Là một đô thị đầu tàu, TP.HCM đang bước vào giai đoạn phát triển mới, nơi các mô hình tăng trưởng truyền thống không còn đủ để tạo ra đột phá.
Trong đó, yếu tố then chốt không chỉ nằm ở kết nối nguồn lực nào (what), mà ở cách các nguồn lực này được kết nối, vận hành và cùng tạo ra giá trị trong một hệ sinh thái thống nhất, bền vững (how).
Một cách tiếp cận mới, có khả năng tích hợp nguồn lực Nhà nước, Nhà trường, Doanh nghiệp, Cộng đồng và Môi trường cùng kiến tạo ra giá trị dài hạn cho xã hội là vô cùng cần thiết.
Đây là chủ đề được bàn luận tại Hội nghị Đối tác UEH Partnerships Summit 2026 do Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (UEH) tổ chức, hướng đến cột mốc 50 năm thành lập (1976-2026).
UEH chính thức giới thiệu sáng kiến mới, định vị lại cách thức các bên cùng tham gia và tạo ra giá trị lâu dài cho đô thị, cộng đồng và tương lai: Hệ sinh thái hợp tác đa phương: Đồng kiến tạo giá trị vì tương lai bền vững (UEH Co-Creation Ecosystem for Sustainable Impact).
Đây là một mô hình hợp tác đa phương, liên kết các bên gồm Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp – Cộng đồng – Môi trường tự nhiên. Khác với các hình thức hợp tác truyền thống, mô hình này không phối hợp rời rạc mà tạo ra một cơ chế hòa nhịp chung “cùng xác định vấn đề – đồng thiết kế giải pháp – đồng triển khai – đồng tạo giá trị”. Trong đó:
● Nhà trường: đóng vai trò hạt nhân tri thức, dẫn dắt tri thức thông quan đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao;
● Chính phủ: Kiến tạo chính sách và thể chế cho đổi mới;
● Doanh nghiệp: là động lực phát triển kinh tế, mang giải pháp kinh doanh, công nghệ vào thực tiễn đời sống;
● Cộng đồng: Đồng sáng tạo, phản ánh nhu cầu thực tế;
● Môi trường tự nhiên: Định hướng các giải pháp phát triển bền vững, hài hòa giữa kinh tế, xã hội, môi trường.
Thông qua đó, hợp tác được chuyển dịch: từ phối hợp sang đồng kiến tạo, từ giá trị riêng lẻ của từng bên sang giá trị chung cho xã hội và tương lai bền vững.
UEH với vai trò là điều phối (orchestrator) kết nối các bên liên quan, UEH đưa ra khung 05 trụ cột đồng kiến tạo:
Co-Education – Cùng đào tạo và kiến tạo trải nghiệm thực tiễn: Doanh nghiệp, tổ chức và UEH cùng tham gia thiết kế chương trình đào tạo, học phần và trải nghiệm học tập, gắn chặt với thực tiễn và sự thay đổi của thị trường. Co-Research & Knowledge Transfer – Đồng nghiên cứu và chuyển giao tri thức: Các bên cùng xác định vấn đề, triển khai nghiên cứu ứng dụng, tư vấn chính sách và giải pháp thực tiễn, đưa tri thức học thuật vào giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp, địa phương và xã hội.
Co-Talent Pipeline – Cùng nuôi dưỡng nguồn nhân lực và thiết kế hệ sinh thái nghề nghiệp: Hợp tác không chỉ dừng lại ở tuyển dụng, mà hướng đến phát triển một dòng chảy nhân tài bền vững, trong đó doanh nghiệp tham gia từ sớm vào quá trình đào tạo và phát triển năng lực người học. Co-Innovation – Cùng ươm tạo sáng kiến và giải pháp đổi mới: UEH cùng các đối tác phát triển, thử nghiệm và triển khai các sáng kiến đổi mới sáng tạo, kết nối hệ sinh thái startup, công nghệ và giải pháp thực tiễn. Co-Investing & Giving for Future Impact – Cùng đầu tư nguồn lực và chung tay vì tương lai: Các bên cùng đầu tư cho giáo dục, nghiên cứu, không gian học tập, sáng kiến cộng đồng và phát triển bền vững, chuyển từ các hoạt động tài trợ ngắn hạn sang các cam kết dài hạn tạo tác động.
UEH hướng đến xây dựng Hệ sinh thái hợp tác đa phương – đồng kiến tạo giá trị vì tương lai bền vững – Ảnh: UEH
Hội nghị UEH Partnerships Summit 2026 là dấu mốc chuyển tiếp từ chương trình hợp tác “Kết nối cộng đồng – Lan tỏa tri thức – Hành động bền vững” (2020-2025) sang Hệ sinh thái hợp tác đa phương: Đồng kiến tạo giá trị vì tương lai bền vững (2026-2030).
Sau 5 năm triển khai, chương trình đã hình thành một nền tảng hợp tác quy mô lớn với hơn 1.500 đối tác, gần 2.000 hoạt động hợp tác, hơn 213 tỉ đồng học bổng được trao cho trên 16.000 người học, cùng hàng ngàn cơ hội thực tập, việc làm và trải nghiệm thực tiễn.
Quan trọng hơn, từ nền tảng này, một hệ sinh thái hợp tác thực chất đã được hình thành, là thời điểm thuận lợi để nâng cấp và tạo giá trị dài hạn hơn.
Điểm nhấn chuyên môn của Hội nghị là phiên tọa đàm “From Partnership to Co-Creation” với sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý, tổ chức quốc tế và các doanh nghiệp lớn như ông Lâm Đình Thắng – Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM; bà Phạm Quỳnh Trân – đại diện Viện Kế toán Công chứng Anh và xứ Wales (ICAEW); ông Phạm Hồng Hải – Tổng Giám đốc Ngân hàng OCB; ông Phạm Quang Chiến – Phó Tổng Giám đốc Citek; bà Đào Khánh Chi – Trưởng ban Nhân sự Tập đoàn Sun Group và PGS.TS. Trịnh Tú Anh – Viện trưởng Viện Đô thị thông minh và Quản lý UEH dẫn dắt,
Tại phiên thảo luận, các diễn giả chia sẻ góc nhìn từ quản lý, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế, tập trung làm rõ vai trò của “đồng kiến tạo” như một yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh mới: từ việc doanh nghiệp tham gia sâu vào đào tạo, phối hợp sớm trong phát triển nguồn nhân lực, đến việc gắn nghiên cứu với chính sách, thúc đẩy đổi mới sáng tạo theo mô hình mở và định hướng đầu tư dài hạn cho giáo dục.
PGS.TS. Bùi Quang Hùng – Phó Giám đốc phụ trách Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh – chia sẻ: “Giá trị của hợp tác không chỉ nằm ở số lượng hoạt động, hay những kết quả có thể đo đếm được, mà nằm ở chất lượng của mối quan hệ và đặc biệt là những giá trị được tạo ra trong suốt quá trình đồng hành và đọng lại khi kết thúc.
Vì vậy, UEH Partnerships Summit 2026 không chỉ là một sự kiện tổng kết, mà là điểm khởi đầu cho một giai đoạn phát triển mới – nơi giáo dục, doanh nghiệp và chính quyền cùng kiến tạo giá trị trong một hệ sinh thái chung”.
Từ nền tảng 50 năm, trường tiếp tục khẳng định vai trò cầu nối tri thức và trung tâm liên kết hệ sinh thái, góp phần định hình mô hình phát triển mới cho TP.HCM và hướng đến các giá trị bền vững trong tương lai.
GS-TS Lê Quân, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT nêu quan điểm về chi phí học tập và chất lượng đầu ra học đại học (ĐH) tại Hội nghị tuyển sinh ĐH do Bộ GD-ĐT tổ chức ngày 20.4 tại TP.HCM.
GS-TS Lê Quân dẫn dữ liệu của Bộ Nội vụ cho biết thu nhập bình quân của người lao động năm 2025 khoảng 8-9 triệu đồng mỗi tháng. Trong khi thống kê sơ bộ học phí và các chi phí khác cho thấy một sinh viên tiêu tốn không dưới 100 triệu đồng mỗi năm. Ông nhìn nhận việc lo cho con học ĐH hiện là áp lực không nhỏ với người lao động.
Ông Quân nói: "ĐH không phải là chỗ để học đại". Ông nhấn mạnh: "Bây giờ chi phí học tập ngày càng lớn và 4 năm học tập với chi phí không nhỏ. Nếu ra trường công việc không đáp ứng lực, đặc biệt là không thích ứng được với sự biến đổi của công nghệ thì rõ ràng chúng ta sẽ có những hệ lụy rất lớn về một lực lượng lao động không có chất lượng trong một thời gian không xa".
Vì vậy, GS-TS Lê Quân nhấn mạnh đến yếu tố chất lượng đầu ra trong đào tạo ĐH. Ông nói: "Đến lúc nào đó chúng ta chỉ có thể nói đến những giá trị khác ngoài chất lượng bởi vì chất lượng là điều đương nhiên, không đảm bảo chất lượng thì sẽ có những cái khó khăn và không được thừa nhận. Và chất lượng trong bối cảnh thị trường lao động thay đổi, công nghệ thay đổi rất nhanh áp lực rất lớn đến chúng ta".
Ông Quân nêu quan điểm của lãnh đạo Bộ và của cá nhân là phải nâng chuẩn chất lượng. Ông cho rằng tuyển sinh cần làm sao chuẩn đầu vào tốt lên, nhưng dần dần phải hướng đến chuẩn đầu ra cao hơn. Chuẩn đầu ra cao hơn thì được đánh giá bởi thị trường lao động trong nước và quốc tế.
"Vì những cái đó sẽ đảm bảo cho chúng ta tốt hơn và để loại bỏ điều mà rất nhiều người cho rằng chưa bao giờ thấy học ĐH hay học thạc sĩ ở nước chúng ta dễ như vậy. Nếu mà dễ như vậy, không vất vả thì rõ ràng là tương lai việc làm cũng sẽ khó khăn. Chúng ta cần phải có trách nhiệm hơn với ngành và với xã hội", ông chia sẻ với đại diện các cơ sở đào tạo ĐH tại hội nghị.
Nhấn mạnh yếu tố trách nhiệm, Thứ trưởng Lê Quân cho rằng cần tuyển đúng người, đào tạo đúng người và tạo cơ hội việc làm đúng người. "Tỷ lệ việc làm sau khi đào tạo mà chúng ta nêu nhiều khi chưa thực sự đầy đủ và không phản ánh hết vấn đề. Vì thế, thời gian tới, ngành giáo dục sẽ phối hợp Bộ Công an đồng bộ dữ liệu, ghi nhận thông tin từ lúc sinh viên nhập học đến khi tốt nghiệp, đóng bảo hiểm xã hội. Khi đó, sẽ thấy rõ được trách nhiệm của cơ sở đào tạo với người học', ông Quân nhấn mạnh.
Chia sẻ trong hội nghị tuyển sinh, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT cũng nêu bật điểm mới trong cách thức xác định chỉ tiêu tuyển sinh theo quy định mới vừa được ban hành. Ông nói: "Quy định có nhiều điểm mới, theo quan điểm mới. Trong đó, một sự thay đổi cơ bản là cách xác định giảng viên và hệ số quy đổi".
Theo ông, thạc sĩ là chỉ được tính hệ số quy đổi 0,75. Về nguyên tắc, thạc sĩ cũng sẽ dần dần hạn chế, với vai trò như là trợ giảng trong hệ thống. Do đó, những cơ sở giáo dục mà đang có số lượng thạc sĩ lớn, quy mô tuyển sinh dựa vào số lượng thạc sĩ lớn thì sẽ phải điều chỉnh và tính toán về mặt đội ngũ thời gian tới. Nếu không, đến một thời điểm nào đó, chỉ tiêu tuyển sinh sẽ bị hạn chế nhiều.
Nói thêm về định hướng thay đổi này, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT nói: "Bài toán này chúng ta cũng thấy rõ bởi ĐH dần dần định hướng đổi mới sáng tạo. Thầy cô phải có khả năng tư duy tổng hợp, tư duy nghiên cứu và tư duy khoa học và đổi mới sáng tạo".
Theo Bộ GD-ĐT, đây là lần đầu tiên áp dụng chấm môn ngữ văn theo kiểu rubric trong thi tốt nghiệp THPT. Cách chấm này về cơ bản là chuyển từ "đếm ý" sang đánh giá theo tiêu chí và mức độ cụ thể. Vậy cách chấm này như thế nào, có thuận lợi và khó khăn gì, giám khảo cần trang bị gì để đảm bảo việc chấm thi vừa chính xác, vừa công bằng?
Hiểu một cách đơn giản, rubric là bảng tiêu chí đánh giá theo mức độ, trong đó mỗi bài làm không chỉ được xem xét "có ý hay không" mà còn được đánh giá ở mức độ: đạt, khá, tốt hay xuất sắc (tương ứng với các con điểm).
Trước đây, việc chấm môn văn chủ yếu dựa vào đáp án, thang điểm và hướng dẫn chấm; giám khảo căn cứ vào bài làm để đối chiếu và cho điểm. Cách làm này tuy khá chính xác nhưng vẫn dễ lệch điểm do cảm tính cá nhân. Chấm theo rubric sẽ đưa ra hệ thống tiêu chí cụ thể hơn, giúp việc đánh giá trở nên rõ ràng và nhất quán hơn.
Chẳng hạn, với cách chấm truyền thống, một bài nghị luận xã hội thường được chia nhỏ điểm số theo các phần để chấm (các mục a, b, c, d, e của đáp án). Giám khảo đọc bài, xem thí sinh "có những ý nào" rồi cộng điểm tương ứng. Trong khi đó, với rubric, người chấm không chỉ dừng lại ở việc xác định "có ý" mà phải đánh giá chất lượng của từng phương diện như: mức độ đáp ứng yêu cầu đề, khả năng lập luận, độ phù hợp của dẫn chứng, tính mạch lạc trong diễn đạt… Ví dụ, cùng viết đúng một ý, nhưng một bài chỉ dừng ở mức trình bày sơ sài có thể được xếp mức "đạt" (điểm tương ứng), trong khi bài khác phân tích sâu, có phản biện sẽ được xếp mức "tốt" hoặc "xuất sắc". Điểm số vì thế không còn phụ thuộc chủ yếu vào việc "có đủ ý" mà vào mức độ triển khai ý đến đâu.
So với cách chấm truyền thống, rubric tạo ra sự dịch chuyển rõ rệt từ "có gì" sang "làm tốt đến đâu"; từ "cộng điểm từng ý" sang "đánh giá theo tiêu chí tổng thể"; từ chỗ dễ bị chi phối bởi cảm tính sang bám sát các mô tả cụ thể, chi tiết.
Chính vì vậy, rubric được kỳ vọng sẽ giảm bớt sự chênh lệch giữa các giám khảo, đồng thời tạo điều kiện để những bài viết có tư duy riêng, cách lập luận sáng rõ được ghi nhận xứng đáng.
Nói cách khác, nếu cách chấm cũ thiên về đánh giá kiến thức và mức độ "trúng ý", thì rubric hướng tới đánh giá năng lực viết. Cách chấm này phù hợp với định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của chương trình Giáo dục phổ thông mới 2018.
Tuy mang lại nhiều kỳ vọng, nhưng việc chấm theo rubric cũng đặt ra không ít thách thức, đặc biệt trong bối cảnh phần lớn giám khảo đã quen với cách chấm truyền thống trong nhiều năm.
Khó khăn đầu tiên nằm ở thói quen nghề nghiệp. Không ít giám khảo có xu hướng đọc bài để "tìm ý" rồi cộng điểm, trong khi rubric đòi hỏi phải đọc bài để đánh giá chất lượng lập luận và tư duy. Bên cạnh đó, rubric cũng dễ gây lúng túng ở những bài "lưng chừng", chẳng hạn cho 1,5 hay 2 điểm của câu viết đoạn văn (2 điểm) trong bài làm. Những bài làm không hẳn yếu nhưng cũng chưa thực sự nổi bật, buộc giám khảo phải cân nhắc kỹ lưỡng giữa các mức đánh giá. Nếu thiếu tiêu chí rõ ràng, việc cho điểm rất dễ rơi vào cảm tính.
Vì vậy cần đến vai trò của Bộ GD-ĐT trong việc thiết kế rubric cụ thể, với mô tả rõ ràng cho từng mức độ, tránh các cách diễn đạt chung chung như "tương đối tốt" hay "khá hợp lý". Mỗi mức điểm phải gắn với những biểu hiện có thể nhận diện được trong bài làm. Cùng với đó, việc cung cấp cho giám khảo bài mẫu chuẩn hóa là hết sức cần thiết. Những bài được chấm sẵn ở các mức điểm khác nhau, kèm theo giải thích chi tiết, sẽ giúp giám khảo "căn chỉnh" cách nhìn, từ đó giảm đáng kể độ lệch khi chấm thực tế.
Hơn nữa, thay vì chỉ phổ biến văn bản, các hội đồng chấm thi cần tổ chức chấm thử, đối sánh kết quả, thảo luận những trường hợp lệch điểm để đi đến thống nhất. Đây là bước then chốt giúp giám khảo quen chấm theo rubric.
Bản thân giám khảo cũng cần chủ động thay đổi cách chấm, từ bỏ thói quen "đếm ý", chuyển sang đánh giá mức độ triển khai. Điều này đòi hỏi không chỉ kỹ năng chuyên môn mà còn cả sự linh hoạt trong tư duy. Giám khảo cần rèn luyện khả năng "định vị mức điểm" một cách nhanh chóng và chính xác. Trong thực tế chấm thi, việc xác định bài viết thuộc khoản điểm ngay từ đầu sẽ giúp tiết kiệm thời gian và đảm bảo tính nhất quán.
Mặt khác, dù rubric cho phép đánh giá linh hoạt, nhưng không vì thế mà nới lỏng tiêu chuẩn. Những bài lạc đề, sai bản chất vấn đề vẫn phải bị trừ điểm nghiêm túc, bất kể diễn đạt có trôi chảy đến đâu. Do vậy, rubric không làm thay công việc của giám khảo, mà ngược lại, đặt ra yêu cầu cao hơn đối với người chấm. Nó buộc giám khảo phải đọc kỹ hơn, nghĩ sâu hơn và chịu trách nhiệm rõ ràng hơn với từng điểm số mình cho.
Đợt tập dượt đăng ký xét tuyển đã kết thúc, thí sinh bước vào giai đoạn then chốt của mùa xét tuyển đại học 2026. Theo các chuyên gia, việc xây dựng kế hoạch đăng ký nguyện vọng và chọn đúng ngành học phù hợp quan trọng không kém kết quả thi.
Sau khi hệ thống kết thúc đợt đăng ký xét tuyển thử và xóa toàn bộ dữ liệu, các chuyên gia tuyển sinh khuyến nghị thí sinh không nên nóng vội mà cần tập trung rà soát thông tin, tìm hiểu ngành học và xây dựng chiến lược nguyện vọng phù hợp trước khi bước vào đợt đăng ký chính thức. Thời điểm này thí sinh cần ưu tiên ba việc: kiểm tra dữ liệu cá nhân, hoàn thiện các minh chứng phục vụ xét tuyển và chuẩn bị phương án sắp xếp nguyện vọng.
TS Nguyễn Mạnh Hùng, chuyên viên chính Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD-ĐT), lưu ý thí sinh cần kiểm tra kỹ các thông tin trên hệ thống tuyển sinh như họ tên, ngày sinh, khu vực ưu tiên, đối tượng ưu tiên, kết quả học tập và các dữ liệu liên quan đến xét tuyển. Thí sinh sử dụng tài khoản đã được cấp để xử lý thông tin (nhập, sửa, xem) thông tin của thí sinh trên hệ thống. Những sai sót tưởng chừng nhỏ có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của thí sinh.
"Đây cũng là thời điểm thí sinh cần hoàn thiện các minh chứng liên quan đến phương thức xét tuyển đã đăng ký. Với những em sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế, điểm thi đánh giá năng lực hoặc các chứng nhận khác, cần kiểm tra dữ liệu đã được cập nhật đầy đủ hay chưa. Chỉ cần dành thời gian rà soát thông tin từ bây giờ, thí sinh có thể tránh được nhiều rủi ro khi bước vào giai đoạn đăng ký nguyện vọng chính thức", ông Hùng nói.
Đối với diện xét tuyển thẳng và ưu tiên xét tuyển, các chuyên gia lưu ý thí sinh cần hoàn tất hồ sơ theo đúng thời hạn của từng trường, đồng thời vẫn nên chuẩn bị phương án đăng ký nguyện vọng trên hệ thống chung để chủ động trong mọi tình huống.
Về nguyên tắc xét tuyển, ông Hùng cho biết việc xét tuyển được thực hiện bình đẳng giữa các phương thức và tổ hợp xét tuyển, không phụ thuộc thứ tự nguyện vọng đăng ký. Trường hợp nhiều thí sinh bằng điểm ở cuối danh sách, các cơ sở đào tạo sẽ áp dụng tiêu chí phụ; nếu vẫn bằng nhau sẽ ưu tiên thí sinh có điểm cộng thấp hơn, sau đó mới xét đến thứ tự nguyện vọng.
TS Nguyễn Quốc Anh, Phó hiệu trưởng Trường đại học Công nghệ TP.HCM, cho rằng sau khi hệ thống đăng ký thử kết thúc và xóa toàn bộ dữ liệu, thí sinh cần tận dụng khoảng thời gian này để xây dựng kế hoạch xét tuyển phù hợp.
Theo ông, trước hết thí sinh cần xác định rõ ngành học, trường học yêu thích nhất; đồng thời nghiên cứu kỹ điểm chuẩn các năm gần đây, chỉ tiêu tuyển sinh và phương thức xét tuyển của từng cơ sở đào tạo.
"Khi sắp xếp nguyện vọng, thí sinh nên đặt ngành, trường yêu thích nhất ở vị trí cao nhất. Đừng xếp nguyện vọng theo tâm lý an toàn bởi hệ thống chỉ công nhận nguyện vọng cao nhất đủ điều kiện trúng tuyển", ông Quốc Anh nói.
Ông khuyến nghị thí sinh chia nguyện vọng thành ba nhóm gồm "mơ ước", "phù hợp" và "an toàn" để cân bằng giữa cơ hội vào ngành học yêu thích và khả năng trúng tuyển.
Cùng quan điểm, ThS Cù Xuân Tiến, Trưởng phòng tuyển sinh và công tác sinh viên Trường đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP.HCM), cho rằng thí sinh không nên đưa một ngành ít yêu thích lên trên chỉ vì cho rằng cơ hội trúng tuyển cao hơn.
Hệ thống xét tuyển hiện nay xử lý theo thứ tự ưu tiên nguyện vọng của thí sinh; nếu đã trúng tuyển ở nguyện vọng cao hơn thì các nguyện vọng sau sẽ không còn được xét tiếp. "Nguyện vọng 1 phải là ngành học mà nếu trúng tuyển thí sinh thực sự muốn theo học", ông Tiến lưu ý.
Theo ông Tiến, bên cạnh việc cân nhắc khả năng trúng tuyển, thí sinh cần lựa chọn ngành học dựa trên năng lực, sở thích, điều kiện gia đình và xu hướng nghề nghiệp thay vì chỉ chạy theo thương hiệu trường. Một ngành học phù hợp có thể mang lại kết quả tốt hơn so với việc theo học một ngành không phù hợp chỉ vì trường nổi tiếng.
ThS Phùng Quán, chuyên gia tuyển sinh Trường đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia TP.HCM), khuyên thí sinh không nên xem điểm chuẩn các năm trước là căn cứ duy nhất để chọn ngành. "Điểm chuẩn chỉ là kết quả của một mùa tuyển sinh. Khi nhiều trường áp dụng xét tuyển tổng hợp và thay đổi công thức tính điểm, việc đối sánh với các năm trước không còn hoàn toàn chính xác", ông Quán nói.
Bên cạnh đó, thí sinh cũng cần phân biệt rõ giữa tên ngành và nội dung đào tạo thực tế. Nhiều ngành có tên gọi tương tự nhau nhưng chương trình học, định hướng nghề nghiệp và chuẩn đầu ra rất khác biệt giữa các trường. Thay vì chỉ hỏi "ngành nào dễ đậu", thí sinh nên đặt câu hỏi "ngành nào phù hợp với mình nhất".
Việc chọn đúng ngành học quan trọng hơn việc chọn đúng trường học. Một quyết định phù hợp ngay từ đầu có thể giúp người học tiết kiệm thời gian, chi phí và tránh tình trạng chuyển ngành hoặc bỏ học giữa chừng.