Có thể nói đây là nhu cầu nhân lực chưa từng có với ngành này. Vì vậy nhiều trường ĐH đã chủ động xây dựng chương trình mới, đầu tư mô phỏng và tăng tốc hợp tác quốc tế để kịp cung ứng nguồn lực chất lượng cao.
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2045.
Trong giai đoạn 2025 – 2030, mục tiêu cần đào tạo ít nhất 35.000 nhân lực tập trung vào nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu triển khai các dự án đường sắt tốc độ cao, đường sắt điện khí hóa, đường sắt đô thị, đồng thời bổ sung đội ngũ giảng dạy cho các cơ sở đào tạo.
Theo đề án của Bộ Xây dựng, nhu cầu nhân lực phục vụ các lĩnh vực đường sắt sẽ tiếp tục tăng mạnh trong giai đoạn
2031 – 2035, lên tối thiểu 70.000 người. Lực lượng này không chỉ phục vụ vận hành mà còn phải đủ năng lực tiếp nhận chuyển giao và từng bước làm chủ công nghệ đường sắt hiện đại. Riêng dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam cần khoảng 13.880 lao động trong giai đoạn 2027 – 2032, có thể nói là nhu cầu chưa từng có trong lịch sử ngành giao thông nước ta.
Trong bối cảnh hàng loạt dự án đường sắt được triển khai, từ tuyến tốc độ cao Bắc – Nam đến các tuyến metro tại Hà Nội và TP.HCM, bài toán nhân lực trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Theo các chuyên gia, hệ thống đường sắt hiện đại không chỉ cần lao động phổ thông mà đòi hỏi đội ngũ kỹ sư, chuyên gia công nghệ cao có khả năng làm chủ từ thiết kế, thi công đến vận hành, bảo trì, đa dạng các lĩnh vực cơ khí, điện – điện tử, điều khiển tự động…
TS Nguyễn Trung Nhân – Trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM – nhận định: “Nếu không chuẩn bị nguồn nhân lực từ sớm, Việt Nam sẽ khó tiếp nhận chuyển giao công nghệ và có nguy cơ phụ thuộc vào nước ngoài trong suốt vòng đời dự án.
Việc đặt mục tiêu đào tạo 70.000 nhân lực cho thấy tầm nhìn dài hạn, không chỉ phục vụ vận hành trước mắt mà còn chuẩn bị cho sự phát triển bền vững của ngành trong nhiều thập kỷ tới”.
Để đạt được mục tiêu này, PGS.TS Nguyễn Xuân Phương – Hiệu trưởng Trường ĐH Giao thông vận tải TP.HCM – cho rằng thách thức lớn nhất hiện nay không chỉ là số lượng mà còn ở chất lượng nhân lực.
Việt Nam đang thiếu đội ngũ được đào tạo đúng chuẩn công nghệ đường sắt tốc độ cao từ kỹ sư, chuyên gia, giảng viên đến lực lượng vận hành và quản lý hệ thống.
“Đây là lĩnh vực công nghệ mới đòi hỏi mức độ tích hợp cao, yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn và tiêu chuẩn quốc tế, trong khi kinh nghiệm thực tiễn, học liệu chuẩn và điều kiện thực hành trong nước vẫn còn hạn chế”, ông Phương nói.
Trước nhu cầu tăng đột biến nói trên, nhiều trường ĐH nhanh chóng vào cuộc, chủ động mở ngành và đầu tư công nghệ để đón đầu.
Trường ĐH Giao thông vận tải TP.HCM đã tiên phong thành lập Viện đường sắt tốc độ cao tập trung đào tạo chuyên sâu và đầu tư hệ thống mô phỏng điều khiển – vận hành hiện đại, tiếp nhận mô hình đào tạo thực hành tiên tiến từ nước ngoài, không ngoài mục tiêu giúp sinh viên có thể làm việc ngay khi tham gia các dự án lớn.
Theo PGS.TS Nguyễn Xuân Phương, đào tạo đường sắt tốc độ cao là chương trình trọng điểm, hướng tới chuẩn quốc tế và tầm nhìn dài hạn. Chương trình được thiết kế theo hướng tích hợp, bao quát toàn bộ chuỗi giá trị từ hạ tầng, cơ khí, điện khí hóa đến điều khiển tín hiệu và vận hành thay vì mô hình đào tạo truyền thống.
Một số trường khác cũng xúc tiến mở ngành mới, ký kết hợp tác với đối tác quốc tế, đặc biệt từ các quốc gia có hệ thống đường sắt phát triển.
TS Nguyễn Trung Nhân cho biết từ năm 2026, Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM chính thức mở ngành kỹ thuật công trình đường sắt, dự kiến tuyển 70 chỉ tiêu năm đầu tiên. Đây là chuyên ngành mới thuộc ngành kỹ thuật xây dựng công trình giao thông được đầu tư theo hướng hiện đại, gắn với thực tiễn.
Nhà trường đã xây dựng đề án trang bị hệ thống thiết bị đào tạo tiên tiến, đồng thời thúc đẩy mô hình phối hợp “3 nhà” (Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp).
Mục tiêu đào tạo đội ngũ kỹ sư, chuyên gia và nhà quản lý trong lĩnh vực đường sắt hiện đại, đủ năng lực tiếp cận, từng bước làm chủ công nghệ, đáp ứng yêu cầu phát triển và giảm dần sự phụ thuộc vào chuyên gia nước ngoài.
Trường ĐH Xây dựng Hà Nội cũng triển khai chuyên ngành đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị với chương trình linh hoạt, cập nhật công nghệ mới và tăng cường thực tập tại công trường, kể cả ở nước ngoài.
Theo lãnh đạo khoa cầu đường, cấu trúc chương trình chuyên ngành này được thiết kế linh hoạt, dựa trên nền tảng khối kiến thức chung và kiến thức cơ sở của ngành kỹ thuật xây dựng công trình giao thông.
Cách tiếp cận này tạo điều kiện thuận lợi cho liên thông giữa các chuyên ngành, đáp ứng yêu cầu phát triển của lĩnh vực giao thông hiện đại.
Chương trình được xây dựng trên cơ sở tham khảo, kế thừa có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt từ các trường tại Trung Quốc như ĐH Giao thông Tây Nam, ĐH Đồng Tế…
Tại dự thảo, lần đầu bộ đưa ra cơ chế miễn phản biện độc lập đối với nghiên cứu sinh có kết quả nghiên cứu xuất sắc đạt chuẩn quốc tế cao.
Theo đó luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh sẽ được miễn quy trình phản biện độc lập khi đáp ứng điều kiện có ít nhất 3 bài báo khoa học là kết quả nghiên cứu liên quan trực tiếp đến nội dung luận án, được công bố trên tạp chí khoa học thuộc danh mục WoS hoặc Scopus, trong đó có ít nhất 2 bài thuộc nhóm Q1.
Trong các công bố này, nghiên cứu sinh phải là tác giả đứng tên đầu hoặc tác giả liên hệ của các bài báo. Các công bố không quá 60 tháng tính đến thời điểm tổ chức đánh giá luận án.
Phản biện độc lập là quy trình đánh giá luận án trước khi nghiên cứu sinh bảo vệ luận án tại hội đồng đánh giá luận án.
Cơ sở đào tạo có trách nhiệm hoàn thành quy trình phản biện độc lập trong thời gian tối đa 6 tháng kể từ thời điểm nghiên cứu sinh nộp dự thảo luận án đã được đơn vị chuyên môn thông qua. Trong trường hợp phải thực hiện lấy ý kiến phản biện độc lập lần thứ hai theo quy định, thời gian được kéo dài thêm tối đa 3 tháng.
Với những trường hợp không thuộc diện miễn phản biện độc lập, luận án của nghiên cứu sinh sẽ được gửi lấy ý kiến phản biện của 2 nhà khoa học hoặc chuyên gia không thuộc cơ sở đào tạo ở trong nước hoặc nước ngoài.
Người được lấy ý kiến phản biện phải không có lợi ích liên quan trực tiếp đến nghiên cứu sinh hoặc người hướng dẫn.
Ý kiến của người phản biện độc lập phải kết luận rõ đồng ý hoặc không đồng ý về chất lượng chuyên môn của luận án.
Luận án được xác định đạt yêu cầu phản biện độc lập khi có ít nhất 2 ý kiến đồng ý của người phản biện độc lập. Trong trường hợp có 1 ý kiến không đồng ý, cơ sở đào tạo gửi luận án để lấy thêm ý kiến của 1 người phản biện độc lập khác làm căn cứ xem xét, quyết định.
Trường hợp có từ 2 ý kiến không đồng ý về chất lượng chuyên môn của luận án, cơ sở đào tạo yêu cầu nghiên cứu sinh và người hướng dẫn chỉnh sửa, bổ sung luận án và thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ hai. Không thực hiện phản biện độc lập lần thứ ba.
Bên cạnh đó, dự thảo bổ sung quy định về tổ chức bảo vệ luận án trực tuyến trong trường hợp cần thiết khi đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, tính khách quan, công khai và minh bạch.
Dự thảo quy định chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ chỉ được tổ chức theo hình thức đào tạo chính quy nhằm tăng cường môi trường học thuật, nghiên cứu và bảo đảm chất lượng đào tạo nghiên cứu sinh.
Các cơ sở đào tạo được chủ động quyết định hình thức, phương thức tổ chức đào tạo, kế hoạch học tập toàn khóa và thời gian đào tạo chuẩn của từng chương trình. Đồng thời phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, công bằng trong tuyển sinh và tổ chức đào tạo.
Các cơ sở đào tạo được ứng dụng công nghệ thông tin trong tuyển sinh, đăng ký dự tuyển, quản lý và lưu trữ hồ sơ người học khi bảo đảm độ tin cậy, tính xác thực và công bằng trong đánh giá người dự tuyển.
Dự thảo bổ sung nhiều quy định nhằm tăng tính liên thông giữa các trình độ đào tạo trong giáo dục đại học. Dự thảo quy định kết quả học tập và chứng chỉ giáo dục đại học dùng để công nhận, chuyển đổi tín chỉ có giá trị trong thời hạn 60 tháng kể từ ngày hoàn thành học phần hoặc thời điểm được cấp chứng chỉ.
Người học phải hoàn thành chương trình đào tạo trong thời gian tối thiểu bằng hai phần ba và tối đa không vượt quá 2,5 lần thời gian đào tạo chuẩn của chương trình.
Trường hợp quá thời gian đào tạo tối đa mà chưa hoàn thành chương trình, người học phải thực hiện xét lại điều kiện đầu vào theo quy định của cơ sở đào tạo và chỉ được bảo lưu các học phần, chứng chỉ còn thời hạn công nhận.
Đối với chương trình đào tạo tích hợp, người học tích lũy đủ số lượng tín chỉ của trình độ nào thì được xem xét công nhận và cấp bằng ở trình độ tương ứng theo quy định của chương trình đào tạo.
Ngày 10.4, tại UTH, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) tổ chức tọa đàm lấy ý kiến góp ý dự thảo Chuẩn chương trình đào tạo trình độ đại học về đường sắt, nhằm cụ thể hóa các chủ trương, Nghị quyết của Đảng và Chính phủ về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ các dự án trọng điểm quốc gia về phát triển hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại, trong đó có đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam. Tiếp theo hoạt động khảo sát để hoàn thiện Đề án "Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2045" ngày 3.10.2025 tại UTH, sự kiện là bước triển khai quan trọng để thực hiện Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2230/QĐ-TTg. Đồng thời, Tọa đàm ghi nhận vai trò tiên phong của UTH trong việc sẵn sàng và chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho các dự án đường sắt quy mô lớn của quốc gia.
Tọa đàm do TS Đặng Văn Huấn - Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD-ĐT) - chủ trì, với sự tham dự của PGS-TS Nguyễn Xuân Phương - Hiệu trưởng UTH; đại diện lãnh đạo, chuyên gia đến từ 15 cơ sở giáo dục đại học và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đường sắt, giao thông vận tải. Việc UTH được lựa chọn đăng cai tổ chức Tọa đàm một lần nữa khẳng định uy tín, năng lực của nhà trường trong đào tạo, nghiên cứu các lĩnh vực giao thông vận tải, đặc biệt là đường sắt hiện đại, đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao - những lĩnh vực then chốt trong hiện thực hóa khát vọng phát triển hạ tầng chiến lược mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Phát biểu khai mạc, TS Đặng Văn Huấn nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải xây dựng Chuẩn chương trình đào tạo đồng bộ, hiện đại, có khả năng đáp ứng nhu cầu triển khai các dự án đường sắt quy mô lớn, nhất là đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và hệ thống đường sắt đô thị tại các trung tâm kinh tế - xã hội lớn. Theo ông, việc chuẩn hóa chương trình đào tạo không chỉ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực đường sắt, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thực hiện hiệu quả các định hướng chiến lược được nêu trong các Nghị quyết của Đảng và Chính phủ về phát triển hạ tầng.
Theo báo cáo tại tọa đàm, dự thảo chuẩn chương trình đào tạo ngành đường sắt được xây dựng trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bám sát thực tiễn trong nước và định hướng liên ngành, tích hợp các lĩnh vực xây dựng, cơ khí, điện - điện tử, công nghệ thông tin và khai thác vận tải. Nội dung đào tạo chú trọng cân đối giữa lý thuyết và thực hành, tăng cường thí nghiệm, thực tập, gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp - mô hình mà UTH đã triển khai hiệu quả trong nhiều năm qua, qua đó tạo tiền đề để nhanh chóng hình thành đội ngũ kỹ sư có thể tham gia ngay vào các dự án đường sắt tốc độ cao khi được triển khai. Tại phiên thảo luận, nhiều chuyên gia nhấn mạnh cần tiếp cận ngành đường sắt như một hệ thống tích hợp đa lĩnh vực, trong đó nhân lực phải có năng lực tổng hợp về kỹ thuật, công nghệ và quản lý, phù hợp với yêu cầu vận hành các tuyến đường sắt tốc độ cao hiện đại.
Đóng góp ý kiến, TS Lê Anh Uyên Vũ - Phó viện trưởng Viện Cơ khí UTH - cho biết các chương trình đào tạo hiện nay của UTH về đường sắt được xây dựng theo định hướng liên ngành, chuẩn đầu ra cơ bản tương thích với dự thảo chuẩn đang xây dựng, cho thấy định hướng đào tạo của UTH phù hợp với thực tiễn và xu hướng phát triển của ngành. TS Uyên Vũ cũng đề xuất Hội đồng xây dựng chuẩn CTĐT có thể tham khảo chương trình mà UTH đang triển khai như một hướng tiếp cận hiệu quả trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đường sắt hiện đại và đường sắt tốc độ cao.
Các đại biểu cũng kiến nghị khá tương đồng với ý kiến từ các chuyên gia của UTH về việc cần tinh gọn, giảm số lượng chuẩn đầu ra, tăng tỷ trọng thực hành, đẩy mạnh học kỳ doanh nghiệp, đồng thời bổ sung các nội dung về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa, an toàn hệ thống - những yêu cầu công nghệ cốt lõi của đường sắt tốc độ cao. Nhiều ý kiến thống nhất rằng chương trình đào tạo cần linh hoạt, gắn với thực tiễn, nhu cầu thị trường lao động và các lộ trình, quy hoạch phát triển đường sắt mà Đảng, Nhà nước đã đề ra trong các văn kiện chiến lược.
Phát biểu tại tọa đàm, PGS-TS Nguyễn Xuân Phương - Hiệu trưởng UTH - khẳng định UTH luôn chủ động, tiên phong trong đón đầu các xu hướng phát triển nguồn nhân lực giao thông vận tải, đặc biệt là đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị. Hiệu trưởng nhấn mạnh UTH đã và đang từng bước hoàn thiện các chương trình đào tạo, tăng cường năng lực đội ngũ giảng viên, đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, thực hành, mô phỏng… để sẵn sàng đảm nhiệm vai trò nòng cốt trong đào tạo kỹ sư đường sắt tốc độ cao, góp phần hiện thực hóa các Nghị quyết của Đảng về phát triển hạ tầng chiến lược, chuyển đổi cơ cấu vận tải theo hướng hiện đại, bền vững. Ông khẳng định UTH sẵn sàng đồng hành cùng Bộ GD-ĐT và các đối tác trong việc hoàn thiện, triển khai chuẩn CTĐT; chia sẻ về các CTĐT về đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị đang triển khai tại trường.
Với định hướng trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu ứng dụng hàng đầu trong lĩnh vực giao thông vận tải phía Nam, UTH đang từng bước khẳng định vai trò trụ cột trong đào tạo nguồn nhân lực đường sắt chất lượng cao, gắn với nhu cầu thực tiễn, xu thế phát triển công nghệ và định hướng mở rộng mạng lưới đường sắt tốc độ cao của đất nước. Các đại biểu của UTH tham dự Tọa đàm góp ý cho dự thảo theo thực tiễn các CTĐT của UTH luôn được cải tiến kịp thời để theo kịp định hướng tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Các chương trình đào tạo của UTH được cải tiến ưu tiên đào tạo kiến thức nền tảng, đào tạo sinh viên phát triển tư duy, cách học, cách giải quyết vấn đề, đổi mới sáng tạo và ứng dụng hiệu quả AI và dữ liệu lớn vào học tập và thực tiễn.
Những ngày cuối năm học, hình ảnh học sinh chuyền tay nhau ký tên lên áo đồng phục lại xuất hiện tại nhiều trường học. Trên những chiếc áo trắng quen thuộc là các dòng lưu bút, lời chúc hay hình vẽ ngộ nghĩnh của những học sinh cuối cấp. Nhiều lớp còn chuẩn bị riêng bút màu để cùng nhau “đánh dấu thanh xuân”.
Tuy nhiên, bên cạnh sự hào hứng, hoạt động này cũng làm dấy lên nhiều ý kiến trái chiều về ý nghĩa và tính cần thiết.
Mới đây, mạng xã hội xuất hiện nhiều bài viết tranh luận về việc ký tên lên áo để kỷ niệm thời cuối cấp. Chủ đề tưởng chừng quen thuộc nhưng nhanh chóng thu hút nhiều bình luận trái chiều từ nhiều thế hệ học sinh.
Nhiều người cho rằng đây là một nét đẹp của tuổi học trò, là cách lưu giữ ký ức giản dị nhưng giàu cảm xúc. Ở chiều ngược lại, không ít ý kiến nhận định việc ký tên lên áo khá lãng phí, thậm chí mang tính phong trào khi nhiều chiếc áo sau đó bị cất xó hoặc bỏ đi.
Từng trải qua những hoạt động chia tay cuối cấp, chị Minh Anh (29 tuổi, TPHCM) cho biết hiện không còn giữ chiếc áo đầy chữ ký năm nào. Sau nhiều lần chuyển nhà, chiếc áo đã thất lạc từ lúc nào chị cũng không nhớ rõ.
“Ngày đó cả lớp đều ký nên tôi cũng làm theo. Nhưng sau khi tốt nghiệp, gần như chẳng ai mặc lại chiếc áo ấy nữa. Với tôi, kỷ niệm nằm ở những mối quan hệ còn được giữ gìn chứ không nằm ở một món đồ”, chị chia sẻ.
Theo chị Minh Anh, hiện nay học sinh có nhiều cách để lưu giữ ký ức như hình ảnh, video, nhật ký số hay mạng xã hội. Những dòng trạng thái, album ảnh lớp học hoặc video tổng kết cuối năm đều có thể lưu giữ lâu dài mà không cần đến một chiếc áo đầy chữ ký.
“Thời đại số khiến việc lưu giữ kỷ niệm trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Nhiều bạn còn lưu cả cuộc trò chuyện hay ảnh chụp hằng ngày. Vì vậy, tôi nghĩ không nhất thiết phải ký lên áo nếu điều đó khiến nhiều người cảm thấy lãng phí. Thay vào đó, chiếc áo có thể được tặng lại cho người có hoàn cảnh khó khăn hoặc để em, cháu trong nhà tiếp tục sử dụng”, chị nói.
Một số phụ huynh cũng bày tỏ lo ngại khi con em mua thêm áo mới chỉ để ký tên hoặc chạy theo các mẫu áo lưu niệm cầu kỳ, đắt tiền. Theo họ, khi việc lưu giữ kỷ niệm dần trở thành “cuộc đua hình thức”, ý nghĩa ban đầu cũng phần nào bị thay đổi.
Ở chiều ngược lại, nhiều người vẫn xem chiếc áo ký tên là một phần ký ức khó có thể thay thế của tuổi học trò.
Chị Mỹ Khánh (26 tuổi, TPHCM) cho hay đến nay vẫn giữ chiếc áo dài trắng đã ngả màu từ thời cấp ba cùng chiếc áo đồng phục kín chữ ký từ những năm cấp hai. Những dòng mực xanh đỏ trên áo nay đã phai dần, nhưng mỗi lần lấy ra xem, chị vẫn nhớ rõ gương mặt của từng người bạn năm ấy.
“Hồi đó mạng xã hội chưa phát triển như bây giờ. Vì vậy, chiếc áo có chữ ký gần như là một trong số ít kỷ vật còn lại sau khi ra trường”, chị nhớ lại.
Vài năm trước, trong một buổi họp lớp, một người bạn bất ngờ nhắc lại câu chúc vui từng viết trên áo, khiến cả nhóm bật cười. Với chị Khánh, chính những chi tiết tưởng chừng nhỏ nhặt ấy lại tạo nên cảm xúc đặc biệt mà những bức ảnh lưu trong điện thoại đôi khi không thể mang lại.
“Nhiều lúc cuộc sống áp lực, nhìn lại những món đồ gợi nhớ thanh xuân, tôi thấy lòng nhẹ nhõm hơn. Nó nhắc tôi nhớ rằng mình từng có một thời vô tư và những người bạn thân thiết bên cạnh. Tôi nghĩ giá trị của chiếc áo nằm ở cảm xúc chứ không phải vật chất”, chị Khánh bày tỏ.
Kỷ vật đáng trân quý nếu được thực hiện đúng cách
Theo ThS Lê Anh Tú, giảng viên khoa Quan hệ công chúng - Truyền thông, Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TPHCM, việc ký tên lên áo là một nét văn hóa quen thuộc của tuổi học trò và đã tồn tại qua nhiều thế hệ.
Trong bối cảnh đời sống hiện đại và chuyển đổi số diễn ra nhanh chóng, những kỷ vật mang giá trị vật chất, có thể cầm nắm và lưu giữ, lại càng trở nên đáng quý vì gắn với cảm xúc và ký ức thật của mỗi người.
Theo ông, chiếc áo với những dòng chữ ký không đơn thuần là món đồ lưu niệm, mà còn là nơi lưu giữ cảm xúc, ký ức và tình bạn của một giai đoạn thanh xuân. Sau 10-20 năm nhìn lại, những kỷ vật ấy càng trở nên ý nghĩa hơn đối với mỗi người.
Song, ThS Lê Anh Tú cũng cho rằng hoạt động này chỉ thực sự ý nghĩa khi diễn ra ở mức vừa phải, không bị biến tướng thành trào lưu tốn kém. Theo ông, nhiều học sinh thường có 2-3 bộ đồng phục, vì vậy việc giữ lại một chiếc để ký tên làm kỷ niệm, trong khi những chiếc còn lại tiếp tục sử dụng hoặc đem tặng, không phải vấn đề đáng tranh cãi.
Điều đáng lo ngại chỉ xuất hiện khi việc ký tên lên áo bị biến thành phong trào mang tính hình thức, khiến học sinh chạy theo xu hướng, mua thêm áo mới chỉ để lưu niệm.
Ngoài môi trường học đường, việc ký tên lên áo cũng xuất hiện trong thể thao, âm nhạc hay nghệ thuật như một cách lưu giữ dấu ấn với thần tượng hoặc tập thể. Tuy vậy, ông cho rằng ý nghĩa của chiếc áo ký tên tuổi học trò vẫn mang màu sắc riêng, bởi đó là sự trao gửi kỷ niệm giữa bạn bè với nhau.
Bên cạnh đó, ThS Lê Anh Tú cũng lưu ý học sinh nên giữ sự chừng mực trong cách viết lời nhắn lên áo, ưu tiên những nội dung vui vẻ, tích cực, tránh các câu từ nhạy cảm hoặc dễ gây tổn thương người khác. Theo ông, đây có thể xem như một “nghi thức chia tay” đẹp của tuổi học trò nếu được thực hiện văn minh và đúng ý nghĩa.