Vừa ra khỏi Hội đồng thi Trường THPT Hắc Dịch (phường Tân Thành, TP.HCM), Đoan Nguyễn H.T lớp 12A2, Trường THPT Hắc Dịch đã khóc nức nở, cho rằng đề thi tiếng Anh tốt nghiệp THPT quá khó. H.T cho biết đề thi tiếng Anh dài, đọc khó hiểu.
Không chỉ H.T, nhiều thí sinh chọn môn tiếng Anh để thi tốt nghiệp THPT của Trường THPT Hắc Dịch cũng than đề đọc “không hiểu”.
Lê Khánh Quỳnh, lớp 12A11, Trường THPT Hắc Dịch, buồn bã nói: “Dù đã đọc hết đề thi nhưng làm không hết được. Đề thi khó quá, có nhiều từ vựng em còn chưa biết tới nữa”, Quỳnh nói thêm.
Ngược lại, Đặng Trần Phước Mạnh, nam sinh lớp 12A2 cùng trường thì cho rằng đề không quá khó, dễ kiếm 7 điểm. “Đề thi tiếng Anh nhìn thì dài, khá rối. Tuy nhiên nếu đọc kỹ thì sẽ làm được điểm cao”, Mạnh chia sẻ.
Mạnh nói thêm, kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay các môn thi ra đề không khó so với các năm trước. Ngoài môn văn là khá lạ với học sinh nhưng cũng không khó.
Đối với môn thi vật lý, nhiều học sinh Trường THPT Hắc Dịch nhận xét đề thi chủ yếu là câu hỏi lý thuyết, dễ kiếm điểm.
Nguyễn Ngọc Bảo Khang, lớp 12A6, cho biết đề thi môn vật lý không khó, học sinh chọn môn thi này gần như ai cũng làm được bài. Khang cho biết do có sự chuẩn bị kỹ lưỡng nên em làm bài khá tốt.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 3.4, UBND tỉnh Gia Lai cho biết đang xây dựng phương án sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục, qua đó giảm 17 trường, thu gọn 346 điểm trường lẻ.
Năm học 2025 - 2026, toàn tỉnh có 1.266 trường mầm non và phổ thông công lập. Trong đó, bậc mầm non có 379 trường, tiểu học 405 trường, tiểu học và THCS 82 trường, THCS 298 trường và THPT 102 trường. Bên cạnh đó, toàn tỉnh có 1.899 điểm trường lẻ, chủ yếu tập trung ở bậc mầm non và tiểu học.
Theo phương án dự kiến, tỉnh sẽ sáp nhập 32 trường còn 15 trường, giảm 17 trường. Đồng thời, 346 điểm trường lẻ sẽ được thu gọn trong lộ trình thực hiện.
Tại các địa phương không phải xã biên giới, Gia Lai dự kiến giảm 8 trường và 213 điểm trường mầm non; 3 trường và 106 điểm trường tiểu học; cùng với đó giảm 18 điểm trường tiểu học và THCS, 2 điểm trường THCS. Tổng thể, khu vực này sẽ giảm 11 trường và 339 điểm trường lẻ.
Đối với 7 xã biên giới, việc sắp xếp được thực hiện theo hướng hình thành các trường liên cấp và trường nội trú, phù hợp điều kiện địa lý và dân cư. Cụ thể, 6 trường tiểu học và 4 trường THCS sẽ được sáp nhập thành 4 trường liên cấp TH - THCS, giảm 6 trường; đồng thời giảm 7 điểm trường lẻ.
Theo UBND tỉnh Gia Lai, việc sắp xếp mạng lưới trường học phải bảo đảm không ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục cũng như cơ hội tiếp cận của học sinh. Các điểm trường lẻ chỉ giải thể khi không đáp ứng điều kiện cơ sở vật chất tối thiểu, trong khi những điểm có điều kiện thuận lợi vẫn được duy trì.
Cùng với đó, các trường thuộc diện dồn ghép phải được đầu tư đầy đủ cơ sở vật chất tại điểm chính trước khi thực hiện. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất và tài sản công sau sáp nhập phải tuân thủ quy định, bảo đảm hiệu quả.
Một nguyên tắc được đặt ra là mỗi đơn vị hành chính cấp xã vẫn phải có ít nhất một trường mầm non, một trường tiểu học và một trường THCS. Với những trường hợp đặc thù, có thể tổ chức trường phổ thông nhiều cấp học nhưng phải bố trí không gian riêng cho từng cấp.

Chiều nay 4.6, Bộ GD-ĐT đã đăng tải dự thảo thông tư ban hành quy chế đào tạo trình độ đại học. Đáng chú ý, trong dự thảo lần đầu tiên xuất hiện các quy định về sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI), yêu cầu việc dùng AI ở đại học phải đảm bảo liêm chính học thuật.
Cụ thể, dự thảo khẳng định AI được sử dụng nhằm hỗ trợ nâng cao chất lượng dạy và học, nhưng không thay thế vai trò của giảng viên và năng lực học tập độc lập của sinh viên. Việc ứng dụng AI phải bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong đánh giá, bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền sở hữu trí tuệ và liêm chính học thuật.
Cùng với đó, dự thảo tiếp tục hoàn thiện các quy định về đào tạo từ xa, đào tạo kết hợp giữa trực tiếp và từ xa, giáo dục đại học số, văn bằng số và các điều kiện bảo đảm chất lượng trong môi trường số. Một nguyên tắc xuyên suốt được đặt ra là chất lượng đào tạo phải được bảo đảm không phụ thuộc vào hình thức đào tạo, phương thức tổ chức đào tạo hay công nghệ được sử dụng.
Theo Bộ GD-ĐT, những quy định này tạo cơ sở để các cơ sở giáo dục đại học khai thác hiệu quả các công nghệ mới, thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục đại học, đồng thời hạn chế các rủi ro liên quan đến gian lận học thuật, vi phạm bản quyền hoặc lạm dụng AI trong học tập và nghiên cứu.
Một trong những điểm mới quan trọng khác của dự thảo là mở rộng cơ chế công nhận kết quả học tập của người học. Cơ sở đào tạo có thể xem xét công nhận để chuyển đổi tín chỉ từ kết quả học tập từ xa hoặc từ các kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm mà người học đã tích lũy thông qua quá trình học tập và làm việc.
Dự thảo cũng cho phép học sinh THPT thuộc đối tượng được miễn thi tốt nghiệp được đăng ký học tích lũy tín chỉ giáo dục đại học.
Cũng lần đầu tiên, quy định về chứng chỉ giáo dục đại học - loại chứng chỉ xác nhận kết quả hoàn thành học phần hoặc một phần chương trình đào tạo, được đưa vào dự thảo.
Hiện nay, các hoạt động của giáo dục đại học được quy định tại Thông tư số 08/2021/TT-BGDĐT ngày 18.3.2021. Việc ban hành thông tư mới thay thế thông tư hiện hành là để phù hợp với các quy định mới của luật Giáo dục và luật Giáo dục đại học, đồng thời, cập nhật những yêu cầu mới của giáo dục đại học trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển AI và học tập suốt đời.
Xem đầy đủ dự thảo thông tư ở đây.
Tin Gốc: Thanh Niên

Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, các em có thể tiếp cận hàng nghìn đề thi thử, video bài giảng, khóa học trực tuyến và cả lộ trình ôn tập sẵn. Tuy nhiên, chính sự phong phú ấy lại đặt ra câu hỏi lớn: đây là cơ hội mở hay một "ma trận" khiến người học dễ lạc lối?
Điểm tích cực rõ nhất là khả năng tiếp cận được mở rộng mạnh mẽ. Trước đây, tài liệu ôn thi chất lượng chủ yếu tập trung ở đô thị và các trung tâm lớn; nay, nhờ internet, học sinh (HS) ở vùng sâu, vùng xa cũng có thể học cùng bài giảng, làm cùng đề thi như ở thành phố. Điều này góp phần thu hẹp khoảng cách vùng miền, ít nhất về cơ hội tiếp cận tri thức - một bước tiến đáng kể về công bằng giáo dục.
Bên cạnh đó, sự phong phú của học liệu cho phép cá nhân hóa việc học. HS có thể chọn nội dung phù hợp với trình độ và mục tiêu: người yếu học lại từ nền tảng, người khá giỏi tiếp cận chuyên đề nâng cao. Đây là điều lớp học truyền thống khó đáp ứng trọn vẹn.
Ngoài ra, tài liệu miễn phí mở "cửa vào" cho HS khó khăn, trong khi tài liệu có phí - nếu được xây dựng bài bản - mang lại giá trị gia tăng như hệ thống hóa kiến thức, phân tích lỗi sai, theo dõi tiến bộ. Sự song song này, về lý thuyết, tạo nên một hệ sinh thái học tập đa lựa chọn và linh hoạt hơn.
Tuy nhiên, chính sự phong phú ấy lại tạo ra nghịch lý: càng nhiều tài liệu, HS càng dễ mất phương hướng. Thứ nhất, nhiều em rơi vào tình trạng "sưu tầm" hơn là học. Một HS ôn thi đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia TP.HCM vừa qua, chia sẻ: "Em bị loạn giữa quá nhiều tài liệu, mỗi nơi một kiểu, không biết tin nguồn nào".
Thứ hai, không ít HS tải hàng chục bộ đề, đăng ký nhiều khóa học nhưng không theo được lộ trình nào đến cùng. Việc học dàn trải, thiếu trọng tâm khiến hiệu quả giảm, học liệu từ công cụ hỗ trợ trở thành "nhiễu thông tin".
Thứ ba, chất lượng tài liệu không đồng đều. Nhiều tài liệu miễn phí chưa được kiểm chứng, có thể sai lệch; trong khi tài liệu có phí không phải lúc nào cũng tương xứng. Thị trường thiếu chuẩn mực khiến "vàng thau lẫn lộn".
Thứ tư, nguy cơ lệch hướng học tập ngày càng rõ. Khi học liệu ôn thi phát triển mạnh, việc học dễ bị thu hẹp thành luyện dạng, học mẹo, thay vì hiểu bản chất. Điều này đi ngược xu hướng đánh giá năng lực.
Thứ năm, yếu tố thương mại hóa tạo áp lực mới. Quảng cáo bị thổi phồng, nhiều gia đình bỏ ra chi phí lớn với kỳ vọng "mua" lợi thế, từ đó hình thành một dạng bất bình đẳng mới.
Trong "ma trận" học liệu, HS không thể tiếp tục học theo kiểu bị dẫn dắt mà cần chuyển sang học có chiến lược.
Cần nhớ không phải càng nhiều tài liệu càng tốt; một nguồn phù hợp, được học sâu, làm đi làm lại và phân tích lỗi sai kỹ lưỡng thường hiệu quả hơn việc "lướt" qua nhiều nguồn. HS cần biết chọn lọc để đánh giá độ tin cậy, so sánh và tự kiểm chứng tài liệu - đây là năng lực thiết yếu trong thời đại số. Ngoài ra, phải giữ mục tiêu học để hiểu; khi nền tảng vững, kết quả thi sẽ là hệ quả tự nhiên.
Trong bối cảnh học liệu tràn ngập, giáo viên cần giữ vững vai trò định hướng. Không chỉ dạy kiến thức, thầy cô cần giúp HS xác định học gì, học từ đâu và học như thế nào; đồng thời giới thiệu nguồn tin cậy, cảnh báo "bẫy" học liệu.
Nhà trường nên xây dựng "ngân hàng học liệu" riêng, được kiểm duyệt để làm chuẩn tham chiếu. Cùng với đó là tổ chức ôn tập bài bản: thi thử, tư vấn học tập, hướng dẫn kỹ năng làm bài. Khi nhà trường làm tốt, sự phụ thuộc vào thị trường bên ngoài sẽ giảm.
Ở cấp quản lý, cần một trục định hướng rõ ràng. Trước hết, Bộ GD-ĐT giao một đơn vị thuộc bộ chuyên trách xây dựng nền tảng học liệu quốc gia, cung cấp tài liệu chuẩn với chi phí thấp, đảm bảo công bằng tiếp cận.
Quan trọng hơn là đổi mới đề thi theo hướng đánh giá năng lực thực chất, hạn chế học tủ, học mẹo, học máy móc, không hiểu bản chất. Đồng thời, cần cơ chế kiểm soát chất lượng học liệu, đặc biệt với sản phẩm có phí, nhằm minh bạch thông tin, bảo vệ người học và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Hiện tượng "bùng nổ học liệu ôn thi" không chỉ có ở VN. Tại Mỹ, các kỳ thi như SAT, ACT đã tạo ra cả một ngành luyện thi; ở Hàn Quốc với CSAT hay Trung Quốc với Gaokao cũng tương tự. Điểm chung là ở đâu thi cử cạnh tranh cao, ở đó học liệu phát triển mạnh.
Tuy nhiên, điều đáng tham khảo là cách ứng xử. Các quốc gia nói trên không hạn chế học liệu mà tập trung định hướng. Tại Mỹ, College Board cung cấp tài liệu chính thức miễn phí, kết hợp với Khan Academy tạo một "chuẩn tham chiếu" rõ ràng. Nhờ đó, HS có điểm tựa đáng tin cậy, không bị lệ thuộc hoàn toàn vào nguồn bên ngoài; đồng thời, đề thi được thiết kế theo hướng khó "luyện tủ", buộc HS phải hiểu và vận dụng. Khi cách thi thay đổi, thị trường học liệu cũng phải điều chỉnh theo.
Ở Hàn Quốc và Trung Quốc, nhà nước còn can thiệp để kiểm soát thương mại hóa, giảm áp lực và bất bình đẳng. Dù còn tranh luận, điều này cho thấy: không thể buông lỏng hoàn toàn, mà cần sự dẫn dắt để học liệu phục vụ đúng mục tiêu giáo dục.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không thể ngăn chặn sự bùng nổ học liệu, nhưng hoàn toàn có thể biến nó thành một hệ sinh thái lành mạnh. Vấn đề không phải là có bao nhiêu tài liệu, mà là có một "trục định hướng" đủ mạnh hay không.
Khi cơ quan quản lý giáo dục dẫn dắt, nhà trường tổ chức, giáo viên định hướng và HS chủ động, thì sự bùng nổ học liệu sẽ không còn là áp lực mà trở thành nguồn lực quý giá cho một nền giáo dục hiện đại.
Trước mắt, một số tỉnh, thành phố lớn có thể xây dựng hệ sinh thái ôn thi cho riêng địa phương mình, từ đó, sẽ phổ biến kinh nghiệm cho nhiều địa phương khác.
Tin Gốc: Thanh Niên

