Ngày 17-6, thông tin từ Bệnh viện Đa khoa TP Cần Thơ cho biết sau khi được phẫu thuật cấp cứu sau tai nạn hy hữu, nam thanh niên đã qua cơn nguy kịch và đang hồi phục vết thương ở vùng cổ.
Theo các bác sĩ khoa tai mũi họng, Bệnh viện Đa khoa TP Cần Thơ, trước đó khoảng 1h sáng, ê kíp cấp cứu tiếp nhận nam thanh niên 18 tuổi tên Đ.N.H.Đ. (ở phường Thới Long, TP Cần Thơ). Nạn nhân được đưa vào sau vụ va chạm với cây tre gãy ven đường.
Lúc nhập viện, người bệnh ở trong tình trạng lơ mơ, vết thương vùng cổ trước dài khoảng 15cm đang chảy máu nhiều, vết sâu lộ cả phần sụn giáp, sụn nhẫn và nằm sát bó mạch cảnh phải.
Sau khi được thăm khám và đánh giá vết thương, nạn nhân được phẫu thuật cấp cứu cầm máu khẩn, bơm rửa làm sạch, khâu phục hồi các lớp cơ tổn thương và đóng vết thương, đặt dẫn lưu.
Theo các bác sĩ, các chấn thương cổ xuyên thấu là dạng tổn thương ít gặp nhưng là một cấp cứu nguy hiểm do vùng cổ tập trung nhiều cấu trúc sống còn như thanh quản, khí quản, thực quản, động mạch cảnh và các mạch máu lớn.
Điều may mắn tuy va chạm vào vật sắc cố định như thanh tre khi nạn nhân đang di chuyển, lực tác động tập trung có thể gây rách sâu, tổn thương các cơ quan quan trọng vùng cổ, nhưng trường hợp này dù vết thương lớn làm lộ sụn giáp, bệnh nhân không xuất hiện khó thở hay khàn tiếng.
Cũng theo các bác sĩ khoa tai mũi họng, kết quả chụp cắt lớp vi tính không ghi nhận tổn thương cột sống cổ hoặc các cấu trúc sâu quan trọng khác ở vùng cổ. Đây là một tình huống khá đặc biệt và may mắn, bởi các chấn thương cổ có mức độ tương tự thường tiềm ẩn nguy cơ tổn thương đường thở hoặc mạch máu lớn.
Vì vậy chỉ cần vết thương sâu hơn hoặc lệch hướng vài cm, hậu quả có thể là suy hô hấp cấp, xuất huyết nặng hoặc tử vong.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Mặc dù nghiên cứu này không xem xét các tác động lâu dài đến sức khỏe, nhưng có lý do để tin rằng việc vượt quá giới hạn sinh học của chúng ta có thể gây hại. Điều này cũng đã được các nghiên cứu trước đây cảnh báo.
Nhóm nghiên cứu quốc tế thực hiện nghiên cứu này cho rằng vấn đề có thể nằm ở mức độ căng thẳng và sự phục hồi: áp lực của việc chạy ultra marathon (siêu marathon) vượt quá khả năng phục hồi bẩm sinh của chúng ta.
Đây là điều khiến các tế bào hồng cầu đặc biệt dễ bị tổn thương, vì chúng thiếu nhân và không thể tự sửa chữa bằng cách tạo ra các protein mới. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu không đưa ra khuyến cáo chống lại việc tham gia các cuộc chạy này.
“Chúng tôi không có hướng dẫn nào về việc mọi người có nên tham gia hay không tham gia vào những loại sự kiện này,” nhà hóa sinh và di truyền học phân tử Travis Nemkov – Giáo sư ở Trường đại học Colorado Anschutz, Mỹ - cho biết.
“Điều chúng ta có thể khẳng định là, khi họ tham gia, căng thẳng kéo dài sẽ gây hại cho loại tế bào dồi dào nhất trong cơ thể.”
Nghiên cứu này được thực hiện trên 23 vận động viên chạy bộ ưu tú tham gia cuộc đua Martigny-Combes à Chamonix (40 km - ngắn hơn một chút so với marathon) và cuộc đua Ultra Trail deMont Blanc (171 km - cuộc chạy ultra marathon).
Giáo sư Nemkov và các đồng nghiệp đã đo nồng độ của nhiều loại dấu ấn sinh học khác nhau trong các mẫu máu thu thập từ các vận động viên trước và ngay sau cuộc đua.
Đúng như dự đoán, các tế bào hồng cầu cho thấy tổn thương do nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm cả tổn thương cơ học (do căng thẳng thể chất) và tổn thương phân tử (do thay đổi hóa học bên trong).
Nhìn chung, những dấu hiệu tổn thương này thường liên quan đến quá trình lão hóa và phân hủy nhanh hơn của hồng cầu. Tuy nhiên, sự hao mòn của các tế bào này lại rõ rệt hơn ở những vận động viên chạy cự ly dài hơn.
Một trong những thay đổi đáng kể là hồng cầu trở nên kém linh hoạt hơn. Điều này có thể hạn chế khả năng di chuyển của chúng trong cơ thể và dẫn đến sự sụt giảm lượng hồng cầu khi các tế bào cứng hơn bị loại bỏ và điều này chỉ được quan sát thấy ở những vận động viên chạy ultra marathon.
Một điểm khác biệt nữa ở cự ly dài hơn là một trong những chiến lược sửa chữa hồng cầu, được gọi là chu trình Lands, đã hoạt động quá mức với các dấu hiệu hóa học cho thấy nó không thể đáp ứng kịp nhu cầu của cơ thể.
"Ở một thời điểm nào đó giữa cự ly marathon và ultra marathon, tổn thương thực sự bắt đầu nghiêm trọng," Giáo sư Nemkov nói.
"Chúng tôi đã quan sát thấy tổn thương này xảy ra, nhưng chúng tôi không biết cơ thể cần bao lâu để phục hồi, liệu tổn thương đó có ảnh hưởng lâu dài hay không, và liệu ảnh hưởng đó là tốt hay xấu".
Cũng như ở các nghiên cứu khác, điều quan trọng là phải đưa ra bối cảnh thực hiện dẫn đến kết quả nghiên cứu. Đây là một mẫu nghiên cứu trên số lượng vận động viên tương đối nhỏ, và có những khác biệt khác giữa hai loại cuộc đua ngoài độ dài (bao gồm tốc độ, độ cao và điều kiện).
Điều đó có nghĩa là không có bằng chứng về mối quan hệ nhân quả trực tiếp ở đây, và bất kỳ kết luận nào cũng phải được cân nhắc so với các nghiên cứu khác. Ví dụ, trước đây người ta đã phát hiện ra rằng các vận động viên ưu tú thường có tuổi thọ cao hơn đáng kể so với những người khác.
Nghiên cứu trong tương lai sẽ có thể xem xét những thay đổi về máu này ở các nhóm người lớn hơn trong một khoảng thời gian dài hơn, nhưng cũng có một phát hiện thú vị khác của nghiên cứu này: Tổn thương được thể hiện ở đây tương tự như tổn thương được thấy khi máu được lưu trữ để truyền.
Các tế bào hồng cầu được bảo quản cho thấy những "tổn thương" tương tự như ở các vận động viên chạy ultra marathon, và các nhà nghiên cứu cho rằng những sự kiện chạy bộ khắc nghiệt này có thể được sử dụng để nghiên cứu các phương pháp cải thiện việc bảo quản máu cho mục đích y tế.
"Nghiên cứu này cho thấy rằng tập luyện sức bền cực độ đẩy các tế bào hồng cầu đến quá trình lão hóa nhanh hơn thông qua các cơ chế phản ánh những gì chúng ta quan sát thấy trong quá trình bảo quản máu.
Hiểu được những con đường chung này mang lại cho chúng ta cơ hội duy nhất để tìm hiểu cách bảo vệ tốt hơn chức năng tế bào máu cả ở các vận động viên và trong y học truyền máu", nhà hóa sinh và sinh học phân tử Angelo D'Alessandro ở Trường đại học Colorado Anschutz cho biết.
Tin Gốc: Dân Trí

Ngày 16/5, tại hội thảo tổng kết Sáng kiến Hợp tác Thể thao vì Sức khỏe Cộng đồng, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cùng các chuyên gia y tế, giáo dục đã cảnh báo về "khủng hoảng thiếu vận động" ở giới trẻ Việt Nam.
Theo WHO, Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có tỷ lệ thanh thiếu niên ít vận động ở mức cao, với 91% trẻ em gái và 82% trẻ em trai chưa đáp ứng khuyến nghị vận động tối thiểu mỗi ngày. Những con số đáng báo động này cho thấy lối sống tĩnh tại ngày càng phổ biến ở giới trẻ.
Thiếu vận động thể chất là một trong những tác nhân chính góp phần làm gia tăng gánh nặng các bệnh không lây nhiễm tại Việt Nam, như béo phì, tim mạch, tiểu đường và các vấn đề sức khỏe tâm thần.
Nguyên nhân cốt lõi đầu tiên khiến thanh thiếu niên thiếu thời gian vận động đến từ áp lực học tập khổng lồ. Dữ liệu từ Nghiên cứu Y tế Học đường Toàn cầu (GSHS) do WHO và Bộ Y tế thực hiện chỉ ra phần lớn học sinh duy trì thói quen tĩnh tại do ngồi học quá lâu, trong khi môn giáo dục thể chất tại trường học nhiều nơi vẫn nặng tính hình thức, thời lượng ít ỏi và thiếu sức hút.
Nguyên nhân thứ hai là sự bùng nổ của kỷ nguyên số, khi thiết bị thông minh và mạng xã hội dần thay thế các hoạt động thể chất ngoài trời, "giam lỏng" giới trẻ trong không gian ảo.
Bên cạnh đó, tốc độ đô thị hóa nhanh làm thu hẹp không gian xanh, công viên và sân chơi tại các thành phố lớn cũng tạo ra rào cản đáng kể. Khi môi trường sống thiếu không gian vận động an toàn, cộng thêm tình trạng ô nhiễm không khí và giao thông phức tạp, phụ huynh có xu hướng giữ con ở nhà, vô tình đẩy trẻ vào lối sống khép kín.
Cuối cùng, nguyên nhân sâu xa thuộc về văn hóa gia đình là tâm lý ưu tiên tuyệt đối cho thành tích học tập, xem nhẹ vai trò của thể thao. Hệ lụy của nhận thức này, kết hợp cùng chế độ dinh dưỡng dư thừa thức ăn nhanh, đã được Viện Dinh dưỡng Quốc gia liên tục cảnh báo qua tỷ lệ béo phì ở học sinh thành thị đang ở mức báo động đỏ, kéo theo sự khởi phát sớm của các bệnh lý rối loạn chuyển hóa, đái tháo đường type 2 và tăng huyết áp ngay ở độ tuổi học đường.
Trong nỗ lực can thiệp, tổ chức PATH cùng các đối tác trong nước và quốc tế đã triển khai chương trình thúc đẩy thể thao học đường giai đoạn 2025-2026. Trải qua gần hai năm, dự án giúp hơn 229.000 học sinh cùng người dân duy trì thói quen tập luyện thường xuyên, đồng thời tăng 22,6% tỷ lệ học sinh đạt chuẩn vận động tại 10 trường thí điểm.
TS.BS Lê Thị Thu Hiền, Giám đốc chương trình Chăm sóc Sức khỏe Ban đầu tại PATH, cho biết ban tổ chức lồng ghép nhiều hoạt động quen thuộc như đạp xe, khiêu vũ hay kéo co nhằm thu hút giới trẻ, giúp các em rèn luyện thể lực và xây dựng tinh thần đồng đội.
Thay đổi tích cực từ dự án đã chạm đến nhiều học sinh. Em Lê Khánh Thy, trường THCS Cao Xuân Huy (Nghệ An), cho hay bản thân từng ngại chơi thể thao nhưng nay đã tự tin truyền cảm hứng vận động cho cộng đồng.
Tiến sĩ Angela Pratt, Trưởng đại diện WHO tại Việt Nam, đánh giá cao cách tiếp cận trao quyền cho học sinh dẫn dắt phong trào thể chất, từ đó tạo ra tác động bền vững mà nhiều quốc gia khác có thể học hỏi. WHO đặt mục tiêu toàn cầu giảm 15% tình trạng thiếu vận động thể chất vào năm 2030, trong đó trường học được xem là môi trường trọng tâm để thay đổi hành vi.
Bên cạnh giới trẻ, WHO cũng khuyến cáo người trưởng thành cần duy trì ít nhất 150 phút vận động cường độ vừa hoặc 75 phút cường độ mạnh mỗi tuần. Thói quen rèn luyện thể chất thường xuyên giúp mọi người giảm 30% nguy cơ mắc bệnh tim mạch, kiểm soát tốt cân nặng, huyết áp và mỡ máu. Các chuyên gia nhấn mạnh việc duy trì lối sống lành mạnh và tầm soát định kỳ giúp con người phòng ngừa đến 80% số ca tử vong sớm do bệnh lý tim mạch.
Tin Gốc: Vnexpress

Bác sĩ Ngô Quỳnh Trang, Bệnh viện Bạch Mai, cho hay việc nhịn ăn không giúp "bỏ đói" tế bào ung thư mà ngược lại có thể khiến cơ thể suy kiệt nhanh hơn, làm giảm khả năng đáp ứng với điều trị.
Bác sĩ Trang nhấn mạnh đây là một trong những quan niệm phổ biến nhất ở người bệnh ung thư.
Nhiều người cho rằng cắt giảm tinh bột, ăn rất ít hoặc thậm chí nhịn ăn sẽ khiến tế bào ung thư không có nguồn dinh dưỡng để phát triển. Tuy nhiên, thực tế không đơn giản như vậy.
Các chuyên gia cho biết khối u không chỉ sử dụng năng lượng từ đường hay tinh bột mà còn có thể lấy năng lượng từ đạm và mỡ do chính cơ thể người bệnh phân hủy.
Khi giảm ăn kéo dài, cơ thể sẽ mất cơ, sụt cân nhanh, suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch và giảm khả năng chịu đựng các phương pháp điều trị như phẫu thuật, hóa trị hoặc xạ trị.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng suy dinh dưỡng làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, kéo dài thời gian nằm viện và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư.
Mục tiêu dinh dưỡng trong điều trị ung thư không phải là "bỏ đói khối u" mà là cung cấp đủ năng lượng để cơ thể có sức chống chọi với bệnh tật và đáp ứng điều trị hiệu quả.
Không ít người bệnh loại bỏ hoàn toàn thịt bò, thịt lợn hoặc thịt dê khỏi thực đơn vì lo ngại những thực phẩm này làm khối u phát triển nhanh hơn.
Tuy nhiên, thịt đỏ là nguồn cung cấp protein chất lượng cao cùng nhiều vi chất quan trọng như sắt, vitamin B12 và kẽm. Đây đều là những dưỡng chất cần thiết cho quá trình tạo máu, duy trì khối cơ, tăng cường miễn dịch và phục hồi sau điều trị.
Nếu kiêng tuyệt đối trong thời gian dài, người bệnh có thể đối mặt với nguy cơ thiếu đạm, thiếu máu, sụt cân, mệt mỏi và giảm khả năng đáp ứng với các phương pháp điều trị.
"Theo các khuyến cáo quốc tế, việc hạn chế tiêu thụ quá nhiều thịt đỏ và đặc biệt là thịt chế biến sẵn nhằm giảm nguy cơ mắc một số loại ung thư, nhất là ung thư đại trực tràng. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc người đã mắc ung thư phải loại bỏ hoàn toàn thịt đỏ khỏi khẩu phần ăn.
Các chuyên gia khuyến nghị người bệnh nên sử dụng thịt đỏ ở mức hợp lý, ưu tiên thịt tươi và các phương pháp chế biến lành mạnh như luộc, hấp hoặc hầm. Đồng thời cần kết hợp đa dạng nguồn đạm từ cá, thịt gia cầm, trứng, sữa, đậu đỗ và các loại hạt", bác sĩ Trang khuyến cáo.
Nhiều người còn cho rằng "đường nuôi tế bào ung thư" nên cắt hoàn toàn cơm, cháo, trái cây hoặc các thực phẩm chứa tinh bột với hy vọng làm chậm sự phát triển của khối u.
Tuy nhiên theo bác sĩ Trang, glucose là nguồn năng lượng thiết yếu cho mọi tế bào trong cơ thể, bao gồm cả các tế bào khỏe mạnh. Não, hồng cầu và nhiều cơ quan quan trọng đều cần glucose để hoạt động bình thường.
Khi cắt giảm quá mức tinh bột và đường, cơ thể dễ rơi vào tình trạng thiếu năng lượng, sụt cân, mất cơ, giảm miễn dịch và suy giảm thể trạng. Trong khi đó, tế bào ung thư vẫn có thể sử dụng năng lượng từ các nguồn khác do cơ thể tự phân hủy.
Đặc biệt, đối với người đang hóa trị hoặc xạ trị, thiếu năng lượng kéo dài có thể làm chậm quá trình hồi phục, tăng nguy cơ biến chứng và ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
Các chuyên gia khuyến cáo người bệnh vẫn cần sử dụng carbohydrate với lượng phù hợp, ưu tiên các nguồn tinh bột lành mạnh như cơm, khoai củ, yến mạch, ngũ cốc nguyên hạt, sữa và trái cây. Trong khi đó, nên hạn chế nước ngọt, bánh kẹo nhiều đường và các thực phẩm siêu chế biến.
Dinh dưỡng là một phần quan trọng trong điều trị ung thư. Một chế độ ăn cân đối, đa dạng và phù hợp với tình trạng bệnh không chỉ giúp duy trì thể trạng mà còn góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, giảm biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Người bệnh không nên tự áp dụng các chế độ ăn kiêng cực đoan hoặc loại bỏ hoàn toàn một nhóm thực phẩm khi chưa có chỉ định từ bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng. Khi có nhu cầu điều chỉnh chế độ ăn, người bệnh nên được tư vấn cá thể hóa để bảo đảm vừa đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng vừa phù hợp với quá trình điều trị.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

