Ngày 16/5, tại hội thảo tổng kết Sáng kiến Hợp tác Thể thao vì Sức khỏe Cộng đồng, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cùng các chuyên gia y tế, giáo dục đã cảnh báo về “khủng hoảng thiếu vận động” ở giới trẻ Việt Nam.
Theo WHO, Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có tỷ lệ thanh thiếu niên ít vận động ở mức cao, với 91% trẻ em gái và 82% trẻ em trai chưa đáp ứng khuyến nghị vận động tối thiểu mỗi ngày. Những con số đáng báo động này cho thấy lối sống tĩnh tại ngày càng phổ biến ở giới trẻ.
Thiếu vận động thể chất là một trong những tác nhân chính góp phần làm gia tăng gánh nặng các bệnh không lây nhiễm tại Việt Nam, như béo phì, tim mạch, tiểu đường và các vấn đề sức khỏe tâm thần.
Nguyên nhân cốt lõi đầu tiên khiến thanh thiếu niên thiếu thời gian vận động đến từ áp lực học tập khổng lồ. Dữ liệu từ Nghiên cứu Y tế Học đường Toàn cầu (GSHS) do WHO và Bộ Y tế thực hiện chỉ ra phần lớn học sinh duy trì thói quen tĩnh tại do ngồi học quá lâu, trong khi môn giáo dục thể chất tại trường học nhiều nơi vẫn nặng tính hình thức, thời lượng ít ỏi và thiếu sức hút.
Nguyên nhân thứ hai là sự bùng nổ của kỷ nguyên số, khi thiết bị thông minh và mạng xã hội dần thay thế các hoạt động thể chất ngoài trời, “giam lỏng” giới trẻ trong không gian ảo.
Bên cạnh đó, tốc độ đô thị hóa nhanh làm thu hẹp không gian xanh, công viên và sân chơi tại các thành phố lớn cũng tạo ra rào cản đáng kể. Khi môi trường sống thiếu không gian vận động an toàn, cộng thêm tình trạng ô nhiễm không khí và giao thông phức tạp, phụ huynh có xu hướng giữ con ở nhà, vô tình đẩy trẻ vào lối sống khép kín.
Cuối cùng, nguyên nhân sâu xa thuộc về văn hóa gia đình là tâm lý ưu tiên tuyệt đối cho thành tích học tập, xem nhẹ vai trò của thể thao. Hệ lụy của nhận thức này, kết hợp cùng chế độ dinh dưỡng dư thừa thức ăn nhanh, đã được Viện Dinh dưỡng Quốc gia liên tục cảnh báo qua tỷ lệ béo phì ở học sinh thành thị đang ở mức báo động đỏ, kéo theo sự khởi phát sớm của các bệnh lý rối loạn chuyển hóa, đái tháo đường type 2 và tăng huyết áp ngay ở độ tuổi học đường.
Trong nỗ lực can thiệp, tổ chức PATH cùng các đối tác trong nước và quốc tế đã triển khai chương trình thúc đẩy thể thao học đường giai đoạn 2025-2026. Trải qua gần hai năm, dự án giúp hơn 229.000 học sinh cùng người dân duy trì thói quen tập luyện thường xuyên, đồng thời tăng 22,6% tỷ lệ học sinh đạt chuẩn vận động tại 10 trường thí điểm.
TS.BS Lê Thị Thu Hiền, Giám đốc chương trình Chăm sóc Sức khỏe Ban đầu tại PATH, cho biết ban tổ chức lồng ghép nhiều hoạt động quen thuộc như đạp xe, khiêu vũ hay kéo co nhằm thu hút giới trẻ, giúp các em rèn luyện thể lực và xây dựng tinh thần đồng đội.
Thay đổi tích cực từ dự án đã chạm đến nhiều học sinh. Em Lê Khánh Thy, trường THCS Cao Xuân Huy (Nghệ An), cho hay bản thân từng ngại chơi thể thao nhưng nay đã tự tin truyền cảm hứng vận động cho cộng đồng.
Tiến sĩ Angela Pratt, Trưởng đại diện WHO tại Việt Nam, đánh giá cao cách tiếp cận trao quyền cho học sinh dẫn dắt phong trào thể chất, từ đó tạo ra tác động bền vững mà nhiều quốc gia khác có thể học hỏi. WHO đặt mục tiêu toàn cầu giảm 15% tình trạng thiếu vận động thể chất vào năm 2030, trong đó trường học được xem là môi trường trọng tâm để thay đổi hành vi.
Bên cạnh giới trẻ, WHO cũng khuyến cáo người trưởng thành cần duy trì ít nhất 150 phút vận động cường độ vừa hoặc 75 phút cường độ mạnh mỗi tuần. Thói quen rèn luyện thể chất thường xuyên giúp mọi người giảm 30% nguy cơ mắc bệnh tim mạch, kiểm soát tốt cân nặng, huyết áp và mỡ máu. Các chuyên gia nhấn mạnh việc duy trì lối sống lành mạnh và tầm soát định kỳ giúp con người phòng ngừa đến 80% số ca tử vong sớm do bệnh lý tim mạch.
Khi ngủ, nhịp tim và huyết áp thường giảm xuống, hệ thần kinh được điều hòa để cơ thể nghỉ ngơi và phục hồi. Nếu tim có vấn đề, quá trình này sẽ bị gián đoạn và tạo ra những dấu hiệu bất thường vào ban đêm, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Nhận biết các dấu hiệu xảy ra trong lúc ngủ không chỉ giúp phát hiện sớm vấn đề về tim mà còn giúp ngăn ngừa những biến chứng nguy hiểm. Người bệnh không được chủ quan nếu có các dấu hiệu sau khi ngủ:
Một dấu hiệu đáng chú ý là đột ngột thức giấc nửa đêm vì cảm thấy khó thở, hụt hơi hoặc phải ngồi dậy mới dễ thở hơn. Đây không phải là hiện tượng bình thường, đặc biệt nếu xảy ra thường xuyên.
Trong nhiều trường hợp, tình trạng này liên quan đến suy tim. Khi tim bơm máu kém hiệu quả, dịch có thể tích tụ trong phổi. Khi nằm ngủ, lượng dịch này dồn lên vùng ngực nhiều hơn, làm giảm khả năng trao đổi ô xy và gây cảm giác nghẹt thở.
Ngoài ra, ngưng thở khi ngủ cũng có thể gây ra hiện tượng này do thiếu ô xy đột ngột. Dù nguyên nhân là gì thì thường xuyên tỉnh giấc vì khó thở cũng cần được kiểm tra. Biểu hiện này có thể do vấn đề nghiêm trọng ở tim hoặc hệ hô hấp.
Nếu đang ngủ mà tỉnh giấc và cảm thấy tim đập rất nhanh, đập mạnh hoặc không đều, đó có thể là dấu hiệu của rối loạn nhịp tim. Một số người mô tả cảm giác như tim bị lỡ nhịp hoặc đập loạn xạ.
Các rối loạn nhịp như rung nhĩ có thể xảy ra trong khi ngủ, đặc biệt ở những người có bệnh nền như huyết áp cao. Nguyên nhân là do sự mất cân bằng của hệ thần kinh và tình trạng thiếu ô xy lặp lại trong đêm, chẳng hạn ngưng thở khi ngủ hay thở nông, khiến tim dễ bị kích thích và loạn nhịp. Nếu tình trạng này xảy ra thường xuyên hoặc đi kèm chóng mặt, mệt mỏi thì cần kiểm tra điện tim để được đánh giá chính xác hơn.
Đau ngực vào ban đêm là dấu hiệu không nên xem nhẹ. Một số người có thể cảm thấy tức ngực, nặng ngực hoặc nóng rát ngực khi đang ngủ. Đây là những vấn đề dễ nhầm với triệu chứng trào ngược dạ dày.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chúng có thể là biểu hiện của thiếu máu cơ tim. Khi lưu lượng máu đến tim giảm, đặc biệt vào ban đêm, tim có thể không nhận đủ ô xy và gây ra cảm giác đau. Nếu cơn đau kéo dài, lan ra tay, vai hoặc hàm, kèm khó thở thì cần đi khám ngay để loại trừ nguy cơ nhồi máu cơ tim, theo Healthline.
Bệnh viện Lý Gia ở thành phố Đài Trung, Đài Loan, Trung Quốc, mới đây tiếp nhận một ca ung thư đại trực tràng hy hữu, theo Next Apple News ngày 10/4. Bệnh nhân là một phụ nữ ngoài 60 tuổi, sụt 10 kg chỉ trong vòng 3 tháng. Ban đầu, bà ngỡ giảm cân thành công nên phấn khởi. Tuy nhiên sau đó, bà bắt đầu thấy bụng chướng đau, đi ngoài liên tục và phân không thành khuôn nên đến bệnh viện nội soi đại tràng.
Bác sĩ Lại Đại Phong, chuyên khoa Gan mật và Tiêu hóa, cho biết kết quả nội soi đại tràng cho thấy cách cửa hậu môn 50 cm có một khối u lớn. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng rối loạn tiêu hóa và sụt cân nghiêm trọng của bà.
Bác sĩ cho hay mặc dù cơ quan y tế đã triển khai chương trình tầm soát miễn phí bằng xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân (FIT) định kỳ 2 năm một lần, tháng nào bệnh viện cũng ghi nhận các ca mắc mới. Đặc biệt, người cao tuổi thường có tâm lý chịu đựng, ít có thói quen kiểm tra sức khỏe định kỳ, dẫn đến việc chỉ đi khám khi cơ thể đã xuất hiện các triệu chứng đau đớn, làm mất đi "giai đoạn vàng" trong điều trị.
Ung thư đại trực tràng là căn bệnh có số ca mắc mới đứng thứ hai trong danh sách 10 loại ung thư phổ biến nhất, chỉ sau ung thư phổi. Tuy nhiên, nếu được phát hiện sớm ngay từ giai đoạn khởi đầu hoặc giai đoạn 1, tỷ lệ sống sót sau 5 năm của bệnh nhân có thể lên tới hơn 90%.
Theo bác sĩ Lại, các nhóm có nguy cơ cao là những người có thói quen ăn đồ nướng, thực phẩm nhiều dầu mỡ, lười ăn rau quả hoặc có người thân trong gia đình từng mắc ung thư đại trực tràng. Ở giai đoạn đầu, ung thư đại trực tràng thường không có triệu chứng rõ ràng. Nhiều người chủ quan cho rằng đau bụng hay thay đổi thói quen đi vệ sinh chỉ là khó tiêu tạm thời hoặc ngộ độc thực phẩm mà không biết đó là hồi chuông cảnh báo sớm của ung thư.
Do các triệu chứng ban đầu thường không rõ ràng, nhiều người vẫn lầm tưởng đau bụng hay rối loạn tiêu hóa chỉ là ngộ độc thực phẩm nhẹ mà không biết đó là dấu hiệu cảnh báo ung thư. Các chuyên gia cảnh báo nếu xuất hiện các dấu hiệu như thói quen đại tiện thay đổi, phân có máu hoặc chất nhầy, phân mỏng dẹt, cảm giác đi ngoài không sạch, đau chướng bụng hoặc sụt cân không rõ nguyên nhân kéo dài trên hai tuần, người dân cần lập tức đi kiểm tra để có cơ hội điều trị kịp thời.
Tình trạng không thể uống hết 2 lít nước lọc một ngày không phải là dấu hiệu "yếu" mà cho thấy hệ thống điều hòa nước của cơ thể đang hoạt động hiệu quả. Các cơ chế sinh học như giảm cảm giác khát, tăng bài tiết nước tiểu và tạo cảm giác đầy bụng được thiết kế để ngăn cơ thể hấp thu quá nhiều nước trong thời gian ngắn.
Nước là nhu cầu sinh tồn nên cơ thể có cơ chế kiểm soát rất nghiêm ngặt. Chỉ cần nồng độ muối trong máu tăng nhẹ, não bộ lập tức phát tín hiệu khát để thúc đẩy việc uống nước. Ngược lại, khi cơ thể đã nhận đủ nước, các tín hiệu "tắt khát" sẽ được kích hoạt rất nhanh. Chỉ cần vài tín hiệu từ miệng, họng và dạ dày khi nước vừa được uống vào, não đã nhận biết rằng cơ thể sắp được bù nước. Khi đó, cảm giác khát giảm ngay cả trước khi nước được hấp thu hoàn toàn. Đồng thời, thận bắt đầu tăng thải nước tiểu để giữ cân bằng dịch.
Các nghiên cứu thần kinh học cho thấy khi cơ thể đã đủ nước, việc nuốt thêm trở nên khó khăn hơn rõ rệt. Điều này giải thích vì sao nhiều người cảm thấy rất khó uống tiếp khi đã uống quá nhiều nước.
Ngoài ra, một yếu tố quan trọng khác là cảm giác căng dạ dày. Khi uống nước liên tục, dạ dày nhanh chóng bị giãn ra và tạo cảm giác đầy bụng. Trong các thử nghiệm sinh lý, nhiều người bắt đầu cảm thấy "no nước" sau khoảng 400-700 ml.
Trái ngược với nước lọc, bia lại tác động đến cơ thể theo nhiều con đường khiến người uống dễ tiêu thụ nhiều hơn. Bia thường được uống lạnh, có ga và có hương vị đặc trưng. Các yếu tố này làm tăng cảm giác sảng khoái và dễ uống. Khí CO₂ trong bia còn có thể tạo ra hiện tượng ợ hơi, giúp giảm áp lực trong dạ dày, khiến người uống cảm thấy "nhẹ bụng" hơn dù lượng chất lỏng đã khá lớn.
Thứ hai là tác động của rượu lên não bộ. Ethanol trong bia là một chất hướng thần, có khả năng kích hoạt hệ thống thưởng của não, đặc biệt là hệ dopamine. Chỉ riêng mùi hoặc vị bia cũng có thể làm tăng cảm giác muốn uống thêm, ngay cả khi lượng cồn chưa đủ gây say.
Không chỉ vậy, rượu bia còn làm suy giảm khả năng kiểm soát hành vi. Khi nồng độ cồn trong máu tăng, não bộ trở nên kém nhạy với các tín hiệu nội cảm như đầy bụng hoặc "đủ rồi". Điều này khiến người uống dễ tiếp tục uống dù cơ thể đã bắt đầu quá tải. Khi uống nhiều bia trong thời gian dài, tổng lượng cồn lớn vẫn có thể gây mất nước, rối loạn điện giải và nhiều nguy cơ sức khỏe khác.
Bác sĩ Nguyễn Huy HoàngHội Y học dưới nước và Oxy cao áp Việt Nam