bà từng là Phó chủ nhiệm bộ môn Nội tổng quát tại Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch. Bà cũng tham gia giảng dạy, hướng dẫn lâm sàng và chấm luận án tiến sĩ, thạc sĩ tại các trường như Trường ĐH Y dược TP.HCM, Trường ĐH Y dược Cần Thơ, cơ sở 2 Học viện Quân Y.
PGS-TS-BS Lê Thị Kim Nhung, Trưởng Khoa Y Trường ĐH Nguyễn Tất Thành từng làm tại Bệnh viện Thống Nhất (TP.HCM) và giữ chức vụ Trưởng khoa A3 Nội nhiễm. Tại đây, bà trực tiếp tham gia điều trị nhiều bệnh lý nặng về truyền nhiễm, gan mật và hô hấp.