Tàu buồm huấn luyện KRI Bima Suci của hải quân Indonesia, cùng 345 sĩ quan, thủy thủ và học viên do hạm trưởng Sugeng Hariyanto dẫn đầu, cập cảng Sài Gòn – Hiệp Phước sáng nay, bắt đầu chuyến thăm hữu nghị TP HCM kéo dài 4 ngày.
Dự lễ đón có đại tá Lê Đình Nghi, Phó tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân cùng đại diện UBND TP HCM, Quân chủng Hải quân, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3, Bộ Tư lệnh TP HCM, Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng cùng Đại sứ Indonesia tại Việt Nam Adam Mulawarman Tugio và Tổng lãnh sự Indonesia tại TP HCM Carolina Tinangon.
Sau lễ đón, thủy thủ và nhóm nhạc trên tàu biểu diễn trống, kèn, diễu hành ngay tại cảng. Đây là hoạt động truyền thống của học viên hải quân Indonesia khi tham gia hải trình huấn luyện trên tàu KRI Bima Suci, được thực hiện mỗi khi cập cảng nước đối tác.
Trong thời gian thăm TP HCM, chỉ huy tàu và thủy thủ đoàn sẽ đặt vòng hoa tại Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, chào xã giao lãnh đạo TP HCM, thăm lãnh đạo Quân khu 7 và tham gia hoạt động giao lưu, đối ngoại với cán bộ, chiến sĩ Vùng 2 Hải quân cùng người dân thành phố.
Đại sứ Adam Mulawarman Tugio nói rằng chuyến thăm là điểm nhấn trong chương trình ASEAN Plus Cadet Sail (APCS) 2026, quy tụ học viên hải quân từ 26 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Ông cho biết có 3 học viên sĩ quan Việt Nam tham gia hải trình cùng tàu từ khi khởi hành tại Surabaya, Indonesia.
Trong khuôn khổ APCS 2026, tàu KRI Bima Suci rời cảng Surabaya ngày 26/3, đi qua Jakarta, Belawan, Sri Lanka và Singapore trước khi đến TP HCM.
KRI Bima Suci được biên chế năm 2017 và hiện là tàu buồm huấn luyện hải quân lớn nhất Đông Nam Á. Tàu dài 111 m và rộng 13,6 m, lượng giãn nước 2.346 tấn. Tàu có ba cột buồm chính với 26 cánh buồm, cột cao nhất đạt 49 m tính từ mặt boong trên cùng.
Theo Tổng lãnh sự Carolina Tinangon, đây là tàu buồm huấn luyện hiện đại nhất của hải quân Indonesia, được trang bị những thiết bị hàng hải tiên tiến và khả năng truyền dữ liệu kỹ thuật số.
Ngoài vai trò đào tạo sĩ quan hải quân về hàng hải thiên văn và kỹ năng định vị trên biển, KRI Bima Suci cũng từng tham gia nhiều cuộc đua quốc tế và đạt một số thành tích. Tàu buồm huấn luyện của hải quân Indonesia từng đến thăm cảng Hải Phòng hồi năm 2024.
Tin Gốc: Vnexpress

Sự việc xảy ra ngày 15/5 khi trực thăng AH-64E Apache đáp xuống ruộng lúa ở thành phố Pyeongtaek thuộc tỉnh Gyeonggi, cách thủ đô Seoul khoảng 65 km về phía nam. Hai thành viên kíp lái không bị thương, sự việc không gây ra hỏa hoạn.
Hình ảnh do báo Stars and Stripes của Mỹ công bố cho thấy trực thăng vẫn nằm giữa ruộng lúa vào ngày 18/5. Đây là phi cơ thuộc biên chế Sư đoàn Bộ binh số 2 lục quân Mỹ, đóng quân tại căn cứ Humphreys. Có hai quân nhân làm nhiệm vụ canh gác trực thăng và họ từ chối đưa ra bình luận.
Thiếu tá Eileen Poole, phát ngôn viên Sư đoàn Bộ binh 2, cho biết chiếc Apache không bị hư hại và giới chức đang điều tra nguyên nhân dẫn đến sự cố. "Tình hình đã được kiểm soát nhờ sự phối hợp giữa chính quyền địa phương và quân đội", bà nói.
Quan chức Mỹ không cho biết phi công có phát tín hiệu khẩn nguy trước khi hạ cánh khẩn hay không, cũng như lý do khiến trực thăng phải đáp xuống ruộng lúa. Bà nhấn mạnh an toàn của quân nhân và cộng đồng địa phương là ưu tiên hàng đầu.
Hãng thông tấn Yonhap trước đó nói rằng động cơ máy bay có thể đã bị quá nhiệt và quá trình sửa chữa, di dời máy bay dự kiến kéo dài trong vòng 3 ngày.
Theo nhà sản xuất Boeing, trực thăng vũ trang đa nhiệm AH-64 Apache được sử dụng bởi lục quân Mỹ và 15 quốc gia khác. AH-64E là biến thể hiện đại nhất của Mỹ, từng được gọi là AH-64D Block III, được ứng dụng một số cải tiến về năng lực kết nối và phân phối thông tin, radar, cũng như trang bị động cơ mạnh hơn các mẫu cũ.
Giá xuất xưởng mỗi chiếc AH-64E khoảng 35 triệu USD. Nếu tính cả chi phí linh kiện, hỗ trợ kỹ thuật, vũ khí và huấn luyện vận hành, mỗi trực thăng AH-64E sẽ có giá lên tới 52-65 triệu USD.
Tin Gốc: Vnexpress

Mỹ ngày 4/7/1776 tuyên bố độc lập, mở đầu cho quá trình hình thành một quốc gia mới ở Bắc Mỹ. Gần 11 năm sau, các nhà lập quốc Mỹ mới soạn thảo hiến pháp Mỹ và thông qua để văn kiện này có hiệu lực từ năm 1789, trở thành nền tảng cho hệ thống chính trị liên bang.
Sau hơn hai thế kỷ, hiến pháp Mỹ vẫn là một trong những văn kiện lập pháp lâu đời và có sức ảnh hưởng nhất thế giới. Nội dung hiến pháp Mỹ cũng đối mặt nhiều nỗ lực thay đổi trong thời gian này. Các nghị sĩ đã trình gần 12.000 đề xuất và chỉ 27 tu chính án được phê chuẩn, trở thành một phần hiến pháp. Trong số này, 10 tu chính án đầu tiên nằm trong Tuyên ngôn Nhân quyền Mỹ năm 1791.
Trong số những đề xuất bị bác bỏ có những ý tưởng khác thường mà nếu được thông qua, nước Mỹ có thể đã trở thành một phiên bản rất khác với hiện tại.
Đổi tên quốc gia
Năm 1866, hạ nghị sĩ George Washington Anderson đề xuất bỏ cụm từ United States (Hợp chúng quốc) khỏi tên chính thức của đất nước và đổi thành America (Mỹ). Anderson lập luận rằng tên gọi hiện tại chưa phản ánh đầy đủ sự thống nhất và vị thế mà nước Mỹ có thể đạt được trong tương lai, nhưng đề xuất này không được chấp nhận.
Năm 1893, hạ nghị sĩ Lucas Miller đưa ra một ý tưởng táo bạo hơn. Ông trình cùng lúc 46 dự luật, trong đó có một đề xuất đổi tên quốc gia thành United States of the Earth (Hợp chúng quốc Trái Đất).
Ông cho rằng nước Mỹ có thể tiếp tục mở rộng cho đến khi mọi quốc gia trên thế giới đều gia nhập liên bang. Đề xuất bị dư luận chế giễu và nhanh chóng rơi vào quên lãng.
Xóa bỏ ghế Tổng thống
Năm 1860, ngay trước khi nội chiến Mỹ xảy ra, hạ nghị sĩ John William Noell đã đề xuất bãi bỏ chức vụ tổng thống và thay bằng một hội đồng hành pháp ba thành viên đến từ ba khu vực khác nhau của đất nước. Mỗi thành viên có quyền phủ quyết hai người còn lại.
Ý tưởng này tiếp tục xuất hiện sau nội chiến. Năm 1878, hạ nghị sĩ Milton Isaiah Southard đề xuất thành lập hội đồng hành pháp gồm ba tổng thống, đại diện cho khu vực miền Tây, miền Nam và khu vực miền Đông cùng miền Trung. Southard cho rằng người dân Mỹ phản đối việc quyền lực tập trung vào một cá nhân, vì điều đó khiến tổng thống mang dáng dấp của chế độ quân chủ.
Xóa bỏ giới hạn nhiệm kỳ
Sau khi Tu chính án thứ 22 được phê chuẩn vào năm 1951, quy định tổng thống chỉ được giữ chức tối đa hai nhiệm kỳ, các nghị sĩ Mỹ đã nhiều lần tìm cách bãi bỏ quy định này để tổng thống có thể phục vụ số nhiệm kỳ không giới hạn nếu tiếp tục được cử tri lựa chọn.
Những người phản đối cho rằng Tu chính án thứ 22 về bản chất là "phi dân chủ, vì ngăn cản cử tri bầu một ứng viên đủ năng lực mà họ ủng hộ". Ngược lại, phe ủng hộ giới hạn nhiệm kỳ cho rằng đây là "cơ chế kiểm soát thiết yếu nhằm ngăn chặn sự sùng bái cá nhân và quyền lực tổng thống trở nên quá lớn".
Bốc thăm bầu tổng thống
Nhiều đề xuất sửa đổi Hiến pháp từng tìm cách thay đổi phương thức bầu tổng thống, nhưng ít ý tưởng nào khác thường như đề xuất từ thượng nghị sĩ James Hillhouse vào năm 1808.
Hillhouse đề xuất rút ngắn nhiệm kỳ thượng nghị sĩ từ 6 năm xuống còn 3 năm và sắp xếp để mỗi năm có 1/3 số ghế được bầu lại. Các thượng nghị sĩ sắp mãn nhiệm sẽ bốc một quả bóng từ trong hộp. Người bốc trúng quả bóng màu duy nhất sẽ trở thành tổng thống trong thời hạn một năm.
Hillhouse không phải là người đầu tiên đưa ra ý tưởng bốc thăm để chọn tổng thống. Tại Hội nghị Lập hiến năm 1787, đại diện bang Pennsylvania James Wilson từng đề xuất chọn ngẫu nhiên một nhóm nhỏ nghị sĩ có quyền quyết định ai giữ chức tổng thống.
"Đây là ý tưởng sáng tạo, nhưng hầu như không ai cho rằng đó là một phương án khả thi", theo sử gia David O. Stewart, tác giả cuốn The Summer of 1787: The Men Who Invented the Constitution.
Thêm/xóa bỏ phó tổng thống
Năm 1897, sử gia Herman Ames, Đại học Pennsylvania, liệt kê các đề xuất sửa đổi hiến pháp kể từ khi Mỹ lập quốc và ghi nhận có 7 đề xuất bãi bỏ chức vụ phó tổng thống. Phe ủng hộ cho rằng đây là một vị trí "thừa thãi", và một trong những người đề xuất là Hillhouse. Những nỗ lực tương tự vẫn tiếp diễn trong thế kỷ 20.
Những người khác lại cho rằng nước Mỹ cần nhiều hơn một người giữ vai trò phó tổng thống.
Năm 1881, hạ nghị sĩ Nathaniel Job Hammond đề xuất thành lập ba chức danh gồm phó tổng thống thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Năm 1964, thượng nghị sĩ Kenneth Keating đề xuất chia chức vụ này thành hai vị trí riêng biệt, lần lượt phụ trách nhánh hành pháp và lập pháp.
Xóa bỏ Thượng viện
Năm 1911, hạ nghị sĩ Victor Berger cho rằng Thượng viện "là cơ quan cản trở và vô tác dụng, là mối đe dọa đối với các quyền tự do của người dân và là rào cản đối với sự phát triển của xã hội". Ông đề xuất xóa bỏ Thượng viện, tập trung quyền lập pháp vào Hạ viện.
Theo Berger, các quyết định của Hạ viện sẽ trở thành "luật tối cao", tổng thống sẽ không còn quyền phủ quyết, tòa án cũng không được quyền tuyên bố các quyết định đó là vi hiến.
Xóa bỏ cử tri đoàn
Việc bầu tổng thống Mỹ thông qua cử tri đoàn thay vì bằng phổ thông đầu phiếu đã gây tranh cãi ngay từ khi hiến pháp được ban hành. Sử gia Ames mô tả "không có phần nào của hiến pháp gây ra nhiều sự bất mãn và kéo theo nhiều đề xuất sửa đổi nhằm thay đổi như cơ chế này".
Một trong những nguyên nhân chính là kết quả phiếu đại cử tri không phải lúc nào cũng trùng với kết quả phổ thông đầu phiếu. Điều này khiến ứng viên giành nhiều phiếu bầu của cử tri toàn quốc hơn vẫn thất cử. Tình huống này đã xảy ra 5 lần, trong các cuộc bầu cử tổng thống năm 1824, 1876, 1888, 2000 và 2016.
Một đề xuất thay thế cử tri đoàn bằng hình thức bầu cử trực tiếp từng được Hạ viện thông qua năm 1969, nhưng không thể vượt qua Thượng viện.
Nỗ lực gần nhất được hạ nghị sĩ Steve Cohen đệ trình tháng 12/2024. Ông cho rằng cử tri đoàn là di sản còn sót lại từ thế kỷ 18, khi cử tri hầu như không biết các ứng viên là ai, trong khi bối cảnh hiện tại đã khác nhiều.
Lập tòa án vượt thẩm quyền Tòa án Tối cao
Ý tưởng xuất hiện khi có quan điểm cho rằng Tòa án Tối cao nhiều lần can thiệp và vô hiệu hóa các đạo luật cấp bang, dẫn đến nhu cầu cần có một cơ quan tư pháp cấp cao hơn nữa. Cơ quan này sẽ có quyền xem xét và hủy bỏ các phán quyết của Tòa án Tối cao.
Đề xuất sớm nhất được cho là từ thượng nghị sĩ Garrett Davis năm 1867, kêu gọi lập "hội đồng xét xử" với mỗi bang bổ nhiệm một thành viên. Những đề xuất sau đó phát triển ý tưởng này thành một tòa án gồm các chánh án hoặc thẩm phán cao nhất từng bang, gọi là Court of the Union (Tòa án của Liên bang).
It nhất 15 đề xuất sửa đổi hiến pháp để lập Tòa án của Liên bang đã được đệ trình trong giai đoạn 1963-1981 nhưng đều thất bại.
Giới hạn tài sản cá nhân
Năm 1933, thời điểm u ám nhất trong Đại Suy thoái, hạ nghị sĩ Wesley Lloyd đề xuất trao cho quốc hội quyền đặt ra mức trần đối với tài sản cá nhân của người Mỹ. Để giảm bớt tính cực đoan của đề xuất, Lloyd cho rằng mức trần không nên thấp hơn 1 triệu USD, tương đương hơn 25,7 triệu USD theo giá trị hiện nay.
"Lý do nhiều người quá nghèo là vì một số rất ít người lại quá giàu", ông Lloyd lập luận.
Cho người dân Mỹ quyền bỏ phiếu tuyên chiến
Quyền tuyên chiến, vốn được hiến pháp Mỹ trao cho quốc hội, từ lâu đã là chủ đề gây nhiều tranh cãi và cũng là mục tiêu của nhiều đề xuất sửa đổi.
Năm 1916, một năm trước khi Mỹ tham gia Thế chiến I, hạ nghị sĩ Denver Samuel Church đề xuất một tu chính án quy định mọi tuyên bố chiến tranh trước hết phải được đưa ra trưng cầu dân ý và chỉ có hiệu lực nếu được đa số cử tri chấp thuận. Ông vẫn đề xuất ngoại lệ đối với các trường hợp khẩn cấp, như khi Mỹ bị tấn công.
Trong những năm sau đó, đặc biệt là suốt thập niên 1930 khi nguy cơ chiến tranh ở châu Âu ngày càng gia tăng, nhiều đề xuất tương tự tiếp tục được trình lên quốc hội Mỹ.
Theo Trung tâm Hiến pháp Quốc gia Mỹ, tu chính án được phê chuẩn gần đây nhất là Tu chính án thứ 27, có hiệu lực năm 1992. Tu chính án quy định mọi luật tăng lương cho các thành viên quốc hội chỉ có hiệu lực sau cuộc bầu cử tiếp theo, ngăn quốc hội tự tăng lương trong nhiệm kỳ hiện tại.
Cho đến nay, hiến pháp Mỹ mới chỉ có một tu chính án từng bị bãi bỏ. Đó là khi Tu chính án thứ 21 được phê chuẩn năm 1933 để hủy bỏ Tu chính án thứ 18 về lệnh cấm rượu.
Tin Gốc: Vnexpress

Truyền thông Mỹ hồi đầu tuần dẫn cáo trạng của cơ quan công tố liên bang về bê bối gian lận nhập cư tại Oakdale, thành phố với khoảng 6.600 dân ở phía tây nam bang Louisiana, miền nam nước Mỹ, trong đó có sự tham gia của ba cảnh sát trưởng đương chức hoặc đã về hưu, một cảnh sát tư pháp và một chủ cửa hàng địa phương.
Theo cáo trạng, trong gần 10 năm qua, nhóm cảnh sát tại thành phố Oakdale và các thị trấn lân cận đã tạo ra hàng loạt báo cáo tội phạm, trong đó các "nạn nhân", chủ yếu là người nhập cư, trình báo về việc bị cướp dọc quốc lộ 165, nối liền Oakdale, thị trấn Glenmora và làng Forest Hill.
Hồi tháng 7/2025, Alexander Van Hook, khi đó là quyền công tố viên liên bang tại Louisiana, các vụ cướp "xuất hiện với mật độ dày đặc bất thường" tại Oakdale và khu vực lân cận, trong đó nạn nhân người thường không phải cư dân Louisiana. Sau khi điều tra, Van Hook đã đưa ra kết luận gây sốc: "Trên thực tế, các vụ cướp đó chưa từng xảy ra".
Cuộc điều tra liên ngành được khởi động sau khi các nhà điều tra của Sở Di trú và Nhập tịch Mỹ (USCIS) phát hiện nhiều điểm bất thường trong các hồ sơ xin visa loại U ở Oakdale. Đây là loại visa dành cho nạn nhân trong các vụ án, cho phép họ ở lại Mỹ để tiếp tục hợp tác với cơ quan điều tra.
Lợi dụng lỗ hổng này, hàng trăm người nhập cư đã móc nối với các cảnh sát trưởng ở Oakdale và khu vực xung quanh để làm giả các báo cáo về những vụ cướp chưa từng xảy ra. Mỗi "nạn nhân" nộp cho cảnh sát trưởng 5.000 USD để được xác nhận đủ điều kiện được cấp visa U nhằm "phục vụ điều tra".
Giới chức Oakdale cho biết chủ mưu của đường dây này là Chandrakant "Lala" Patel, chủ cửa hàng Subway cùng một số cơ sở kinh doanh nhỏ khác tại địa phương và được cư dân mô tả là rất thân thiện.
Patel, từng được cấp visa U, bị cáo buộc đứng ra kết nối những người nhập cư muốn ở lại Mỹ với cảnh sát để khai khống hồ sơ những vụ cướp.
Đầu tháng này, một đại bồi thẩm đoàn tại Boston đã truy tố 10 công dân Ấn Độ với cáo buộc dàn dựng các vụ cướp cửa hàng tiện lợi ở Massachusetts và nhiều nơi khác để có được visa U.
Theo cơ quan chức năng, một kẻ giả danh cướp và một tài xế sẽ xuất hiện để dùng súng cướp tiền của nhân viên bán hàng hoặc chủ cửa hàng, rồi bỏ chạy. Vài phút sau, "nạn nhân" sẽ gọi cảnh sát và đưa video từ camera an ninh làm bằng chứng, giúp họ có visa U.
Bản cáo trạng liên bang đã làm rung chuyển vùng nông thôn bang Louisiana, không chỉ vì mức độ nghiêm trọng của vụ án mà còn vì danh tính các bị cáo. Những cái tên bị nêu trong hồ sơ gồm cảnh sát trưởng Oakdale Chad Doyle, cảnh sát tư pháp Michael Slaney, cảnh sát trưởng ở Forest Hill Glynn Dixon, và cựu cảnh sát trưởng tại Glenmora Tebo Onishea.
Herbert Byrd, 57 tuổi, cựu cảnh sát Oakdale, cho hay cảnh sát trưởng Doyle từng được đánh giá là mang lại thay đổi sau khi được bổ nhiệm năm 2020. Doyle đã giúp sở cảnh sát Oakdale nâng cấp trang thiết bị và giúp họ được tăng lương sau nhiều năm chờ đợi.
Tuy nhiên, Byrd về sau bắt đầu nhận thấy những dấu hiệu bất thường ở Doyle. "Tôi để ý thấy anh ta đi du thuyền rất nhiều. Điều đó hơi kỳ lạ, nhưng tôi không phán xét, vì biết đâu anh ta xuất thân từ một gia đình giàu có", Byrd kể lại.
4 cảnh sát và chủ cửa hàng Patel đều phủ nhận cáo buộc. Phiên xét xử dự kiến diễn ra hồi tháng 3 tại Louisiana đã bị hoãn và chưa có lịch mới.
Tin Gốc: Vnexpress

