Sáng 26/5, Bộ Y tế tổ chức hội nghị trực tuyến phổ biến Nghị định 165 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng bệnh.
Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà cho biết Nghị định số 165 đã quy định tương đối toàn diện về phạm vi, đối tượng, lộ trình triển khai, cơ sở tổ chức thực hiện, cơ chế phối hợp và nguồn lực bảo đảm cho công tác khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc và quản lý dữ liệu sức khỏe người dân.
Tuy nhiên, qua tổng hợp bước đầu, nhiều địa phương, đơn vị vẫn còn khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện, nhất là các nội dung liên quan đến tổ chức khám sức khỏe định kỳ và khám sàng lọc; bố trí nhân lực, kinh phí, cơ sở vật chất; thu thập, cập nhật và liên thông dữ liệu khám sức khỏe…
“Bộ Y tế xác định tinh thần triển khai phải thực chất, đồng bộ, tránh hình thức; bảo đảm người dân được tiếp cận dịch vụ khám sức khỏe định kỳ thuận lợi, hiệu quả và từng bước hình thành hệ thống dữ liệu sức khỏe đồng bộ, liên thông, phục vụ công tác quản lý, dự phòng và chăm sóc sức khỏe lâu dài cho nhân dân”, Thứ trưởng Hà nhấn mạnh.
Liên quan đến khám sức khỏe định kỳ cho nhóm học sinh, ông Hoàng Minh Đức, Cục trưởng Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế), cho biết, đây là lần đầu nội dung khám sức khỏe đầu năm, khám sàng lọc bệnh, tật cho học sinh hàng năm được đưa vào.
Đồng thời, các đơn vị cũng cần rà soát tiền sử tiêm chủng khi trẻ nhập học cấp mầm non, tiểu học. Trên cơ sở đó, các trường phối hợp với trạm y tế xã xây dựng kế hoạch tiêm bù, tiêm vét cho trẻ chưa được tiêm chủng trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng.
Một điểm mới đáng chú ý của Nghị định 165 là quy định tiêm chủng trọn vòng đời thay vì chỉ tiêm chủng cho bà mẹ, trẻ em như trước. Chẳng hạn, vaccine cúm sau này sẽ được đưa vào Chương trình Tiêm chủng mở rộng.
Bên cạnh đó, khối tư nhân cũng sẽ tham gia công tác tiêm chủng trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng. UBND tỉnh, cơ quan chuyên môn sẽ quyết định cơ sở tư nhân nào được tham gia.
Đặc biệt, từ ngày 1/7 sẽ không còn công bố dịch như trước đây.
Hỗ trợ, cấp học bổng với người học chuyên ngành dự phòng, y tế công cộng, dinh dưỡng
Theo đó, ngoài chính sách học bổng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, sinh viên, học viên của chương trình đào tạo văn bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành y học dự phòng, y tế công cộng, dinh dưỡng có kết quả học tập từ loại khá trở lên, không bị kỷ luật và khiển trách trong kỳ xét học bổng sẽ được cấp học bổng khuyến khích.
Học viên học sau đại học gồm thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành y học dự phòng, dịch tễ học thực địa cũng được Nhà nước hỗ trợ hoàn toàn học phí và hỗ trợ chi phí sinh hoạt.
Học viên của chương trình đào tạo cấp văn bằng thạc sĩ, tiến sĩ các ngành y học dự phòng, dịch tễ học, dịch tễ học thực địa, y tế công cộng, dinh dưỡng là người đang làm việc tại trạm y tế cấp xã, cơ sở y tế dự phòng tại khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn được Nhà nước cấp học bổng chính sách.
Thứ trưởng Hà đề nghị các đơn vị liên quan sớm hoàn thiện chính sách hỗ trợ cho sinh viên để áp dụng ngay từ ngày 1/7.
Từ năm ba tuổi, anh có biểu hiện vàng da, được chẩn đoán viêm gan do nhiễm Cytomegalovirus (CMV) - loại virus thuộc họ Herpes, có khả năng lây nhiễm ở mọi lứa tuổi qua dịch cơ thể như nước bọt, nước tiểu, máu, sữa mẹ. Dù tuân thủ điều trị, tình trạng vàng da chỉ thuyên giảm tạm thời rồi tái diễn. Suốt 12 năm tuổi thơ, anh phải điều trị liên tục cả nội lẫn ngoại trú tại bệnh viện nhi.
Sang tuổi trưởng thành, chàng trai tiếp tục đến nhiều bệnh viện đầu ngành có chuyên khoa gan mật tại TP HCM, nhận chẩn đoán "viêm gan tắc mật chưa rõ nguyên nhân". Từ năm 2020, anh liên tục nhập viện vì vàng da, suy gan cấp và thiếu máu nặng đến mức phải truyền máu nhiều lần.
Ngày 8/4, TS.BS Lê Hữu Phước, Phó Khoa Viêm gan, Bệnh viện Chợ Rẫy, cho biết hồ sơ ghi nhận khi điều trị tại bệnh viện nhi, các chuyên gia đã nghi ngờ khả năng bệnh nhân mắc Wilson - căn bệnh di truyền hiếm gặp về rối loạn chuyển hóa đồng. Tuy nhiên, lúc bấy giờ, tất cả kết quả cận lâm sàng như phân tích gene, xét nghiệm máu đều không đáp ứng đủ tiêu chuẩn chẩn đoán. Rào cản lớn nhất là bệnh nhân không có đột biến gen ATP7B - "tiêu chuẩn vàng" để xác định bệnh, mọi hướng điều trị sau đó rẽ sang ngả khác.
Bước ngoặt đến vào tháng 5/2023, quá trình điều trị tại Khoa Viêm gan, các bác sĩ đặc biệt chú ý đến chi tiết bệnh nhân từng có một người anh và một người chị ruột qua đời năm 6 tuổi và 8 tuổi vì chứng vàng da kéo dài. Dựa trên y văn thế giới ghi nhận vẫn có dưới 1% bệnh nhân Wilson không mang đột biến gene ATP7B, cộng với yếu tố tiền sử gia đình, các bác sĩ mạnh dạn đưa ra nghi ngờ bệnh Wilson thể hiếm và quyết định điều trị thử.
Quá trình theo dõi hai năm cho thấy các bất thường như vàng da hay thiếu máu đều cải thiện rõ. Tái khám ngày 7/4, sức khỏe bệnh nhân đã ổn định, trở lại sinh hoạt bình thường. Vì Wilson là một bệnh lý di truyền nên bệnh nhân vẫn tiếp tục được theo dõi, kiểm soát các triệu chứng và điều trị suốt đời.
BS.CK2 Phạm Thanh Việt, Phó giám đốc phụ trách quản lý điều hành Bệnh viện Chợ Rẫy, nhận định sự kiên trì không nản lòng trước ca khó, liên tục đặt lại vấn đề để xâu chuỗi thông tin toàn diện đã giúp tìm ra "lời giải" cho căn bệnh ẩn nấp suốt nhiều năm. Đây là ca thứ 2 mắc Wilson thể hiếm (không phát hiện đột biến gene ATP7B) được Khoa Viêm gan điều trị thành công, trong tổng số hơn 500 bệnh nhân Wilson mà đơn vị tiếp nhận tron 10 năm qua.
Wilson (phát hiện năm 1912) là bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, do đột biến gene ATP7B gây ra rối loạn chuyển hóa đồng. Nếu cả cha và mẹ mang gene bệnh, tỷ lệ con sinh ra mắc bệnh là 25%. Đây là căn bệnh hiếm và khó chẩn đoán, nhưng nếu được phát hiện kịp thời, quá trình điều trị sẽ nhẹ nhàng, ít tốn kém. Ngược lại, nếu bỏ sót, hầu hết bệnh nhân sẽ tử vong ở tuổi đời rất trẻ.
Người dân, đặc biệt là người trẻ tuổi, cần đi khám ngay nếu cơ thể xuất hiện các dấu hiệu bất thường như tăng men gan kéo dài, vàng da không rõ nguyên nhân, thiếu máu hoặc các triệu chứng thần kinh, tâm thần không rõ nguyên nhân.
Giá trị dinh dưỡng của cá không chỉ phụ thuộc vào việc chúng được nuôi hay đánh bắt tự nhiên, mà còn liên quan đến loài cá, nguồn thức ăn, vùng đánh bắt, phương pháp nuôi trồng và cách bảo quản sau khi bắt, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Trong một số trường hợp, cá tự nhiên có tỷ lệ omega-3 cao hơn. Nhưng ở những trường hợp khác, cá nuôi lại có hàm lượng omega-3 tương đương, giá rẻ và đôi khi có mức thủy ngân thấp hơn.
Với protein, một số quan điểm rằng cá tự nhiên giàu protein hơn vì chúng phải bơi nhiều hơn trong môi trường tự nhiên. Điều này có thể đúng ở một số loài nhưng mức chênh lệch thường không đáng kể.
Một nghiên cứu công bố trên chuyên san Current Research in Food Science cho thấy cá hồi tự nhiên có hàm lượng protein và tổng a xít amin cao hơn một chút so với cá hồi nuôi. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng cho thấy mức khác biệt này không quá lớn.
Trên thực tế, nếu ăn cá đều đặn mỗi tuần, lựa chọn cá nuôi hay cá tự nhiên thường không ảnh hưởng quá nhiều đến tổng lượng protein hấp thụ.
Một trong những khác biệt dễ thấy nhất giữa cá nuôi và cá tự nhiên là tổng lượng mỡ cá. Cá nuôi thường được cho ăn theo chế độ giúp tăng trưởng nhanh hơn, đồng thời mức vận động cũng thấp hơn cá sống ngoài tự nhiên. Điều này khiến nhiều loại cá nuôi có xu hướng có nhiều mỡ hơn.
Ví dụ điển hình là cá hồi nuôi thường có phần thịt béo hơn, mềm hơn và nhiều calo hơn cá hồi tự nhiên. Trong khi đó, cá đánh bắt tự nhiên thường có phần thịt săn chắc hơn, ít mỡ hơn và phù hợp với những người đang muốn kiểm soát calo.
Một quan niệm khá phổ biến là cá sống trong môi trường tự nhiên luôn sạch hơn cá nuôi. Nhưng thực tế phức tạp hơn nhiều. Cá tự nhiên có thể tiếp xúc với thủy ngân, vi nhựa và nhiều chất ô nhiễm khác tồn tại trong sông, hồ hoặc đại dương. Đặc biệt, những loài cá lớn sống lâu và đứng cao trong chuỗi thức ăn như cá kiếm, cá mập hoặc cá thu thường có nguy cơ tích lũy thủy ngân cao hơn.
Trong khi đó, một số nghiên cứu cho thấy nhờ thay đổi công thức thức ăn chăn nuôi, nhiều trang trại thủy sản hiện đại đã có thể giảm nồng độ một số chất ô nhiễm hữu cơ trong cá nuôi. Vì vậy, yếu tố quan trọng hơn không nằm ở cá được nuôi hay đánh bắt mà là loài cá và nguồn gốc của chúng.
Bên cạnh yếu tố cá nuôi hay cá tự nhiên, mọi người cũng nên quan tâm nhiều hơn đến loại cá cụ thể và nguồn gốc sản phẩm. Ưu tiên các loại cá có hàm lượng thủy ngân thấp, nguồn cung rõ ràng và được bảo quản đúng cách, theo Healthline.
Calo là đơn vị dùng để tính hàm lượng năng lượng có sẵn trong các loại thực phẩm, tồn tại dưới các dạng protein, chất béo và tinh bột. Đa phần thực phẩm đều có calo nhưng hàm lượng không giống nhau, thường lượng calo cao nhất ở trong chất béo.
Cơ thể luôn cần calo (năng lượng) để tồn tại và vận động. Khi không có năng lượng, các tế bào trong cơ thể sẽ chết, các cơ quan không thể duy trì quá trình cơ bản để đảm bảo sự sống. Lượng calo con người hấp thụ được hàng ngày thông qua đồ uống, thức ăn. Nếu được cung cấp đủ một lượng calo cần thiết mỗi ngày thì cơ thể sẽ hoạt động khỏe mạnh bình thường. Ngược lại, cung cấp quá nhiều hay quá ít calo sẽ gây ra các vấn đề về sức khỏe.
PGS.TS.BS Nguyễn Anh Tuấn, nguyên Phó viện trưởng Phẫu thuật Tiêu hóa, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, cho biết mỗi người có số cân nặng, mức tiêu hao năng lượng hoặc các vấn đề bệnh tật khác nhau. Do đó, mức năng lượng cụ thể nạp vào mỗi ngày cũng khác biệt.
Thông thường, nam giới cần nhiều calo hơn nữ giới do có khối lượng cơ bắp lớn hơn và tỷ lệ trao đổi chất cao hơn. Ví dụ, một nam giới trưởng thành có thể cần khoảng 2.500-3.000 calo mỗi ngày, trong khi nữ giới thường cần khoảng 2.000-2.500 calo.
Cụ thể với từng nhóm tuổi như sau:
Với phụ nữ:
- Từ 26-50 tuổi cần khoảng 2.000 calo mỗi ngày
- Tuổi 20 thường cần khoảng 2.200 calo mỗi ngày
- Trên 50 tuổi thường sẽ cần ít calo hơn, khoảng 1.800 calo mỗi ngày.
Với đàn ông:
- Từ 26-45 tuổi cần 2.600 calo mỗi ngày để duy trì cân nặng
- Tuổi 19-25 cần 2.800 calo mỗi ngày
- Từ 45-65 tuổi cần trung bình 2.400 calo mỗi ngày.
Nhu cầu protein: Nam giới thường có nhu cầu protein cao hơn để hỗ trợ xây dựng cơ bắp và duy trì khối lượng cơ.
Sắt: Nữ giới, đặc biệt là trong độ tuổi sinh sản, cần nhiều sắt hơn nam giới do mất máu hàng tháng qua chu kỳ kinh nguyệt.
Canxi và vitamin D: Nữ giới có nguy cơ loãng xương cao hơn, do đó cần chú ý đến lượng canxi và vitamin D để duy trì sức khỏe xương.
Cả nam và nữ đều cần một chế độ ăn uống cân bằng, nhưng sự khác biệt về nhu cầu dinh dưỡng cần được điều chỉnh để phù hợp với từng giới tính và giai đoạn cuộc sống.
Dinh dưỡng đủ và cân đối giúp cơ thể phát triển toàn diện, đặc biệt là ở trẻ em và thanh thiếu niên. Thiếu hụt dinh dưỡng có thể dẫn đến suy dinh dưỡng, chậm phát triển và các vấn đề về sức khỏe khác. Dinh dưỡng tốt giúp cơ thể duy trì hệ thống miễn dịch mạnh mẽ, giảm nguy cơ mắc các bệnh như tiểu đường, tim mạch, béo phì và các bệnh mãn tính khác.
Các chất dinh dưỡng như vitamin và khoáng chất đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức đề kháng, giúp cơ thể chống lại các bệnh tật. Cơ thể cần cung cấp đủ protein, vitamin, khoáng chất và các chất dinh dưỡng khác giúp cơ thể hoạt động hiệu quả, từ chức năng não bộ đến chức năng cơ bắp và tiêu hóa.
Nhu cầu dinh dưỡng của một cơ thể trưởng thành phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi tác, giới tính, mức độ hoạt động, và tình trạng sức khỏe. Tuy nhiên, các nhóm chất dinh dưỡng cơ bản mà mọi người cần bao gồm: Carbohydrate là nguồn năng lượng chính cho cơ thể, khuyến nghị khoảng 45-65% tổng năng lượng hàng ngày từ carbohydrate.
Protein giúp xây dựng và sửa chữa các mô, cơ bắp. Người trưởng thành cần khoảng 10-35% tổng năng lượng từ protein.
Chất béo cung cấp năng lượng và hỗ trợ hấp thụ vitamin, nên chiếm khoảng 20-35% tổng năng lượng hàng ngày.
Vitamin và khoáng chất rất cần thiết cho các chức năng sinh học của cơ thể, bao gồm vitamin A, C, D, E, canxi, sắt, kẽm, magiê. Nước đóng vai trò quan trọng trong mọi quá trình sinh học, từ tiêu hóa đến tuần hoàn máu. Cơ thể trưởng thành cần khoảng 2-3 lít nước mỗi ngày.