Trịnh Hữu Chín, 28 tuổi, hiện làm việc ở khoa Gây mê, Hồi sức tính cực ngoại khoa và Quản lý đau, Bệnh viện Đại học Y Dược cơ sở Linh Đàm. Tấm thẻ tên “ThS. BSNT Trịnh Hữu Chín” cài trên áo blouse gần đây đánh dấu chặng đường mới, sau 9 năm học để lấy cùng lúc ba tấm bằng Thạc sĩ, Bác sĩ nội trú và Bác sĩ chuyên khoa I, của trường Đại học Y Dược.
Trên hành trình ấy, Chín đã ba lần đứng ở vị trí cao nhất. Anh vào trường năm 2016 với vị trí thủ khoa đầu vào ở phương thức xét điểm thi đánh giá năng lực HSA. Sáu năm sau, anh tốt nghiệp thủ khoa ngành Y khoa với số điểm 3.59/4. Và tháng 5 này, Chín một lần nữa được vinh danh khi dẫn đầu danh sách bác sĩ nội trú tốt nghiệp.
“Mình chưa bao giờ cố gắng để trở thành thủ khoa”, chàng trai Hà Nội nói. “Mình chỉ cố gắng để thu lượm được nhiều kiến thức, kỹ năng nhất có thể”.
Là cựu học sinh chuyên Tin, trường THPT chuyên Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, Chín rẽ hướng sang ngành Y từ năm lớp 11 vì say mê môn Sinh học, dù gia đình không có ai theo nghề này.
Ngày vào đại học, Chín xác định tranh thủ tối đa thời gian để tự học. Ngoài kiến thức trên lớp, anh tìm đọc sách y khoa và các tài liệu chính thống trên Internet, chú ý quan sát, hỏi thăm bệnh nhân khi học lâm sàng tại bệnh viện. Với cách học đó, Chín vẫn có mặt trong các hoạt động của trường, tham gia chống dịch Covid-19 mà không ảnh hưởng nhiều đến tiến độ học tập.
Sáu năm đại học vất vả, nhưng với Chín, quãng thời gian đó “không thể so sánh” với ba năm học bác sĩ nội trú. Để vượt qua kỳ thi đầu vào khốc liệt, bất cứ sinh viên nào cũng phải “cày ngày, cày đêm”, ôn luyện đủ mảng, từ các môn cơ sở như Giải phẫu, Sinh lý, đến các môn chuyên ngành Nội, Ngoại, Sản, Nhi.
Khác với một số trường Y, Đại học Y Dược yêu cầu thí sinh chọn chuyên ngành nội trú trước khi thi. Chỉ được tiếp xúc với Gây mê hồi sức qua các bài học Ngoại khoa, nhưng Chín đã bị cuốn hút bởi vai trò thầm lặng của lĩnh vực này.
“Về mặt gây mê, mình giúp bệnh nhân đỡ đau, trải qua ca mổ an toàn. Về hồi sức, mình có thể xử trí giúp họ vượt qua giai đoạn khó khăn nhất, bước đầu cứu sống bệnh nhân”, Chín nói.
Học tại nhiều bệnh viện tuyến trung ương, Chín tham gia điều trị cho bệnh nhân như một bác sĩ chính thức, được thầy hướng dẫn và giải đáp thắc mắc trực tiếp, định hướng, gợi ý giải pháp để ứng dụng ngay.
Thời gian này, Chín ở phòng mổ nhiều hơn bất cứ đâu. Có những ngày 8-9h tối, anh mới về. Cũng có ngày gặp ca nặng, nửa đêm mới rời phòng mổ, Chín ngủ tại viện để chuẩn bị cho cuộc họp giao ban vào 7h30 hôm sau.
“Mình thường ăn trưa vào lúc hai giờ chiều. Có khi ăn được một miếng thì có thông báo từ phòng mổ, đành bỏ đũa chạy vào ngay”, Chín kể.
Ngoài thời gian, công việc của một bác sĩ gây mê đòi hỏi sự tỉ mỉ và độ chính xác cao. Chín mô tả nó pha trộn giữa Ngoại khoa và Nội khoa khi vừa phải tư duy tính toán liều thuốc cẩn thận, vừa phải cẩn trọng trong thao tác, thủ thuật, đảm bảo bệnh nhân an toàn.
Thông thường, Chín khám và đánh giá bệnh nhân từ hôm trước để lên kế hoạch, đưa ra phương án điều trị. Trong quá trình gây mê, anh tiếp tục tính toán, dò liều, làm sao giúp bệnh nhân không chịu đau đớn nhưng vẫn giữ được huyết áp và hô hấp. Với những ca cấp cứu, bác sĩ buộc phải có phản xạ, tính toán nhanh bởi không có nhiều thời gian để tìm hiểu trước về bệnh nhân.
“Hồi còn học đại học, mình chỉ được quan sát các thầy cô, anh chị làm. Khi học bác sĩ nội trú, mình mới trực tiếp trải qua”, Chín nói. “Tất cả trải nghiệm khiến mình thêm trân trọng và muốn gắn bó với nghề”.
Dù công việc tại viện rất căng thẳng, Chín tự thấy ba năm diễn ra suôn sẻ cho đến khi chuẩn bị bảo vệ khóa luận và thi tốt nghiệp. Giai đoạn đó, ngoài duy trì phần lớn thời gian trong ngày tại viện, Chín phải ôn thêm lý thuyết, thu thập và xử lý số liệu, viết bài, sinh hoạt khoa học và hỗ trợ các thầy hướng dẫn bác sĩ nội trú khóa dưới.
Chín còn tham gia hội nghị khoa học gây mê hồi sức toàn quốc, giành giải ba báo cáo viên trẻ xuất sắc năm 2025.
Nhận xét về học trò, BS. Trịnh Kế Điệp, Trưởng khoa Gây mê, Hồi sức tích cực ngoại khoa và Quản lý đau của bệnh viện, cho biết Chín có năng lực vượt trội hơn nhiều bạn bè đồng trang lứa và đã có thể độc lập xử lý các ca mổ thông thường.
Điều khiến thầy Điệp ấn tượng nhất là sự nhất quán, “trước sau như một” của Chín. Thầy nhớ có lần Chín nói “Em xác định theo thầy thì thầy đi đâu em sẽ đi đấy, kể cả thầy về bệnh viện tuyến huyện”.
“Đến khi tôi rời bệnh viện Hữu nghị Việt Đức về trường Đại học Y Dược, Chín cũng quyết tâm được ở lại trường công tác, dù một số bệnh viện trung ương mời ở lại làm”, thầy Điệp nói.
Song song nâng cao tay nghề tại viện, Chín học chứng chỉ sư phạm để chuẩn bị cho vị trí giảng viên. Anh mong được đứng trên bục giảng để truyền đạt lại những kiến thức cho sinh viên khóa dưới.
Quan niệm “học Y là học cả đời”, bác sĩ trẻ cũng đang tham gia khóa đào tạo nâng cao tay nghề tại các bệnh viện khác và lên kế hoạch làm tiến sĩ khi đủ điều kiện.
Ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào và bảng quy đổi tương đương giữa các phương thức được trường Đại học Thương mại công bố sáng 6/7.
Theo đó, trường lấy điểm sàn thi tốt nghiệp THPT là 20/30, bằng năm ngoái. Đây là tổng điểm ba môn thi theo tổ hợp xét tuyển, áp dụng với tất cả ngành. Ngưỡng này bằng năm 2025.
Trường lưu ý điểm chuẩn thi tốt nghiệp THPT 2026 của các tổ hợp khác sẽ thấp hơn A00 (Toán, Lý, Hóa) 0,5 điểm. Các năm trước, trường chỉ lấy một ngưỡng trúng tuyển chung.
Trường cũng công bố bảng quy đổi điểm chuẩn giữa các phương thức. Thí sinh đạt 25 điểm thi tốt nghiệp (dùng điểm ba môn hoặc xét kết hợp giải học sinh giỏi, chứng chỉ với điểm thi) tương đương 95/150 điểm đánh giá năng lực (HSA), và 65/100 điểm đánh giá tư duy (TSA), lần lượt thấp hơn 5 và 4 điểm so với năm ngoái.
Tương tự ở các ngưỡng quy đổi khác, độ chênh lệch cũng thấp hơn. Bảng quy đổi điểm của Đại học Thương mại cụ thể như sau:
Năm 2026, trường Đại học Thương mại tuyển 5.800 sinh viên.
Năm phương thức tuyển sinh là xét tuyển thẳng, xét điểm thi tốt nghiệp THPT, dùng kết quả thi đánh giá năng lực trong nước và quốc tế (HSA tối thiểu 85/150, TSA 50/100, SAT 1000/1600, ACT 20/36), xét kết hợp IELTS từ 5.0 và tương đương với điểm thi tốt nghiệp hoặc học bạ, xét kết hợp giải học sinh giỏi cấp tỉnh với điểm thi tốt nghiệp.
Ngoài 8 tổ hợp cũ, trường thêm 4 tổ hợp mới, là X25 (Toán, Giáo dục kinh tế và pháp luật, Tiếng Anh), X26 (Toán, Tin học, Tiếng Anh), X27 (Toán, Công nghệ công nghiệp, Tiếng Anh), X28 (Toán, Công nghệ nông nghiệp, Tiếng Anh).
Học phí năm 2026 của trường Đại học Thương mại với các chương trình chuẩn là từ 25,75-30,69 triệu đồng, với chương trình IPOP là 42,35 triệu. Các chương trình song bằng quốc tế và tiên tiến tính học phí trọn gói, lần lượt là 260 và 200 triệu đồng một khóa.
Từ ngày 2/7, thí sinh bắt đầu đăng ký, điều chỉnh nguyện vọng xét tuyển đại học, cao đẳng trên hệ thống của Bộ, kéo dài đến 17h ngày 14/7. Trước khi đăng ký nguyện vọng, thí sinh truy cập trang Tra cứu đại học của VnExpress để xem biến động điểm chuẩn các năm theo ngành, trường hay học phí.
Không thể phủ nhận rằng cả hai phương án thi chung và thi riêng đều có những ưu điểm riêng. Nếu tổ chức một kỳ thi "2 trong 1" (vừa xét tốt nghiệp THPT vùa tuyển sinh ĐH, CĐ) thì lợi ích lớn nhất là tiết kiệm nguồn lực xã hội. Học sinh chỉ phải ôn tập và dự thi một lần; phụ huynh giảm chi phí đi lại, ăn ở; địa phương không phải tổ chức nhiều kỳ thi quy mô lớn; các trường đại học cũng có thêm một nguồn dữ liệu chuẩn hóa để xét tuyển. Đây cũng là lý do mô hình này được lựa chọn sau nhiều năm cải cách thi cử.
Tuy nhiên, hạn chế của kỳ thi chung là phải cùng lúc thực hiện hai mục tiêu khác nhau. Xét tốt nghiệp đòi hỏi đề thi bảo đảm chuẩn đầu ra của chương trình phổ thông, trong khi tuyển sinh đại học, nhất là những ngành có tính cạnh tranh cao, lại cần khả năng phân loại rất tốt. Đó là bài toán không dễ giải.
Ở chiều ngược lại, nếu tách thành hai kỳ thi riêng sẽ giúp mỗi kỳ thi phục vụ đúng mục tiêu của mình. Kỳ thi tốt nghiệp THPT tập trung đánh giá việc hoàn thành chương trình phổ thông; còn các trường đại học có thể xây dựng phương thức tuyển sinh phù hợp với từng ngành đào tạo. Nhưng cái giá phải trả cũng không nhỏ. Học sinh có thể phải trải qua nhiều kỳ thi hơn; áp lực ôn tập tăng lên; chi phí xã hội lớn hơn; đồng thời việc tổ chức nhiều kỳ thi độc lập cũng đặt ra những yêu cầu mới về nhân lực, kinh phí và công tác quản lý.
Rõ ràng, không có mô hình nào hoàn hảo tuyệt đối. Điều quan trọng là lựa chọn phương án phù hợp nhất với điều kiện thực tiễn của Việt Nam trong từng giai đoạn.
Nhìn vào thực tế hiện nay có thể thấy, kỳ thi tốt nghiệp THPT không còn "gánh" toàn bộ nhiệm vụ tuyển sinh đại học như nhiều năm trước. Bộ GD-ĐT vẫn tổ chức kỳ thi để đánh giá kết quả học tập của học sinh sau 12 năm phổ thông và tạo một nguồn dữ liệu chung. Tuy nhiên, quyền tự chủ tuyển sinh của các trường đại học ngày càng được mở rộng. Nhiều trường vẫn sử dụng điểm thi tốt nghiệp làm căn cứ xét tuyển bên cạnh đó nhiều trường kết hợp điểm thi với học bạ, chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế, kết quả đánh giá năng lực, đánh giá tư duy hoặc tổ chức kỳ thi riêng. Không ít trường áp dụng đồng thời nhiều phương thức tuyển sinh để lựa chọn thí sinh phù hợp.
Có thể nói, kết quả kỳ thi tốt nghiệp hiện nay đang được ứng xử khá linh hoạt. Trường nào thấy phù hợp thì sử dụng; trường nào cần mức độ phân loại cao hơn thì có thêm công cụ khác. Chính sự đa dạng này đã góp phần giảm áp lực cho kỳ thi duy nhất, đồng thời vẫn bảo đảm quyền tự chủ của các cơ sở đào tạo. Đó cũng là lý do nhiều chuyên gia cho rằng chưa nhất thiết phải vội vàng thay đổi toàn bộ mô hình chỉ vì một số vấn đề phát sinh trong quá trình tổ chức.
Thực tế, câu chuyện gộp hay tách kỳ thi không phải bây giờ mới được đặt ra. Trước đây, ngành giáo dục đã nhiều lần lấy ý kiến chuyên gia, nhà quản lý, giáo viên và xã hội. Tương tự, việc thi môn toán theo hình thức tự luận hay trắc nghiệm cũng từng trải qua nhiều vòng tranh luận, phân tích ưu - nhược điểm trước khi đi đến quyết định.
Điều đó cho thấy những chính sách lớn không được xây dựng từ cảm xúc nhất thời mà từ quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và tổng kết thực tiễn. Bởi vậy, nếu hôm nay lại đặt vấn đề thay đổi, điều cần chứng minh trước hết là mô hình hiện hành thực sự không còn phù hợp, chứ không chỉ vì xuất hiện một vài vụ việc tiêu cực.
Nếu nguyên nhân nằm ở khâu tổ chức thì phải siết chặt tổ chức; nếu lỗ hổng nằm ở quy chế thì phải bổ sung quy chế; nếu thiếu công nghệ giám sát thì cần đầu tư công nghệ; nếu chế tài chưa đủ sức răn đe thì phải hoàn thiện chế tài...
Lịch sử cải cách giáo dục Việt Nam từng cho thấy nhiều vấn đề đã được bàn bạc rất kỹ trước khi đi đến thống nhất. Vì thế, mỗi lần điều chỉnh chính sách cần hết sức thận trọng, tránh tình trạng thay đổi theo dư luận hoặc theo từng sự cố cụ thể.
Ông sinh ra và lớn lên tại vùng đất chín rồng, tốt nghiệp bác sĩ y khoa tại Trường đại học Y dược Hà Nội, tốt nghiệp tiến sĩ y khoa tại Akademie für Ärztliche Fortbildung, Berlin, Cộng hòa Liên bang Đức. Là thầy thuốc, nhà giáo, nhà quản lý y tế giàu kinh nghiệm, luôn tâm huyết với chuyên môn nghề nghiệp, là một trong những nhân sự chủ chốt đánh dấu sự ra đời chương trình đào tạo khối ngành khoa học sức khỏe bậc đại học của Trường đại học Võ Trường Toản và là trường đại học ngoài công lập tiên phong tại Việt Nam được Bộ GD-ĐT giao nhiệm vụ đào tạo ngành Bác sĩ Y khoa và Dược học năm 2011.
Đến nay, Trường đại học Võ Trường Toản tiếp tục mở rộng đào tạo ngành Răng Hàm Mặt ở trình độ đại học, cùng các chương trình sau đại học gồm: Thạc sĩ - bác sĩ Sản phụ khoa, Nội khoa, Ngoại khoa; Bác sĩ chuyên khoa cấp I Sản phụ khoa, Nội khoa, Ngoại khoa và Nhi khoa.
Trong hành trình ấy với kinh nghiệm và tâm huyết cá nhân TTND-PGS-TS-BS Trương Văn Việt đồng hành cùng tập thể Ban Giám hiệu trong việc xây dựng định hướng chương trình đào tạo, đội ngũ cán bộ giảng viên phù hợp sự phát triển của khối ngành khoa học sức khỏe tại Việt Nam và thế giới.
Một điểm đáng chú ý trong định hướng và nỗi lo đau đáu của thầy Việt là chi phí đào tạo khối ngành khoa học sức khỏe luôn cao hơn rất nhiều so với các ngành khác. Ông mong muốn Trường đại học Võ Trường Toản đưa ra mức học phí thấp, phù hợp với điều kiện kinh tế trung bình của đa số gia đình Việt Nam hiện nay, nhằm tạo mọi điều kiện học tập thuận lợi cho sinh viên có ước mơ, mong muốn học và làm nghề thầy thuốc chữa bệnh cứu người tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước.
Với ông, đào tạo khối ngành khoa học sức khỏe không thể chỉ dừng lại ở giáo trình và bài giảng. Sinh viên ngành cần được học từ phòng thực hành, mô hình mô phỏng, bệnh viện, người bệnh và những tình huống nghề nghiệp cụ thể. Vì vậy, việc phát triển điều kiện học tập, trang thiết bị, phòng thực hành và mạng lưới cơ sở thực hành luôn là một phần quan trọng trong định hướng đào tạo, đến nay Trường đại học Võ Trường Toản đã trang bị đồng bộ hệ thống thiết bị, phòng thực hành, mô hình thực hành như: Hệ thống bàn phẫu tích mô phỏng ảo và giải phẫu tương tác 3D hiện đại - Anatomage (Mỹ); Hệ thống mô phỏng lâm sàng khám bụng nâng cao, tích hợp mô phỏng chuyển động thông minh theo nhịp thở (Nhật Bản); Mô hình mô phỏng sản khoa và cơ chế chuyển dạ toàn thân, mô phỏng động học thông minh quá trình sinh nở (Mỹ); Hệ thống mô phỏng hồi sức cấp cứu sơ sinh cao cấp, tích hợp mô phỏng cơ học, phản xạ và phản hồi thao tác thông minh (Đài Loan); Hệ thống mô phỏng người lớn đa năng toàn thân nâng cao, tích hợp phản xạ và đáp ứng sinh lý thông minh (Na Uy); Mô hình mô phỏng điều dưỡng toàn thân cao cấp, tích hợp mô phỏng cơ học, phản xạ và đáp ứng sinh lý thông minh (Na Uy); Hệ thống siêu âm thực hành lâm sàng thông minh (Đài Loan); cùng nhiều thiết bị mô phỏng hiện đại khác…
Năm 2014, Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản được thành lập với quy mô 300 giường bệnh đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân, đồng thời phục vụ công tác giảng dạy, thực hành lâm sàng và nghiên cứu khoa học cho sinh viên, học viên khối ngành khoa học sức khỏe của Nhà trường. Bên cạnh đó, việc kết nối thực hành tại các bệnh viện để bảo đảm chất lượng chuyên môn cho sinh viên là một yêu cầu bắt buộc và quan trọng hàng đầu. Trường đại học Võ Trường Toản đã ký kết hợp tác với 23 bệnh viện thực hành cho sinh viên tại TP.HCM và Cần Thơ như: Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Thống Nhất, Bệnh viện Hùng Vương, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ… Việc kết nối thực hành tại các bệnh viện để bảo đảm chất lượng chuyên môn cho sinh viên là một yêu cầu bắt buộc và quan trọng hàng đầu. Trường đại học Võ Trường Toản đã ký kết hợp tác với 23 bệnh viện thực hành cho sinh viên tại TP.HCM và Cần Thơ như: Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Thống Nhất, Bệnh viện Hùng Vương, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ…
Kết quả là đến thời điểm hiện nay, thầy Việt cùng tập thể thầy, cô của Trường đại học Võ Trường Toản đã đào tạo được nhiều thế hệ sinh viên trở thành người thầy thuốc đang làm việc và cống hiến tại các bệnh viện hàng đầu Việt Nam như: Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (Hà Nội), Bệnh viện Chợ Rẫy (TP.HCM), Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình (TP.HCM), Bệnh viện Nhi đồng Thành phố (TP.HCM)… và nhiều cựu sinh viên tiếp tục học tập sau đại học, nâng cao trình độ chuyên môn tại các quốc gia phát triển như Anh, Mỹ, Úc, Nhật Bản, Canada…
Trong câu chuyện phát triển đào tạo khối ngành khoa học sức khỏe bậc đại học ngoài công lập tiên phong ở Việt Nam tại Trường đại học Võ Trường Toản, sự đồng hành của TTND-PGS-TS-BS Trương Văn Việt là một dấu mốc quan trọng: kết nối kinh nghiệm y khoa với giáo dục đại học, kết nối thực tiễn bệnh viện với giảng đường, và kết nối tâm huyết của người thầy thuốc với khát vọng đào tạo nhân lực y tế cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước.