Ngày 21.12.2025, Chính phủ ban hành Nghị định 335/2025 (có hiệu lực thi hành từ 1.1.2026, thay thế Nghị định 90/2020) về đánh giá, xếp loại chất lượng đối với cơ quan hành chính nhà nước và công chức. Đây được xem là sự thay đổi căn bản phương pháp đánh giá cơ quan hành chính và công chức theo hướng thường xuyên, liên tục và đa chiều.
Nghị định 335 yêu cầu việc đánh giá phải gắn liền với kết quả thực hiện nhiệm vụ, được đo lường qua danh mục công việc và đơn vị sản phẩm cụ thể. Để đảm bảo tính khách quan, Chính phủ bắt buộc các bộ, ngành và địa phương phải xây dựng hệ thống phần mềm đánh giá chuyên biệt. Hệ thống này phải kết nối liên thông trực tiếp với phần mềm điều hành, quản lý văn bản và giao nhiệm vụ để ghi nhận dữ liệu thực tế.
Lộ trình triển khai nghị định trên được đẩy mạnh tại Công văn 1087 của Bộ Nội vụ ngày 5.2.2026, yêu cầu các đơn vị hoàn thành xây dựng hạ tầng số và tiêu chí đánh giá trước ngày 1.7.2026.
Theo hướng dẫn, các cơ quan phải xây dựng phần mềm theo dõi, đánh giá công chức, bảo đảm kết nối với hệ thống quản lý văn bản và nhiệm vụ được giao. Mọi công việc được cập nhật trên hệ thống, hạn chế nhập liệu thủ công, đảm bảo dữ liệu chính xác và đồng bộ. Mỗi nhiệm vụ phải gắn với sản phẩm cụ thể, có thể đo lường và quy đổi thành điểm số. Đây là cơ sở để hình thành hệ thống KPI trong khu vực công, giúp việc đánh giá dựa trên dữ liệu thay vì nhận xét cảm tính.
Bộ Nội vụ cũng ban hành sổ tay hướng dẫn xác định nhiệm vụ gắn với đầu ra, nhằm giúp các đơn vị xây dựng tiêu chí đánh giá phù hợp với từng vị trí việc làm, tránh tình trạng chung chung. Đối với các cơ quan có tính chất đặc thù, được phép xây dựng phương pháp đánh giá riêng, nhưng vẫn phải đảm bảo kết nối, liên thông dữ liệu với hệ thống chung.
Trong bối cảnh các địa phương đẩy mạnh triển khai Nghị định 335 do thời gian áp dụng cận kề (từ 1.7.2026), một số nền tảng công nghệ “Make in Vietnam” đã được đưa vào vận hành nhằm hỗ trợ chuẩn hóa quy trình đánh giá công chức theo hướng định lượng.
Theo ghi nhận của PV Thanh Niên, vào ngày 7.4, tại xã Cái Bè (Đồng Tháp), Công ty cổ phần NOTE Việt Nam tổ chức tập huấn sử dụng phần mềm NOTE HRM KPI. Theo nhiều cán bộ tham gia tập huấn, phần mềm giúp đánh giá sát với vị trí việc làm, thuận lợi trong việc tổng hợp kết quả theo quý và xếp loại cuối năm. Các nhiệm vụ được gắn với sản phẩm cụ thể, giúp việc chấm điểm rõ ràng hơn.
Ông Nguyễn Văn Lợi, Phó trưởng phòng Công tác xã hội xã Cái Bè, chia sẻ: “Sau khi tham gia buổi tập huấn, tôi thấy phần mềm chấm điểm khá sát với vị trí việc làm của từng cán bộ đối với tổ chức chuyên môn; từ đó giúp ích được rất nhiều trong việc đánh giá cán bộ theo từng quý, rồi từ kết quả quý rất dễ để phân loại mức độ hoàn thành hay hoàn thành tốt nhiệm vụ”.
Trước đó, ngày 30.3, Sở Nội vụ tỉnh An Giang cũng tổ chức buổi tập huấn sử dụng các tính năng của phần mềm NOTE HRM KPI nhằm tối ưu hóa quy trình đánh giá, xếp loại tổ chức hành chính và công chức.
Ông Trương Long Hồ, Phó giám đốc Sở Nội vụ, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng quản trị nguồn nhân lực nói chung và trong công tác đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tổ chức, công chức theo Nghị định số 335. Buổi tập huấn do Công ty cổ phần NOTE Việt Nam hướng dẫn, nhằm đảm bảo cho các đơn vị, cá nhân nắm vững kỹ thuật, thao tác trên phần mềm để triển khai áp dụng đồng bộ tại phòng, ban, đơn vị trong thời gian tới.
Còn tại buổi tập huấn tại phường Mỹ Thới (An Giang) vào ngày 9.4, ông Dương Anh Dũng, Phó chủ tịch UBND phường, nhấn mạnh việc đưa phần mềm NOTE HRM KPI vào vận hành là bước đi quan trọng trong lộ trình chuyển đổi số, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành và chất lượng đánh giá cán bộ, công chức theo hướng khoa học, sát thực tiễn.
Trao đổi với PV Thanh Niên, ông Nguyễn Thế Anh, Viện trưởng Viện Đào tạo quản trị và hợp tác quốc tế, đại diện một đơn vị tư vấn xây dựng danh mục sản phẩm công việc cho cán bộ công chức chuẩn hóa và đưa lên phần mềm để thực hiện chuyển đổi số, cho biết trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn tăng tốc chuyển đổi số, việc triển khai các chính sách quản trị công không còn dừng lại yêu cầu “đúng quy định”, mà phải hướng tới hiệu quả thực chất, đo lường được và minh bạch hóa toàn diện. “Tuy nhiên, để nghị định thực sự đi vào cuộc sống, một yếu tố mang tính quyết định được đặt ra là chuyển đổi số”, ông Thế Anh nhấn mạnh.
Theo ông Thế Anh, khác với những quy định trước đây, Nghị định 335 đặt chuyển đổi số vào vị trí bắt buộc. Việc xây dựng hệ thống phần mềm theo dõi, đánh giá, tổ chức đánh giá theo tháng, quý; công khai kết quả trên môi trường điện tử; lưu trữ hồ sơ dưới dạng số…; tất cả đều đòi hỏi một nền tảng công nghệ đồng bộ. “Điều này đồng nghĩa, nếu không triển khai chuyển đổi số một cách nghiêm túc, các bộ, ngành, địa phương khó có thể hoàn thành đầy đủ trách nhiệm pháp lý và Nghị định 335 khó tránh khỏi nguy cơ rơi vào hình thức”, ông Thế Anh nói thêm.
Điểm đột phá lớn nhất của Nghị định 335 là thay đổi bản chất của công tác đánh giá cán bộ: từ cách tiếp cận định tính, cảm tính sang đánh giá dựa trên kết quả công việc cụ thể, có thể định lượng. Tuy nhiên, một mô hình đánh giá dựa trên dữ liệu chỉ có thể tồn tại khi có hệ thống số hóa làm nền tảng. Chuyển đổi số cho phép: ghi nhận toàn bộ quá trình thực hiện nhiệm vụ theo thời gian thực; tự động hóa việc tính toán, chấm điểm; kiểm soát chặt chẽ các tiêu chí và ngưỡng đánh giá.
Một yêu cầu quan trọng khác của Nghị định 335 là hệ thống đánh giá phải được kết nối với các nền tảng quản lý khác như hệ thống điều hành văn bản, giao việc và cơ sở dữ liệu cán bộ, công chức. Đây không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà là bước đi chiến lược nhằm hình thành hệ sinh thái dữ liệu thống nhất trong quản trị công.
“Đẩy mạnh chuyển đổi số trong thực hiện Nghị định 335 không chỉ là để tuân thủ quy định, mà cơ hội để tái cấu trúc toàn diện phương thức quản trị cán bộ, chuyển từ quản lý sang quản trị, từ kinh nghiệm sang dữ liệu. Nếu được triển khai đúng hướng, đây sẽ là một bước tiến quan trọng góp phần xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả, đồng thời hiện thực hóa các mục tiêu lớn mà Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra cho kỷ nguyên phát triển mới của đất nước”, ông Thế Anh đúc kết.
Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam diễn ra từ ngày 14 đến ngày 17-4, theo lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và Phu nhân.
Tham gia đoàn, ngoài Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm còn có 9 Ủy viên Bộ Chính trị khác gồm: ông Trần Cẩm Tú, Thường trực Ban Bí thư; bà Bùi Thị Minh Hoài, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; ông Nguyễn Duy Ngọc, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương; Đại tướng Phan Văn Giang, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an; ông Nguyễn Thanh Nghị, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương; ông Lê Hoài Trung, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; ông Đoàn Minh Huấn, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và ông Trần Đức Thắng, Bí thư Thành ủy Hà Nội;
Ngoài ra còn có các Ủy viên Trung ương Đảng là Phó chủ tịch Quốc hội; Bộ trưởng các bộ Tư pháp; Tài chính; Công Thương; Nông nghiệp và Môi trường; Xây dựng; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Khoa học và Công nghệ; Giáo dục và Đào tạo; Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Chánh Văn phòng Chủ tịch nước.
Ông Tô Ân Xô, Trợ lý Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Phụ trách Văn phòng Tổng Bí thư và ông Phạm Thanh Bình, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, cũng trong thành phần đoàn.
Trả lời phỏng vấn trước chuyến đi, Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ cho biết đây là chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trên cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, diễn ra đúng một năm sau chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình (từ ngày 14 đến 15-4-2025).
"Đồng thời, đây là lần thứ ba trong thời gian ngắn chưa đầy hai năm, hai lãnh đạo cao nhất của hai Đảng, hai nước thăm song phương", ông Vũ nói thêm.
Chuyến thăm đánh dấu một khởi đầu mới trong quan hệ song phương khi cả hai nước đều bước vào giai đoạn phát triển mới: Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới sau thành công rất tốt đẹp của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Trung Quốc khởi đầu triển khai Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ 15.
"Việc hai bên sớm tổ chức chuyến thăm thể hiện sự coi trọng hàng đầu và quyết tâm cao của hai bên đối với việc phát triển mối quan hệ 'vừa là đồng chí, vừa là anh em' ngày càng bền vững hơn, ổn định, thực chất hơn trong thời gian tới", ông nói.
Theo Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Phạm Thanh Bình, trong thời gian 4 ngày tại Trung Quốc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ có cuộc hội đàm quan trọng với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và các cuộc hội kiến với lãnh đạo cấp cao khác của Trung Quốc.
Hai Tổng Bí thư, Chủ tịch nước dự kiến cùng gặp gỡ và phát biểu với đại diện thế hệ trẻ hai nước tham gia chương trình "Hành trình đỏ nghiên cứu, học tập của thanh niên", do chính hai nhà lãnh đạo đã khởi xướng từ tháng 4-2025.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng sẽ có bài phát biểu chính sách tại Đại học Thanh Hoa, gặp gỡ một số thân nhân các nhân sĩ hữu nghị hai nước…
Bên cạnh việc chứng kiến lễ ký kết các văn kiện hợp tác, trong khuôn khổ chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam dự kiến sẽ có các hoạt động khảo sát, tìm hiểu mô hình thí điểm khu đô thị mới, hệ thống hạ tầng và công nghiệp đường sắt, cơ sở nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, đổi mới sáng tạo ở cả Bắc Kinh, Hà Bắc và Quảng Tây.
Theo ông Bình, các chuyến khảo sát thực tế sẽ góp phần thúc đẩy hợp tác cụ thể giữa các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp hai nước. Qua đó từng bước cụ thể hóa các nhận thức chung cấp cao, các thỏa thuận đã ký kết thành các dự án và chương trình hợp tác cụ thể, mang lại lợi ích thiết thực cho sự phát triển của mỗi nước và cho quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.
Từ nhiều năm nay, các nghị quyết của Tỉnh ủy Bình Thuận trước đây và Tỉnh ủy Lâm Đồng hiện nay đều xác định kinh tế biển là không gian phát triển chiến lược, đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng dư địa tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo động lực phát triển bền vững.
Trong 3 trụ cột kinh tế của Lâm Đồng gồm du lịch, năng lượng xanh và nông nghiệp công nghệ cao, vùng duyên hải đang nắm giữ 2 lĩnh vực có khả năng tạo đột phá lớn nhất. Đó là du lịch với hạt nhân là Khu du lịch quốc gia Mũi Né và năng lượng với Trung tâm điện lực Vĩnh Tân tại xã Vĩnh Hảo cùng Trung tâm năng lượng Sơn Mỹ đang được đầu tư quy mô lớn.
Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, 2 điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là giải phóng mặt bằng và giải ngân vốn đầu tư công vẫn đang cản trở quá trình chuyển hóa tiềm năng thành động lực tăng trưởng. Việc tháo gỡ các nút thắt này sẽ tác động trực tiếp đến tiến độ dự án và khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Lâm Đồng.
Ông Trần Nguyên Lộc, Chủ tịch UBND phường Phan Thiết, cho biết giải phóng mặt bằng luôn là một trong những khâu khó khăn nhất trong quá trình triển khai dự án bởi liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nơi ở và sinh kế của người dân.
Theo ông Lộc, nhiều hồ sơ đất đai có lịch sử sử dụng kéo dài qua nhiều thời kỳ nên việc xác minh nguồn gốc, hiện trạng sử dụng đất thường mất nhiều thời gian.
Ông dẫn chứng dự án kè sông Cà Ty, đoạn từ cầu Dục Thanh đến đường Ung Văn Khiêm. Để bảo đảm quyền lợi người dân và đúng quy định pháp luật, địa phương đã phải rà soát, hủy và ban hành lại 344 thông báo thu hồi đất trước khi tiếp tục triển khai.
Bên cạnh đó, các vấn đề liên quan đến tái định cư, xác định giá đất và hồ sơ chuyển tiếp theo luật Đất đai mới cũng đang tạo ra không ít khó khăn cho quá trình thực hiện dự án.
Theo ông Nguyễn Hữu Thông, Bí thư Đảng ủy phường Phú Thủy, công tác giải phóng mặt bằng chỉ có thể đẩy nhanh khi tạo được sự đồng thuận từ người dân.
"Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sự khác biệt giữa kỳ vọng của người dân với chính sách bồi thường hoặc những vướng mắc về nguồn gốc đất đai", ông Thông nhận định.
Theo ông, giải pháp không chỉ là tuyên truyền, vận động mà còn phải công khai thông tin, đối thoại thường xuyên và bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân. Đặc biệt, việc xác định giá đất cần được đẩy nhanh bởi đây là một trong những khâu mất nhiều thời gian nhất hiện nay. Không chỉ các dự án đầu tư công, nhiều dự án tư nhân tại khu vực ven biển cũng đang gặp những khó khăn tương tự.
Ông Nguyễn Hữu Thành, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Bình Thuận, cho rằng các dự án cần được phân loại cụ thể để xử lý đúng trọng tâm.
"Nhiều dự án tại khu vực Bình Thuận cũ không chỉ vướng đất đai, quy hoạch, giải phóng mặt bằng mà còn vướng xác định giá đất và thủ tục hành chính kéo dài. Do đó, doanh nghiệp rất mong các tổ công tác của tỉnh làm việc trực tiếp với từng dự án, xác định rõ điểm nghẽn thuộc thẩm quyền cấp nào và ấn định thời gian xử lý dứt điểm", ông Thành nói.
Theo ông Thành, nếu các sở, ngành và địa phương phối hợp chặt chẽ, đồng thời công khai lộ trình xử lý đối với từng dự án, nhiều dự án tồn đọng sẽ sớm được khơi thông, qua đó giải phóng nguồn lực rất lớn cho tăng trưởng kinh tế.
"Mỗi dự án được tháo gỡ không chỉ mang lại nguồn thu cho ngân sách mà còn tạo việc làm, thu hút đầu tư và củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp", ông Thành chia sẻ.
Theo ông Nguyễn Hữu Thành, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Bình Thuận, để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, doanh nghiệp phải đóng vai trò động lực.
"Nhà nước tạo cơ chế, đầu tư hạ tầng và định hướng phát triển, nhưng tăng trưởng thực chất phải đến từ hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp", ông Thành nói.
Theo ông Thành, khu vực Bình Thuận trước đây có nhiều lợi thế về kinh tế biển. Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư hàng nghìn tỉ đồng vào năng lượng tái tạo, du lịch, công nghiệp chế biến và vật liệu xây dựng. Đây đều là những lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng cao, đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng của tỉnh trong thời gian tới.
Cùng quan điểm đó, ông Trần Nguyên Lộc cho rằng mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là chỉ tiêu kinh tế mà còn là yêu cầu nâng cao chất lượng quản trị và mức sống người dân.
Tại phường Phan Thiết, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, thu ngân sách đã đạt 373 tỉ đồng, tương đương 73% dự toán năm. Kết quả này đến từ việc phát huy lợi thế phường trung tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hình thành các không gian phát triển mới như kinh tế đêm và lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư nhân.
"Trong đó, đặc biệt chú trọng đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp; xem đây là giải pháp căn cơ để cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương", ông Lộc nhấn mạnh.
Theo dự thảo tờ trình của UBND TP Hà Nội về đề án Vùng phát thải thấp trong vành đai 1, giai đoạn 1 (1/7-31/12), thành phố sẽ triển khai thí điểm vùng phát thải thấp tại phường Hoàn Kiếm.
Cụ thể vùng phát thải thấp giới hạn trong 11 tuyến phố thuộc phường Hoàn Kiếm gồm: Tràng Tiền, Hàng Khay, Lê Thái Tổ, Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Buồm, Mã Mây, Hàng Bạc, Hàng Mắm, Nguyễn Hữu Huân, Lý Thái Tổ. Khu vực này rộng 0,5 km2, chu vi 3,5 km, dân số khoảng 20.000.
Trong vùng phát thải thấp, xe máy xăng bị cấm lưu thông từ 18h đến 24h thứ sáu, từ 6h đến 24h thứ bảy, chủ nhật. Xe môtô, xe gắn máy xăng hoạt động kinh doanh trên nền tảng phần mềm ứng dụng hỗ trợ kết nối vận tải cũng bị cấm.
Các loại ôtô tải dưới 2 tấn, đáp ứng quy chuẩn khí thải mức 4, chỉ được phép hoạt động ngoài giờ cao điểm. Ôtô tải từ 2 đến dưới 3,5 tấn, đáp ứng quy chuẩn khí thải mức 4, chỉ được phép chạy từ 21h đến 6h hôm sau và phải được Công an thành phố chấp thuận bằng văn bản. Ôtô tải trên 3,5 tấn bị cấm hoạt động.
Ôtô từ 16 chỗ trở lên (trừ xe buýt, xe đưa đón học sinh) tại các tuyến phố trong khu vực phố cổ và xung quanh hồ Hoàn Kiếm ở các phường Hoàn Kiếm, phường Cửa Nam phải đạt mức 4 theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải ôtô tham gia giao thông đường bộ (quy chuẩn). Phương tiện này bị cấm lưu thông từ 6h đến 9h và từ 16h đến 19h30 hàng ngày.
Xe buýt, xe đưa đón học sinh, khí thải phải đạt mức 4 theo quy chuẩn. Xe dưới 16 chỗ sử dụng nhiên liệu hóa thạch, khí thải phải đạt mức 4.
Thành phố xác định giai đoạn 2 (ngày 1/1/2027-31/12/2027) mở rộng khu vực thí điểm tại phường Hoàn Kiếm và Cửa Nam, gồm vùng lõi phường Hoàn Kiếm đã thực hiện ở giai đoạn 1 và 14 tuyến phố bao quanh thuộc phường Cửa Nam: Nguyễn Du, Hàn Thuyên, Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Hàng Đậu, Cửa Đông, Lý Nam Đế, Tôn Thất Thiệp, Điện Biên Phủ, Hàng Bông, Cửa Nam, Lê Duẩn.
Giai đoạn 3 (1/1/2028-31/12/2029), thành phố mở rộng vùng phát thải thấp toàn bộ diện tích trong vành đai 1 với hơn 26 km2, chu vi 25 km và dân số 625.000. Phạm vi vành đai 1 gồm 9 phường được bao quanh bởi các tuyến đường: Hoàng Cầu, Đê La Thành, Ô Chợ Dừa, Xã Đàn, Đại Cồ Việt, Trần Khát Chân, Nguyễn Khoái, Trần Khánh Dư, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Yên Phụ, Nghi Tàm, Âu Cơ, An Dương Vương, Lạc Long Quân, Bưởi, Cầu Giấy.
Việc xây dựng đề án vùng phát thải thấp nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 57/2025 của HĐND về thực hiện vùng phát thải thấp trên địa bàn, trong đó xác định lộ trình thực hiện tại vành đai 1 từ ngày 1/7/2026.
Theo UBND TP Hà Nội, những năm gần đây, chất lượng môi trường không khí trên địa bàn có thời điểm suy giảm, đặc biệt tại trung tâm đô thị, nơi tập trung mật độ dân cư cao, lưu lượng giao thông lớn và nhiều hoạt động kinh tế - xã hội.
Kết quả nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện trong các năm 2023-2025 cho thấy tỷ lệ đóng góp bụi mịn PM2.5 trên địa bàn thành phố từ hoạt động giao thông vận tải là 25%, xây dựng và bụi đường 20%, đốt 12%, bụi thứ cấp hình thành từ khí ô nhiễm, bao gồm cả công nghiệp 27% và nguồn khác 6%.
Số liệu kiểm kê nguồn thải nội tại, riêng trong thành phố nguồn trực tiếp từ hoạt động giao thông chiếm 59%, bụi đường và hoạt động xây dựng 28%, đốt và hoạt động dân sinh 11%, hoạt động công nghiệp 2%.
Việc xây dựng, triển khai đề án vùng phát thải thấp trong vành đai 1 là tiền đề để các sở, ngành và UBND phường xã tổ chức triển khai đồng bộ giải pháp như: kiểm soát phương tiện giao thông phát thải cao đi vào trung tâm; tổ chức giao thông công cộng, phát triển phương tiện sử dụng năng lượng sạch; tăng cường quản lý, giám sát và ứng dụng công nghệ trong kiểm soát phát thải giao thông.
Việc triển khai đề án cũng là bước thí điểm quan trọng để đánh giá hiệu quả thực tiễn, làm cơ sở nghiên cứu mở rộng mô hình vùng phát thải thấp ra các khu vực khác trong các giai đoạn tiếp theo.
Hiện Hà Nội có khoảng 6,9 triệu xe máy, trong đó riêng vành đai 1 khoảng 450.000.