Nam bệnh nhân 32 tuổi vừa được PGS-TS Nguyễn Mạnh Khánh, Trưởng khoa Phẫu thuật chi trên và Y học thể thao, Phó giám đốc Bệnh viện hữu nghị Việt Đức, cùng ê kíp thực hiện thay khớp vai toàn phần theo giải phẫu.
Về ca bệnh này, PGS Nguyễn Mạnh Khánh cho biết, nam bệnh nhân đã đau khớp vai suốt 3 năm, sau khi bị chấn thương tay do chơi thể thao. Trong thời gian này, triệu chứng đau và mức độ hạn chế vận động sau chấn thương tiến triển tăng dần. Bệnh nhân đã điều trị nội khoa, tập phục hồi chức năng và các biện pháp điều trị không phẫu thuật nhưng các triệu chứng không cải thiện.
Trên phim chụp chẩn đoán X-quang và cắt lớp vi tính, hình ảnh cho thấy, chỏm xương vai bị tiêu hết. Toàn bộ viền sụn vai đã mòn khuyết gây ra tổn thương thoái hóa khớp vai rất nặng. Khớp vai bị biến dạng, tiêu hết chỏm xương cánh tay, có chỉ định thay khớp vai.
Qua kết quả chụp, các bác sĩ nghĩ nhiều đến việc bệnh nhân bị hoại tử vô khuẩn chỏm xương cánh tay sau chấn thương thể thao rất nhiều năm dẫn đến thoái hóa khớp vai. Bệnh nhân đau nhiều, đã qua thời gian rất dài dùng thuốc không đáp ứng. Các bác sĩ quyết định thay khớp vai toàn phần theo giải phẫu.
PGS Khánh chia sẻ, thay khớp vai có chỉ định chặt chẽ. Với người trẻ, ưu điểm lớn của thay khớp vai toàn phần theo giải phẫu là việc phục hồi sửa khớp vai sẽ đạt tối ưu theo giải phẫu của người bệnh, phù hợp với sinh lý, giải phẫu chức năng và đặc biệt ít gây tác động tới hệ thống gân cơ.
Khi khớp thay phù hợp với chính giải phẫu tự nhiên của người bệnh thì vận động cơ sẽ rất ít bị ảnh hưởng, khớp không bị quá căng, cấu trúc xương đó giúp duy trì tuổi thọ của khớp lâu hơn.
Thay khớp vai toàn phần theo giải phẫu, góp phần giúp bệnh nhân nêu trên lấy lại chức năng như cũ, phục hồi nguyên trạng giải phẫu.
PGS Khánh cho biết, so với nhiều năm trước, hiện vật liệu khớp vai nhân tạo đã có nhiều tiến bộ. Chất liệu rất bền, tuổi thọ của khớp thay thế kéo dài 40 – 50 năm. Thành phần xi măng giữ cho khớp vững cũng ưu điểm hơn rất nhiều so với thế hệ trước. Các cấu phần khớp là các cấu phần rời, rất linh hoạt. Đó là các ưu điểm lớn với các trường hợp thay khớp vai toàn phần theo giải phẫu.
PGS Khánh lưu ý, các bệnh nhân bị thoái hóa khớp vai hiện không chỉ ghi nhận ở người lớn tuổi, các ca thoái hóa khớp vai ở người trẻ có xu hướng tăng. Một trong những lý do gây tiêu chỏm hoặc thoái hóa khớp vai ở người trẻ là chấn thương thể thao hoặc tai nạn.
Nhưng hay gặp nhất là chấn thương thể thao do vận động quá nặng, sai tư thế khiến tải trọng khớp vai quá lớn. Tình trạng này kéo dài đến thiếu hụt cấp máu và tiến triển từ từ gây hoại tử vô khuẩn hoặc tiêu chỏm khớp vai, dần dẫn đến thoái hóa khớp vai. Đó là các nguyên nhân rất hay gặp ở bệnh nhân trẻ (dưới 45 – 50 tuổi) bị thoái hóa khớp vai.
“Bệnh lý khớp vai ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt là ở nhóm bệnh nhân vận động mạnh như lao động nặng hoặc chơi thể thao không đúng cách. Do đó, việc chẩn đoán và điều trị đúng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hạn chế các biến chứng sau này và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh, cũng như giúp người bệnh sớm trở lại lao động hoặc tập luyện”, PGS Khánh chia sẻ.
Ngày 13/4, đại diện CDC Cà Mau cũng xác nhận trường hợp nghi ngờ thứ ba có kết quả xét nghiệm âm tính với não mô cầu.
Bệnh nhân dương tính đầu tiên vào Bệnh viện Đa khoa Cà Mau chiều 7/4 trong tình trạng lơ mơ, nôn nhiều, cổ gượng và xuất huyết dưới da. Bác sĩ chẩn đoán người này sốt chưa rõ nguyên nhân, theo dõi viêm não - màng não kèm sốc nhiễm khuẩn, đang tiếp tục điều trị.
Tối 8/4, ca dương tính thứ hai nhập viện với biểu hiện sốt cao, lơ mơ, thở nhanh rồi nhanh chóng rơi vào hôn mê sâu. Người bệnh mang nhiều bệnh lý nền, trải qua cơn sốc nhiễm khuẩn đường tiêu hóa và không qua khỏi sáng hôm sau.
Bệnh nhân có kết quả âm tính vào viện ngày 9/4 sau nhiều ngày sốt cao, ho, đau cơ, tụt huyết áp, tràn dịch màng phổi và xuất huyết dưới da. Tuyến y tế cơ sở ban đầu chẩn đoán người bệnh nhiễm trùng huyết, sốt xuất huyết Dengue, viêm phổi nên tiếp tục theo dõi sát sao. Như vậy, ca này được loại trừ bệnh não mô cầu.
Điều tra dịch tễ cho thấy ba người trên cùng trú tại ấp 6, xã Khánh An, từng tiếp xúc với một ca tử vong hồi giữa tháng 3. Bệnh nhân tử vong này cũng có biểu hiện sốt cao, xuất huyết dưới da, tụt huyết áp nhưng bác sĩ chưa kịp lấy mẫu xét nghiệm não mô cầu.
Ngành y tế tỉnh ngay lập tức điều tra dịch tễ, khoanh vùng và xử lý ổ dịch. Lực lượng chức năng yêu cầu những người tiếp xúc gần theo dõi sức khỏe trong 10 ngày, đồng thời khử khuẩn môi trường khu vực có yếu tố dịch tễ. Hiện địa phương chưa ghi nhận thêm ca mắc mới.
Hai ca não mô cầu tại Cà Mau trong số 24 người mắc bệnh này, 4 ca tử vong, tính từ đầu năm đến nay trên cả nước. Bộ Y tế ghi nhận số ca não mô cầu đang cao bất thường so với cùng kỳ năm ngoái (nhiều hơn 14 ca), cảnh báo nguy cơ dịch và khuyến cáo người dân áp dụng các biện pháp phòng bệnh.
Vi khuẩn não mô cầu gây bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, tiến triển rất nhanh. Bệnh nhân đối mặt nguy cơ tử vong cao hoặc chịu nhiều di chứng nặng nề nếu bác sĩ không phát hiện và can thiệp kịp thời. Bệnh xuất hiện quanh năm tại Việt Nam, thường gia tăng vào các mùa thu, đông và xuân.
Phòng bệnh bằng cách giữ vệ sinh cá nhân và môi trường, đeo khẩu trang. Khi có các dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh như sốt cao, đau đầu, buồn nôn, cổ cứng, nổi ban xuất huyết, cần đến cơ sở y tế điều trị kịp thời.
Tại tọa đàm Hành trình hy vọng do báo Nhân dân tổ chức hôm 19/5 hưởng ứng Ngày Hiến tặng mô, tạng Việt Nam hôm 19/5, PGS Đồng Văn Hệ, Giám đốc Trung tâm Điều phối Quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người, cho biết trước năm 2023 tỷ lệ hiến tạng từ người chết não tại Việt Nam chỉ dưới 5%. Năm 2024, con số tăng lên 12,9% và năm 2025 đạt 18,9%, tương đương mức tăng gấp 3-4 lần. Thành quả này là nhờ công tác vận động hiến tạng được đẩy mạnh tại các bệnh viện và nhiều gia đình hiểu về ý nghĩa hiến tạng hơn trước.
"Tuy nhiên, đây vẫn là mức rất thấp nếu so với nhiều quốc gia khác", ông Hệ nói, thêm rằng ở Trung Quốc và Thái Lan tỷ lệ này khoảng 80%, trong khi Việt Nam hiện chưa đạt 20% số ca hiến ghép tạng. Số ca ghép còn lại chủ yếu từ người hiến còn sống hoặc ghép tự thân.
Ông Hệ nhìn nhận rào cản lớn nhất hiện nay không phải kỹ thuật ghép mà ở nhận thức xã hội về hiến tạng và chết não. Một số nơi vẫn có thông tin chưa chính xác về chết não, khiến nhiều gia đình chưa sẵn sàng đồng ý hiến tạng dù người bệnh không còn khả năng cứu chữa. Vì vậy, ông mong muốn truyền thông góp phần lan tỏa thông tin khoa học, chính xác và nhân văn về hiến mô, tạng, từ đó từng bước hình thành văn hóa hiến tạng trong cộng đồng.
TS Hà Anh Đức, Cục trưởng Khám chữa bệnh, Bộ Y tế, nói hiện trình độ ghép tạng ở Việt Nam tiệm cận nhiều nước tiên tiến trong khu vực. Từ ca ghép thận đầu tiên năm 1992, đến nay ngành y tế đã làm chủ nhiều kỹ thuật khó như ghép đa tạng, ghép tim - gan đồng thời, ghép từ người cho chết não.
Tính đến năm 2025, cả nước đã thực hiện thành công 10.878 ca ghép tạng. Năm 2024 tiến hành 1.212 ca ghép, năm 2025 tăng lên 1.368 ca. Riêng quý I/2026 đã tiến hành 308 ca ghép. Số người chết não hiến tạng cũng tăng dần qua từng năm, từ 41 ca năm 2024 lên 66 ca năm 2025. Tuy nhiên, điểm nghẽn của Việt Nam hiện nay vẫn là nguồn tạng hiến.
Việt Nam có 34 trung tâm vận động hiến tặng mô, tạng nhưng con số hiến tặng mô tạng còn rất khiêm tốn. Trong 10 năm, Việt Nam có 300 ca hiến tặng mô tạng, không bằng con số một năm của Thái Lan.
Một người chết não hiến tạng có thể cứu sống được 8-10 người, giúp giảm gánh nặng bệnh tật cho người bệnh và xã hội. Để bảo đảm nguồn mô, tạng cứu người, Việt Nam cần những giải pháp tổng thể, từ hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động hiến, lấy, ghép mô tạng, đến tăng cường công tác truyền thông.
Tại sự kiện, các đơn vị đã ký kết chương trình phối hợp truyền thông, vận động hiến tặng mô, tạng giai đoạn 2026-2031. Chương trình hướng tới xây dựng mạng lưới truyền thông đồng bộ, khuyến khích người dân đăng ký hiến tặng mô, tạng sau khi qua đời, đồng thời chăm lo, động viên gia đình người hiến.
Một nghiên cứu mới đăng trên American Journal of Preventive Cardiology (Mỹ) cho thấy các vitamin nhóm B, đặc biệt là B1 (thiamin), B2 (riboflavin) và B3 (niacin), đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nguy cơ đột quỵ.
Cơ thể cần 6 nhóm dưỡng chất thiết yếu để duy trì sức khỏe, gồm: Carbohydrate, protein, chất béo, vitamin, khoáng chất và nước. Gọi là “thiết yếu” vì cơ thể không tự tạo đủ, buộc chúng ta phải bổ sung qua ăn uống.
Trong khi tinh bột, đạm và nước thường được chú ý, thì vitamin, khoáng chất lại dễ bị bỏ quên. Các vi chất này giữ vai trò quan trọng trong hoạt động enzym, biểu hiện gien và bảo vệ tế bào khỏi stress oxy hóa, theo EatingWell (Mỹ).
Stress oxy hóa có thể làm tổn thương tế bào và góp phần gây viêm mạn tính - một yếu tố chính dẫn đến nhiều bệnh, trong đó có đột quỵ, hiện là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 3 trên thế giới.
Vì việc điều trị đột quỵ cần nhiều thời gian và chi phí cao, phòng ngừa vẫn là chiến lược quan trọng nhất để giảm nguy cơ. Bên cạnh mô hình ăn uống tổng thể, các nhà nghiên cứu ngày càng quan tâm đến vai trò của từng dưỡng chất riêng lẻ, đặc biệt là các vi chất thường bị lãng quên.
Các nhà khoa học muốn tìm hiểu mối liên hệ giữa việc bổ sung vitamin B lâu dài (qua ăn uống và mức vitamin trong máu) với nguy cơ đột quỵ. Sau khi sử dụng và tổng hợp dữ liệu từ 2 nghiên cứu lớn tại Mỹ, họ nhận thấy:
Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đó, đặc biệt là với folate trong bảo vệ tim mạch.
Ngoài ra, những người có lượng vitamin B cao cũng có chế độ ăn lành mạnh hơn, thường dùng thực phẩm bổ sung vitamin và quan tâm tới sức khỏe nhiều hơn.
Đặc biệt, kết quả được xác nhận không chỉ từ dữ liệu ăn uống mà còn từ nồng độ vitamin đo trong máu, làm tăng độ tin cậy của phát hiện. Tuy vậy, đây là nghiên cứu quan sát, nên chưa thể khẳng định chắc chắn rằng vitamin B trực tiếp làm giảm nguy cơ đột quỵ mà cần thêm các nghiên cứu can thiệp.
Có 8 loại vitamin B thiết yếu: B1, B2, B3, B5, B6, B7, B9, B12. Mỗi loại có vai trò riêng trong chuyển hóa năng lượng, hoạt động tế bào và sức khỏe tim mạch. Tin tốt là các vitamin này rất phổ biến trong thực phẩm hằng ngày.
Nếu muốn tăng cường vitamin B1, B2, B3 để giảm nguy cơ đột quỵ, mọi người có thể bổ sung từ các loại thực phẩm:
Thay vì tập trung vào một vitamin riêng lẻ, nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của một chế độ ăn cân bằng gồm ngũ cốc nguyên hạt, đạm nạc, các loại đậu, hạt và sữa. Ngoài ra, thực phẩm bổ sung có thể hữu ích trong một số trường hợp, nhưng không phải lúc nào cũng cần thiết nếu bạn ăn uống cân bằng. Nếu muốn dùng vitamin tổng hợp, nên hỏi ý kiến bác sĩ.