Đặng Quang Tuấn, 31 tuổi, hiện là nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Trung tâm Toán và Khoa học Yau, Đại học Thanh Hoa. Đây là ngôi trường danh tiếng bậc nhất Trung Quốc, top 12 thế giới theo bảng xếp hạng THE.
Tại đây, Tuấn nghiên cứu chủ yếu về bài toán trong hình học vi phân và giải tích phức, giống với định hướng của GS Shing Tung Yau – người hướng dẫn. GS Yau không chỉ là nhà Toán học đầu tiên của Trung Quốc đoạt giải thưởng Fields danh giá vào năm 1982 mà còn được coi là “kiến trúc sư” trưởng cho sự trỗi dậy của toán học hiện đại tại quốc gia tỷ dân.
Công trình của Tuấn gắn với những lý thuyết như tương đối tổng quát và lý thuyết dây, nơi các hiện tượng vật lý (như sự giãn nở của vũ trụ) được giải thích bằng cách giả định tồn tại các chiều không gian ngoài 4 chiều quen thuộc, gọi là đa tạp Calabi-Yau.
Theo anh, đa tạp này có ứng dụng rất lớn trong nghiên cứu liên quan tới hạt hay năng lượng nước của hạt, vật chất tối, năng lượng tối,… Trọng tâm là phương trình Monge–Ampère, một phương trình vi phân đạo hàm riêng, đóng góp vào việc giải các bài toán liên quan cấu trúc hình học trong vật lý.
“Được làm việc trong một môi trường học thuật quốc tế không thua kém các nước phương Tây là cơ hội rất lớn với tôi”, Tuấn nói.
Thanh Hoa có ba đơn vị nghiên cứu toán: Trung tâm Toán và Khoa học, Khoa Toán, Trung tâm giảng dạy Toán học. Trung tâm Toán và Khoa học – nơi Tuấn làm việc thiên về nghiên cứu, thay vì các hoạt động giáo dục như hai đơn vị còn lại.
Tuấn nhìn nhận Trung Quốc đang đẩy mạnh đào tạo nghiên cứu sinh tiến sĩ, bởi đây là nền tảng phát triển khoa học cơ bản. Các nhà khoa học chịu áp lực rất lớn về đầu ra. Nghiên cứu sinh sau tiến sĩ như Tuấn cần có ít nhất một công bố quốc tế mỗi năm, các giáo sư nặng nề hơn khi hàng năm phải hướng dẫn 3-5 học trò.
Đổi lại, với nguồn lực tài chính lớn từ Chính phủ và ngân sách riêng, các đại học Trung Quốc có đãi ngộ rất hấp dẫn. Nhà khoa học được đảm bảo về lương, bảo hiểm xã hội và nhà ở, chỗ học cho con em ngay trong trường để tập trung nghiên cứu.
Khuôn viên Thanh Hoa cũng luôn sôi động với các hội thảo quốc tế diễn ra hàng tuần, từ xác suất thống kê đến hình học, giải tích hay đại số. Ngoài ra, Tuấn thấy bầu không khí trong nhóm nghiên cứu thoải mái, dù GS Yau là cái tên lão làng của toán học Trung Quốc và thế giới, đảm nhận nhiều nhiệm vụ khoa học và quản lý tầm cỡ.
Những cuộc trao đổi 30-45 phút mỗi tuần là lúc Tuấn được học hỏi từ tầm nhìn và cách tiếp cận vấn đề của thầy. Chẳng hạn, khi nói về phương trình vi phân đạo hàm riêng Monge–Ampère, ông Yau đào sâu về lịch sử của lý thuyết toán và vật lý, để giải thích vì sao nó cần thiết.
GS Yau cũng luôn khuyến khích học trò liên hệ bài toán đang theo đuổi với những ngành khác, như giải tích số hay AI, kết nối đồng nghiệp để trao đổi hợp tác.
Ngoài nghiên cứu, Tuấn có hai buổi dạy mỗi tuần, hỗ trợ các giáo sư chấm, chữa bài cho sinh viên bậc cao học.
Tuấn nói công việc hiện tại vượt ngoài trí tưởng tượng của anh khi còn là sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội.
Từ nhỏ, Tuấn học toán như một niềm vui thích. Cậu học trò trường làng ở Vĩnh Phúc từng giành nhiều giải nhất trong các cuộc thi học sinh giỏi, rồi đỗ vào lớp chuyên toán của tỉnh, hai năm liền đạt giải ba quốc gia.
Năm 2013, Tuấn đỗ lớp chất lượng cao, khoa Toán – Tin của trường Sư phạm. Thời gian ở đây, anh “rinh” giải nhất môn Đại số và nhì môn Giải tích tại Olympic Toán sinh viên toàn quốc. Tuấn học hăng say, nhưng chỉ nghĩ mình sẽ trở thành một giáo viên Toán ở phổ thông, cho đến một cơ duyên vào năm thứ tư.
Vì thấy học trò xoay xở tốt với toán cao cấp, thầy của Tuấn viết thư giới thiệu để anh có học bổng thạc sĩ ở Pháp. Cậu sinh viên 21 tuổi khi ấy mừng rỡ trước cơ hội du học nên cấp tốc học tiếng Pháp, làm hồ sơ ứng tuyển chỉ trong vòng nửa năm.
Tới Đại học Paris-Saclay năm 2017 với học bổng 1.000 euro/tháng, Tuấn không khỏi bỡ ngỡ trước nền văn hóa khác biệt, nỗi nhớ nhà và những thủ tục hành chính rắc rối.
Nhờ cộng đồng người Việt ở Paris, Tuấn dần vượt qua cảm giác chênh vênh. Anh cũng tìm cách “bắt chước” các bạn Pháp, chủ động đặt câu hỏi, thảo luận trên lớp nhiều hơn.
“Đến lúc này, tôi vẫn đinh ninh sẽ trở về Việt Nam để dạy toán”, Tuấn nhớ lại. Nhưng khi học môn Giải tích phức, Tuấn thấy hứng thú và học tốt hơn cả nên dành nhiều thời gian suy nghĩ, đọc tài liệu, tìm người trao đổi những chỗ chưa hiểu,… Đam mê thôi thúc anh học lên tiến sĩ vào năm 2019, dưới sự hướng dẫn của GS Lữ Hoàng Chinh và Vincent Guedj.
Anh nhìn nhận khó khăn lớn nhất là bước chuyển đổi từ học sang nghiên cứu, phải vận dụng kiến thức để tạo ra cái mới. Tuấn đọc rất nhiều tài liệu toán và được truyền cảm hứng từ các nghiên cứu của GS Yau. Năm 2022, anh bảo vệ thành công luận án về “Dòng đa thế vị Monge-Ampère”, rồi tới Trung tâm Vật lý Lý thuyết quốc tế Abdus Salam ở Italy làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ.
Trong thời gian này, Tuấn quan sát các đại học Trung Quốc có nhiều nghiên cứu đột phá về khoa học, công nghệ, cùng các chương trình thu hút nhân tài. Cuối năm 2024, Tuấn quyết định trở về châu Á, vừa để thử sức ở môi trường mới, vừa để được ở gần gia đình. Đọc thông báo tuyển sinh của GS Yau, anh không chần chừ ứng tuyển và nhờ một học trò cũ của ông giới thiệu. Tuấn vượt qua vòng phỏng vấn, bắt đầu hành trình ở Đại học Thanh Hoa từ tháng 9/2025.
Tuấn cho rằng làm việc tại Thanh Hoa là cơ hội để phát triển nghiên cứu trong môi trường mũi nhọn mà vẫn có thể hợp tác với nhiều học giả trong nước. Trước mắt, anh dự định cùng nghiên cứu về hình học vi phân với hai nhà toán học hàng đầu là GS. TSKH Phạm Hoàng Hiệp và PGS. TS Đỗ Hoàng Sơn.
Với sinh viên, nhà nghiên cứu trẻ muốn làm việc trong môi trường như Đại học Thanh Hoa, Tuấn tin rằng bí quyết là “hãy tiếp tục trẻ”, tức theo đuổi công việc với nhiệt huyết và đam mê.
“Nhưng cũng không nên tạo áp lực phải vào bằng được những trường top đầu. Điều quan trọng hơn là duy trì sự hứng thú, tinh thần học hỏi và phát triển bản thân một cách bền vững”, Tuấn nói.
Theo đó, người ta nói đến chuyên môn giỏi, tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng với công nghệ và tinh thần hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy và tiếp xúc với sinh viên, tôi nhận ra một yếu tố rất quan trọng nhưng đôi khi chưa được nhìn nhận đúng mức: năng lực ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh.
Với tư cách là một giảng viên ngôn ngữ Anh, tôi từng gặp không ít trường hợp khiến mình vừa tiếc nuối vừa trăn trở. Có những sinh viên học rất tốt chuyên ngành, tư duy logic rõ ràng, thái độ làm việc nghiêm túc. Thế nhưng khi bước vào môi trường nghề nghiệp có yếu tố quốc tế, họ lại gặp rào cản lớn chỉ vì không đủ khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ.
Một lần, một cựu sinh viên tìm gặp tôi sau khi tốt nghiệp vài năm. Em làm trong lĩnh vực kỹ thuật và được công ty cử tham gia một dự án có đối tác nước ngoài. Tuy nhiên, vì khả năng tiếng Anh hạn chế nên em chỉ có thể đảm nhận những phần việc nhỏ, không được trực tiếp trao đổi chuyên môn với đối tác. "Thầy biết không, nhiều lúc em hiểu vấn đề chuyên môn nhưng không đủ tự tin để nói", em chia sẻ.
Câu chuyện ấy không phải là cá biệt. Tôi từng chứng kiến nhiều người có năng lực chuyên môn rất tốt nhưng đánh mất những cơ hội phát triển chỉ vì thiếu ngoại ngữ. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hiện nay, điều đó càng trở nên đáng tiếc.
Thực tế cho thấy tri thức ngày nay không còn bị giới hạn trong phạm vi quốc gia. Hầu hết các tài liệu khoa học, công nghệ, kinh tế hay quản trị hiện đại đều được công bố bằng tiếng Anh. Nếu không có khả năng đọc hiểu ngoại ngữ, người học sẽ bị hạn chế trong việc tiếp cận những nguồn tri thức mới nhất của thế giới.
Điều này đặc biệt rõ trong môi trường đại học. Một sinh viên chỉ đọc giáo trình tiếng Việt có thể vẫn hoàn thành chương trình học.
Nhưng một sinh viên có khả năng đọc thêm tài liệu quốc tế sẽ có tầm nhìn rộng hơn rất nhiều. Các em có thể cập nhật nghiên cứu mới, so sánh các quan điểm học thuật và hiểu được xu hướng phát triển của ngành nghề. Ngoại ngữ vì thế không chỉ là công cụ giao tiếp, mà còn là chìa khóa mở ra tri thức.
Vai trò của ngoại ngữ ở góc độ nghề nghiệp lại càng rõ ràng hơn. Nhiều doanh nghiệp hiện nay hợp tác với đối tác quốc tế, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu hoặc sử dụng công nghệ chuyển giao từ nước ngoài. Trong môi trường ấy, khả năng làm việc bằng ngoại ngữ trở thành một lợi thế lớn.
Một kỹ sư có thể rất giỏi chuyên môn, nhưng nếu không thể trao đổi trực tiếp với chuyên gia nước ngoài thì việc tiếp cận công nghệ mới sẽ gặp nhiều khó khăn. Một nhà nghiên cứu nếu không đọc được các công trình quốc tế sẽ khó bắt kịp nhịp phát triển của lĩnh vực mình theo đuổi.
Một doanh nhân nếu không giao tiếp được với đối tác quốc tế cũng sẽ bị hạn chế trong việc mở rộng thị trường… Từ đây, có thể thấy ngoại ngữ không chỉ là một kỹ năng bổ trợ, mà là một phần của năng lực chuyên môn trong thời đại toàn cầu hóa.
Tuy vậy, trong quá trình giảng dạy, tôi cũng nhận thấy nhiều sinh viên vẫn xem việc học ngoại ngữ như một nghĩa vụ bắt buộc để vượt qua kỳ thi. Các em học để lấy chứng chỉ, để đủ điều kiện tốt nghiệp, nhưng chưa thật sự xem ngoại ngữ là công cụ cho tương lai nghề nghiệp của mình. Đây là một điều đáng suy nghĩ.
Việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao không thể chỉ dừng ở việc đào tạo kiến thức chuyên ngành. Một người lao động trong thời đại mới cần có khả năng học hỏi liên tục, làm việc trong môi trường đa văn hóa và thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thế giới. Ngoại ngữ chính là chiếc cầu nối giúp họ thực hiện những điều đó.
Tất nhiên, việc học ngoại ngữ không phải là điều dễ dàng. Quá trình rèn luyện, cải thiện đòi hỏi sự kiên trì, thời gian và phương pháp phù hợp.
Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là nhận thức. Khi người học hiểu rằng ngoại ngữ là công cụ để mở rộng cơ hội nghề nghiệp và phát triển bản thân, họ sẽ có động lực học tập bền bỉ hơn.
Tôi nghĩ các trường đại học cũng cần nhìn nhận ngoại ngữ như một phần quan trọng trong chương trình đào tạo.
Việc dạy ngoại ngữ không nên chỉ tập trung vào ngữ pháp hay thi cử, mà cần hướng đến khả năng sử dụng thực tế: đọc tài liệu chuyên ngành, thuyết trình, trao đổi học thuật và làm việc trong môi trường quốc tế.
Bên cạnh đó, sinh viên cũng cần được khuyến khích tiếp xúc nhiều hơn với môi trường sử dụng ngoại ngữ. Các hoạt động học thuật, hội thảo quốc tế, chương trình trao đổi sinh viên hay những dự án hợp tác với đối tác nước ngoài đều là cơ hội quý để người học rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ trong bối cảnh thực tế.
Trong một thế giới ngày càng kết nối, khoảng cách giữa các quốc gia không còn nằm ở địa lý, mà nằm ở khả năng giao tiếp và hợp tác. Một người có chuyên môn giỏi nhưng thiếu ngoại ngữ giống như người có chìa khóa nhưng không mở được cánh cửa.
Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao vì vậy không chỉ là đào tạo những người giỏi nghề, mà còn là đào tạo những con người có khả năng bước ra thế giới. Và trong hành trình ấy, ngoại ngữ chính là một trong những hành trang quan trọng nhất.
Suốt hai năm nay, trừ những kỳ nghỉ lễ kéo dài như Tết Nguyên đán, tháng nào trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cũng xét và cấp bằng cho ít nhất 16 sinh viên, nhiều nhất hơn 2.300 em.
"Nếu chỉ 1-2 sinh viên có nhu cầu, nhà trường vẫn tổ chức", PGS. TS Nguyễn Văn Thụ, Trưởng phòng Đào tạo, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, nói.
Cách làm này thuộc diện hiếm, bởi các trường đại học thường có 1-4 đợt xét tốt nghiệp mỗi năm, phổ biến là hai đợt.
Ông Thụ cho biết lý do là lịch tuyển dụng của các cơ quan khác nhau. Cụ thể là ngành Sư phạm, mỗi tỉnh, thành hay trường học có lịch riêng theo nhu cầu chứ không cố định.
"Việc cấp bằng tốt nghiệp kịp thời giúp sinh viên có thể nộp hồ sơ tuyển dụng ngay", ông Thụ đánh giá. Bên cạnh đó, sinh viên có nguyện vọng học lên thạc sĩ, tiến sĩ cũng kịp thời tham gia xét tuyển.
Nguyễn Phúc Sơn, giáo viên tại Tây Ninh, tốt nghiệp xuất sắc ngành Sư phạm Tiếng Anh, năm ngoái, cho biết nộp hồ sơ xét tốt nghiệp vào tháng 9 thì đến tháng 10 nhận được chứng nhận tốt nghiệp tạm thời. Một tháng sau, Sơn có bằng chính thức.
Nếu đợi nhận bằng vào lễ tốt nghiệp, nam sinh có thể phải chờ thêm 7 tháng nữa, sang tháng 6 của năm sau. Nhờ sự linh hoạt trong xét và cấp bằng tốt nghiệp của trường, Sơn thuận lợi rải đơn xin việc.
Theo ông Thụ, dù thuận lợi nhưng cách làm trên khiến thầy cô vất vả hơn khi phải "gánh" thêm nhiều việc. Mỗi tháng, trường đều phải thành lập hội đồng xét tốt nghiệp để rà soát các điều kiện, xét các chuẩn đầu ra...
"Các dữ liệu phải cập nhật liên tục, đảm bảo chính xác tuyệt đối, kịp tiến độ xét tốt nghiệp hàng tháng", ông Thụ nói.
Động lực của trường là những phản hồi tích cực từ phụ huynh và sinh viên. Ông Thụ kể có phụ huynh đến trường để cảm ơn, ôm chầm lấy hiệu trưởng khi gặp ở sân trường. Có người mẹ mắc bệnh hiểm nghèo, mong mỏi được nhìn thấy bằng tốt nghiệp đại học của con trước khi mất.
"Việc nhận bằng kịp thời giúp sinh viên thực hiện được mong muốn, phụ huynh rất cảm động", ông chia sẻ.
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 là một trong các trường đào tạo giáo viên chủ chốt của cả nước. Ngoài khối ngành này, trường có một số ngành ngôn ngữ, kỹ thuật, công nghệ thông tin, mỗi năm khoảng 1.000-3.000 sinh viên tốt nghiệp.
Cụ thể, 17 địa phương tổ chức thi lớp 10 công lập vào cuối tháng 5, trong khoảng từ 25 đến 31/5 hoặc 1/6. Nhóm tổ chức thi tháng 6 gồm 9 tỉnh, thành, đều vào đầu hoặc cuối tháng để tránh lịch thi tốt nghiệp THPT (11-12/6). Còn lại cho biết sẽ hoàn tất tuyển sinh trước 31/7.
Với môn thứ ba, duy nhất Tuyên Quang chọn môn Khoa học Tự nhiên. Ông Vũ Đình Hưng, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, nhìn nhận với kiến thức tích hợp giữa Vật lý, Hóa học và Sinh học, môn Khoa học tự nhiên giúp đánh giá toàn diện tư duy khoa học, khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh. Qua đó, kỳ thi lớp 10 không chỉ phục vụ tuyển sinh, mà còn góp phần định hướng lựa chọn môn học, định hướng nghề nghiệp cho các em.
33 địa phương còn lại chọn Ngoại ngữ, cho biết nó phù hợp với định hướng đưa Tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, góp phẩn đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế.
Lịch thi và môn thứ ba thi lớp 10 của 34 tỉnh, thành như sau:
TT
Tỉnh, thành
Lịch thi
Môn thứ ba
1
An Giang
Cuối tháng 5
Tiếng Anh
2
Bắc Ninh
26-28/5
3
Cao Bằng
Trước 31/7
4
Đồng Nai
28-29/5
5
Đồng Tháp
Trước 31/7
6
Điện Biên
-
7
Gia Lai
27-28/6
8
Hà Tĩnh
6-7/6
9
Hưng Yên
25-26/5
10
Lai Châu
25-26/5
11
Khánh Hòa
28-29/5
12
Lạng Sơn
26-28/5
13
Phú Thọ
1-3/6
14
Quảng Trị
26-27/5
15
Quảng Ngãi
30/5-1/6
16
Sơn La
Tháng 6
17
Tây Ninh
2-3/6
18
Thái Nguyên
26-28/5
19
Thanh Hóa
Tháng 7
20
Cần Thơ
Trước 31/7
Ngoại ngữ
21
Đà Nẵng
23-25/5
22
Đăk Lăk
Trước 15/7 (chủ yếu xét tuyển)
23
Hà Nội
30/5-1/6
24
Hải Phòng
2-4/6
25
Lào Cai
27-29/5
26
Nghệ An
25-26/5
27
Ninh Bình
23-25/5
28
Quảng Ninh
3-5/7
29
TP HCM
1-2/6
30
TP Huế
27-29/5
31
Tuyên Quang
27-28/5
Khoa học tự nhiên
32
Cà Mau
26-28/6
THPT chuyên: Văn, Toán, Tiếng Anh + môn chuyên
Còn lại: Xét tuyển
33
Lâm Đồng
1-3/7
34
Vĩnh Long
2-3/7
Theo quy chế tuyển sinh lớp 10 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ năm 2025, các địa phương có thể chọn thi tuyển, xét tuyển vào lớp 10 hoặc kết hợp. Nếu thi tuyển, kỳ thi gồm Toán, Văn và môn thứ 3 (hoặc bài thi tổ hợp).
Môn này do địa phương chọn từ nhóm: Ngoại ngữ, Giáo dục công dân, Khoa học Tự nhiên, Lịch sử và Địa lý, Công nghệ, Tin học, nhưng không được lấy một môn quá ba năm liên tiếp, công bố trước 31/3.