Ngày 30/5, Công an TPHCM phối hợp cùng Công an xã Long Hải điều tra nguyên nhân tử vong, đồng thời xác minh nhân thân người phụ nữ được phát hiện tử vong trên địa bàn.
Theo thông tin ban đầu, vào đầu giờ chiều 29/5, người dân phát hiện thi thể một phụ nữ trôi dạt vào khu vực bờ biển gần khu nghỉ dưỡng 298 (xã Long Hải) nên trình báo cơ quan chức năng.
Nhận tin báo, Công an xã Long Hải đến hiện trường ghi nhận lời khai nhân chứng, chuyển thi thể nạn nhân về nhà xác để phục vụ công tác khám nghiệm tử thi.
Qua ghi nhận ban đầu, nạn nhân khoảng 25-35 tuổi, mặc áo thun màu đen và quần ngắn màu nâu. Trên cổ nạn nhân đeo một sợi dây chuyền màu trắng có mặt hình Phật Quan Âm màu vàng, cùng một đôi bông tai.
Trên người nạn nhân không có giấy tờ tùy thân, nên đến nay cơ quan chức năng vẫn chưa xác định được danh tính.
Công an đề nghị ai là người thân của nạn nhân thì liên hệ Công an xã Long Hải để trình báo, hoặc đến Nhà đại thể Bệnh viện Bà Rịa để nhận dạng.
Tin Gốc: Dân Trí

Ngày 14.7, Phòng Cảnh sát hình sự Công an thành phố Đà Nẵng cho biết vừa chủ trì, phối hợp Công an phường Thanh Khê (Đà Nẵng) triệt xóa thành công đường dây tổ chức đánh bạc và đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá trên không gian mạng quy mô lớn. Cơ quan công an đã bắt giữ, triệu tập làm việc 7 nghi phạm để điều tra, làm rõ hành vi vi phạm.
Theo cơ quan điều tra, qua công tác nắm tình hình, Phòng Cảnh sát hình sự phát hiện Đặng Đoàn Ngọc Tuấn (43 tuổi) và Văn Anh Quốc (36 tuổi, cùng ở phường Thanh Khê) có nhiều biểu hiện nghi vấn tổ chức đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá trên mạng.
Nhận định đây là đường dây hoạt động với quy mô lớn, tổ chức chặt chẽ và sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi nhằm che giấu hành vi phạm tội, lực lượng cảnh sát hình sự đã tập trung xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để đấu tranh, triệt xóa.
Căn cứ các tài liệu thu thập được, ngày 11.7, Phòng Cảnh sát hình sự Công an thành phố Đà Nẵng chủ trì, phối hợp Công an phường Thanh Khê huy động 50 cán bộ, chiến sĩ chia thành 7 tổ công tác đồng loạt phá án.
Các tổ công tác bắt giữ, triệu tập làm việc 7 người gồm: Đặng Đoàn Ngọc Tuấn, Văn Anh Quốc và Đào Ngọc Kông Thiện (39 tuổi), Lê Nguyễn Thanh Lâm (32 tuổi), Lê Văn Lộc (50 tuổi), Đỗ Minh Đức (48 tuổi, cùng ở phường Thanh Khê), Nguyễn Điển Thuận (36 tuổi, ở phường Hòa Khánh).
Kết quả điều tra ban đầu xác định, từ tháng 4 đến nay, Đặng Đoàn Ngọc Tuấn và Văn Anh Quốc sử dụng các tài khoản cá độ bóng đá trên mạng, sau đó chia tách thành nhiều cấp gồm Master (đại lý cấp 1), Agent (đại lý cấp 2), Member (người chơi) rồi giao cho nhiều đối tượng quản lý, sử dụng để tổ chức và tham gia cá độ.
Các nghi phạm phân công nhiệm vụ, phân cấp quản lý chặt chẽ, triệt để sử dụng các phương tiện kỹ thuật, công nghệ cao và thường xuyên thay đổi phương thức, thủ đoạn hoạt động nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng.
Để che giấu dòng tiền và đối phó với lực lượng công an, các nghi phạm sử dụng nhiều "điểm trung chuyển" để thực hiện việc giao dịch, luân chuyển tiền thắng, thua từ hoạt động cá độ bóng đá.
Bước đầu, Phòng Cảnh sát hình sự Công an thành phố Đà Nẵng xác định tổng số tiền tổ chức đánh bạc và đánh bạc của đường dây từ tháng 4 đến thời điểm bị triệt xóa lên đến gần 60 tỉ đồng.
Đáng chú ý, riêng trong thời gian diễn ra World Cup 2026, từ ngày 7.6 đến ngày 11.7, số tiền giao dịch cá độ bóng đá qua đường dây này ước tính khoảng 20 tỉ đồng.
Qua khám xét, lực lượng chức năng thu giữ 8 điện thoại di động cùng hơn 700 trang tài liệu thể hiện lịch sử cá độ bóng đá và nhiều dữ liệu điện tử liên quan phục vụ công tác điều tra.
Hiện Phòng Cảnh sát hình sự Công an thành phố Đà Nẵng đang tiếp tục đấu tranh, củng cố tài liệu, chứng cứ, mở rộng điều tra để xử lý nghiêm các đối tượng theo quy định của pháp luật.
Tin Gốc: Thanh Niên

Chuyến đi Tây nguyên của tôi ban đầu không có dự định viết câu chuyện liên quan đến Fulro, cái tên từng ám ảnh vùng đất này suốt nhiều thập niên. Nhưng chính một cuộc gặp tình cờ với thượng tá Y Tuấn Ê Ban, Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Quân sự xã Krông Bông (Đắk Lắk), đã mở ra một hướng đi khác.
Giữa buổi trưa oi ả của tháng 5 vừa qua, thượng tá Y Tuấn lấy chiếc xe máy cũ chở chúng tôi qua con đường hai bên là những ngôi nhà sàn thấp thoáng. Không gian buôn làng yên bình đến mức khó hình dung nơi đây từng có thời là điểm nóng, nơi những "bóng ma rừng" mang tên Fulro len lỏi.
Vị thượng tá 43 tuổi không nói nhiều. Chỉ đến khi xe dừng trước một ngôi nhà sàn dài, ông mới quay sang tôi, hạ giọng: "Nhà này trước kia có người từng lầm đường lạc lối". Ông không nói thêm, sau câu dặn khẽ: "Đề cập đến Fulro là rất nhạy cảm, hỏi gì cũng phải nhẹ nhàng".
Người phụ nữ địu cháu đứng ở cầu thang là bà H'Dre Liêng, vợ của ông Y Găm Liêng Hot (còn gọi là Ama Blach). Nghe thượng tá Y Tuấn gọi, bà nhanh nhẹn mời vào, rồi quay vào trong nói gì đó bằng tiếng Ê Đê.
Một lát sau, ông Ama Blach bước ra. Ấn tượng đầu tiên của tôi khi nhìn trực diện một thành viên trong tổ chức Fulro một thời, chỉ là một người đàn ông hiền lành, dáng người nhỏ, ánh mắt có phần bối rối. Ông bắt tay thượng tá Y Tuấn rất thân tình ngay đầu cầu thang nhà sàn, rồi nhìn tôi, thoáng chút dò xét.
Trong căn nhà sàn, câu chuyện bắt đầu bằng những điều giản dị: sức khỏe, mùa rẫy, chuyện con cháu. Ama Blach mang ra vài tai nấm linh chi, nói như khoe một chiến tích nhỏ: "Đi tận núi Chư Yang Sin, 2 - 3 ngày mới có. Có chuyến được vài ký. Công việc chính của gia đình vẫn là làm lúa, trồng bắp. Làm đủ ăn thôi".
Gia đình ông có 7 người con. Theo phong tục mẫu hệ người Ê Đê, 2 người con gái lấy chồng rồi vẫn ở lại nhà cha mẹ, đưa chồng về sống chung. Ngôi nhà sàn vì thế luôn có tiếng trẻ con, tiếng cười. Một cuộc sống bình thường đến mức nếu không được báo trước, khó ai nghĩ người đàn ông này từng có một quãng đời khác khi "bóng ma" Fulro phủ xuống buôn làng.
Fulro từng là một cái tên khiến nhiều buôn làng Tây nguyên chìm trong bất an. Sau năm 1975, tổ chức này vẫn len lỏi, bám rừng, tìm cách lôi kéo, cưỡng ép người dân. Không khí buôn làng khi ấy, như lời nhiều người kể lại, là những ngày tháng nặng nề. Đêm xuống, người ta không dám ra khỏi nhà. Những chuyến đi rẫy cũng mang theo nỗi lo.
Ama Blach kể, giọng chậm và dè dặt: "Fulro vào tận làng bắt đóng gạo, muối… mang lên rừng cho họ. Không theo thì không yên". Ông không dùng những từ nặng nề. Không nhắc đến sự sợ hãi một cách rõ ràng. Nhưng cách ông ngắt câu, cách ánh mắt ông chùng xuống, đủ để hiểu đó là quãng thời gian không dễ nhắc lại.
"Khi đó, không riêng tôi mà cả làng cũng vậy", ông nói thêm.
Nhiều người bị cuốn vào vòng xoáy ấy không hẳn vì lựa chọn, mà vì hoàn cảnh. Sự cưỡng ép, đe dọa khiến họ trở thành những "người mang gùi" bất đắc dĩ tiếp tế cho lực lượng Fulro. Thượng tá Y Tuấn, ngồi bên, chỉ khẽ gật đầu. Ông hiểu những câu chuyện như thế không hiếm trong ký ức của vùng đất này.
Điều khiến tôi chú ý không chỉ là quá khứ, mà còn là cách Ama Blach nói về sự thay đổi. "Sau này mình hiểu ra", ông nói rất ngắn. Không có những lời kể dài dòng, cũng không có chi tiết kịch tính. Nhưng phía sau câu nói ấy là cả một quá trình nhận thức, giằng xé và quyết định quay về. Sau một thời gian vào rừng, ông cùng một số người khác dần nhận ra bản chất của con đường mình đang đi.
Những đợt vận động, tuyên truyền của chính quyền và lực lượng chức năng, cùng sự kiên trì bám buôn của cán bộ địa phương, đã tạo nên sự chuyển biến.
Ama Blach trở về lại buôn làng làm ăn, sinh sống. Ông còn tham gia lực lượng du kích địa phương, góp phần cùng chính quyền giữ gìn an ninh buôn làng và tham gia truy quét tàn quân Fulro.
Trong câu chuyện giữa ông và thượng tá Y Tuấn, tôi nhận ra một sợi dây gắn bó đặc biệt. Ông nhắc đến người cha của vị thượng tá, ông Kpă Song, nguyên Ủy viên Thường vụ H.Krông Bông, Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Quân sự H.Krông Bông từ năm 1989 - 2002.
"Ông ấy gần gũi, nói chuyện, vận động, giúp đỡ mình nhiều. Nhờ vậy mà mình thức tỉnh", ông Ama Blach nói.
Sự thay đổi ấy không ồn ào, nhưng bền bỉ. Nó thể hiện rõ nhất qua cuộc sống hiện tại của con người từng rời buôn vào rừng theo Fulro. Đó là việc ông cùng vợ chăm chỉ làm rẫy, nuôi con, nuôi cháu, giữ nếp buôn làng.
Ama Blach nói về hiện tại nhiều hơn quá khứ. Ông kể chuyện đi rừng, chuyện giá nông sản, chuyện con cái. "Bây giờ cuộc sống đỡ hơn trước nhiều", ông so sánh.
Ông cũng nhắc đến sự hỗ trợ của chính quyền từ gạo đến vật nuôi..., những điều tưởng như nhỏ, nhưng với người dân vùng khó khăn, lại là điểm tựa quan trọng.
"Quân đội gần dân lắm", ông nói, rồi nhìn sang thượng tá Y Tuấn.
Thượng tá Y Tuấn không nhận lời khen, chỉ nói về một điều khác: "Cái cần nhất vẫn là giáo dục. Có học thì bà con mới hiểu, mới phân biệt được đúng - sai".
Ông nói thêm: "Cán bộ cũng nên đến thăm người đồng bào nhiều hơn chứ đừng chọn những nơi đã phát triển tốt. Và cần có cán bộ giỏi về làm việc ở vùng phát triển chậm như ở đây thì mới có thể vực dậy đời sống của người dân".
Có lẽ hơn ai hết, một sĩ quan quân đội người đồng bào như thượng tá Y Tuấn, là người thấu hiểu rất nhiều vấn đề ở nơi ông thuộc về.
Rời buôn Ja, tôi vẫn nhớ ánh mắt của Ama Blach lúc tiễn chúng tôi. Ông không có vẻ né tránh, cũng không cố giải thích điều gì. Có lẽ, với ông, quá khứ là một phần đã đi qua. Điều quan trọng hơn là cuộc sống hiện tại, nơi ông được làm một người nông dân bình thường, được sống cùng gia đình, được nhìn con cháu lớn lên.
Những câu chuyện như của Ama Blach không hiếm ở Tây nguyên, nhưng không phải lúc nào cũng được kể. Bởi phía sau đó không chỉ là một cá nhân, mà còn là cả một giai đoạn lịch sử phức tạp, nơi ranh giới giữa lựa chọn và hoàn cảnh đôi khi rất mong manh.
Những sai lầm có thể xảy ra trong hoàn cảnh khắc nghiệt, và về khả năng con người có thể thay đổi khi được trao cơ hội - đó mới là điều đáng nói nhất.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ở tuổi 71, bà Nguyễn Thị Úc (ở phường Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi) vẫn nhớ rõ những ngày gian khổ hơn nửa thế kỷ trước. Khi đó, bà là y tá tại Bệnh xá Đức Phổ, nơi bác sĩ Đặng Thùy Trâm từng công tác trước khi hy sinh.
Bệnh xá với những căn nhà dựng tạm ẩn khuất trong khu rừng phía đông huyện Ba Tơ (giáp ranh với huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi cũ). Đơn vị gồm 20 cán bộ, nhân viên nhưng có lúc phải chữa trị, chăm sóc cho 120 thương binh giữa muôn vàn gian khó. Nhân viên bệnh xá luân phiên cõng gạo, mắm, muối, cá khô... từ miền xuôi lên núi nuôi sống người bệnh.
Chiều nọ, bà Úc và đồng đội cùng vài người dân tộc H'rê lội bộ băng rừng xuống đồng bằng mua gạo và cá khô. Khi gần ra khỏi rừng, họ lọt vào ổ phục kích và bị địch bắn xối xả bèn tháo chạy. Không may, một người dân tộc thiểu số tử nạn vì những viên đạn hiểm ác.
"Hồi đó đường sá đi lại khó khăn nên cõng lương thực, thực phẩm vô cùng cực khổ. Lo nhất là bị bom đạn của quân thù", bà Úc nhớ lại.
Đêm hè năm 1972, bà Bùi Thị Thu (năm nay 74 tuổi) và 2 đồng đội cùng dân công cõng mắm theo du kích xã Phổ Vinh (hiện tại thuộc phường Đức Phổ, Quảng Ngãi) hướng về núi. Họ lặng lẽ bước đi trong đêm tối. Bất chợt, những loạt đạn xé toạc màn đêm. Họ vội vàng tháo chạy nhưng không may một người bị thương. Quân địch không dám đuổi theo vì sợ bị bắn trả. Họ sơ cứu người bị nạn rồi đưa nhau về rừng.
"Chúng tôi thường chuyển hàng trong đêm tối, nhưng thỉnh thoảng giả dân thường đi ban ngày. Dẫu hiểm nguy cận kề nhưng phải đi cõng để có gạo, mắm, cá nuôi thương binh và cả tôi cùng đồng đội ở bệnh xá", bà nói.
Ngoài điều trị, chăm sóc thương binh, cán bộ và nhân viên Bệnh xá Đức Phổ phải đảm đương nhiều việc trong những ngày cơ cực giữa núi rừng. Ban trưa, họ len lỏi trong rừng lượm củi mang về tích trữ để nấu bếp.
Chiều tối, họ quẩn quanh tìm kiếm rau dại để cải thiện bữa cơm đạm bạc. Mớ rau ranh, rau mương hay vài củ măng rừng vô cùng quý giá. Chén canh rau lõng bõng nhưng quá đỗi là ngon trong lúc đói lòng. Mắm cá cơm, cá nục được kho loãng với nước, bơ, muối và bột ngọt phảng phất hương vị biển cả bao la.
"Lúc đó ăn uống kham khổ lắm. Nhiều bữa, chúng tôi xin đồng bào dân tộc thiểu số hái lá rau lang và lá mì già ngoài rẫy. Khi rau khan hiếm thì bứt cả lá bàng non", bà Thu nhớ lại.
"Ưu tiên cho thương binh chứ chúng tôi ăn rất ít. Đói quá nên ăn gì cũng thấy ngon. Khổ thế nhưng tinh thần lạc quan lắm. Bởi chúng tôi đã xác định sẵn sàng chết cho quê hương thì ngại gì gian khổ", bà Úc góp chuyện.
Rừng xanh che khuất nhưng là nơi "hút" bom đạn quân thù. Quân địch thường xuyên nã pháo và cho máy bay ném bom vào khu vực nghi là nơi đặt bệnh xá. Đối phương tổ chức nhiều đợt càn quét với ý đồ "nghiền nát những tên cộng sản gan lì".
Cán bộ và nhân viên bệnh xá phải di chuyển thương binh đến nơi khác với bao nỗi nhọc nhằn. Khi đến nơi mới, mọi người ráng sức phát dọn, hạ cây làm rường, cột và cắt lá rừng để lợp nhà. Họ không thể nhớ đã bao lần di chuyển để tránh sự truy lùng của giặc. Lắm lúc, mái lá chưa kịp héo úa thì phải chuyển đến nơi khác.
Trải qua bao gian khổ, hiểm nguy, cán bộ và nhân viên vẫn tận tâm chăm sóc thương binh. Họ ân cần chăm sóc, chuyện trò cho người bệnh đỡ phần nào đau đớn do bom đạn gây ra.
"Tôi có 4 lần nằm viện tại Bệnh xá Đức Phổ. Khi đó thiếu thốn đủ thứ. Khổ lắm! Nhưng anh chị em ở bệnh xá rất nhiệt tình chăm lo cho thương binh khiến tôi nhớ mãi. Hồi đó đói quá nên ăn uống cực khổ cũng thấy ngon. Bây giờ, nhiều đêm tôi nằm mơ thấy được ăn món mắm kho lúc đó", ông Lại Hoàng Thơm (74 tuổi, ở xã Khánh Cường, tỉnh Quảng Ngãi, nguyên Chính trị viên đại đội đặc công 120 anh hùng) tâm sự.
(còn tiếp)
Tin Gốc: Thanh Niên

