Theo thông báo của Ban Quản lý dự án Thăng Long (Bộ Xây dựng), roadshow (khảo sát thị trường và thu thập phản hồi) gói thầu tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi (bao gồm thiết kế FEED) dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam được tổ chức vào ngày 15-5, tại trụ sở Bộ Xây dựng.
Với vai trò chủ đầu tư lập báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam, Ban Quản lý dự án Thăng Long mời các đơn vị tư vấn có năng lực và quan tâm tham gia chương trình để trao đổi các thông tin liên quan gói thầu TV02: tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam.
Ban Quản lý dự án Thăng Long cho biết mục đích tổ chức chương trình roadshow là nhằm tiến hành khảo sát thị trường đối với các hãng tư vấn có năng lực, kinh nghiệm thực hiện dự án đường sắt tốc độ cao trên thế giới. Qua đó xác định được sự quan tâm và năng lực của các hãng tư vấn đối với dự án.
Tháng 11-2024, Quốc hội đã thông qua chủ trương đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam với xây dựng tuyến đường sắt đôi khổ 1.435mm, dài khoảng 1.541km từ Hà Nội – TP.HCM.
Tuyến đường sắt này có tốc độ thiết kế 350km/h, tải trọng 22,5 tấn/trục; gồm 23 ga hành khách, 5 ga hàng hóa; chủ yếu vận chuyển hành khách, đồng thời đáp ứng yêu cầu lưỡng dụng về quốc phòng, an ninh và có thể vận chuyển hàng hóa khi cần thiết. Sơ bộ tổng mức đầu tư hơn 1,713 triệu tỉ đồng (tương đương 67,34 tỉ USD).
Hiện dự án đang ở giai đoạn lập báo cáo nghiên cứu khả thi nhằm làm rõ hơn các nội dung về công nghệ, quy mô, hướng tuyến, tổng mức đầu tư, phương án phân chia dự án thành các dự án thành phần.
Trong bước này có thiết kế kỹ thuật tổng thể (Front – End Engineering Design – FEED) là bước thiết kế được lập theo thông lệ quốc tế đối với dự án có thiết kế công nghệ sau khi dự án đầu tư xây dựng được phê duyệt.
Thiết kế FEED là để cụ thể hóa các yêu cầu về dây chuyền công nghệ, thông số kỹ thuật của các thiết bị, vật liệu sử dụng chủ yếu, giải pháp xây dựng phục vụ lập hồ sơ lựa chọn nhà thầu theo hợp đồng EPC hoặc theo yêu cầu đặc thù để triển khai bước thiết kế tiếp theo.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

"Bệnh viện Việt Nam không thể phát triển bằng tư duy cũ; không thể quản trị bằng cách làm cũ; không thể phục vụ người bệnh trong thời đại số bằng những quy trình chậm chạp, manh mún và thiếu liên thông. Nếu lãnh đạo không quyết tâm, chuyển đổi số sẽ chỉ nằm trên giấy", PGS-TS Đào Xuân Cơ, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, chia sẻ tại hội nghị CLB Giám đốc bệnh viện các tỉnh phía bắc năm 2026 với chủ đề "Bệnh viện thông minh - lãnh đạo tiên phong", tổ chức ngày 23.5, tại Lào Cai.
Ông Cơ cho rằng, làm giám đốc bệnh viện hôm nay không dễ, trước áp lực lớn về chuyên môn, tài chính và hàng loạt các áp lực về bảo hiểm y tế, đấu thầu, mua sắm, đầu tư công, pháp lý, truyền thông, nhân lực, khiếu nại, an toàn người bệnh... Nhưng càng áp lực, càng phải minh bạch. Càng nhiều quy định, càng phải hiểu luật, làm đúng luật, vận dụng đúng luật.
Ông Cơ cũng nêu loạt vấn đề nóng nhất của bệnh viện công hiện nay: triển khai bệnh án điện tử thực chất, không phải làm để đối phó, dữ liệu bệnh viện phải trở thành công cụ điều hành hằng ngày, giảm thời gian chờ đợi cho người bệnh, mua sắm, đầu tư công đúng luật, nhanh hơn, hiệu quả hơn, không để thiếu thuốc, thiếu vật tư, thiếu thiết bị.
Tài chính y tế phải đảm bảo xây dựng giá dịch vụ y tế đúng, đủ, công khai, minh bạch, phù hợp với thực tiễn vận hành bệnh viện.
Cùng với đó, phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí không chỉ bằng lời nói, mà bằng quy trình, bằng dữ liệu, bằng kiểm soát nội bộ, bằng công khai minh bạch và bằng văn hóa liêm chính.
Theo ông Cơ, mỗi bệnh viện phải rà soát lại toàn bộ hệ thống quản trị bệnh viện, từ chuyên môn, tài chính, đấu thầu, bảo hiểm y tế, chất lượng, an toàn người bệnh. Xây dựng lộ trình chuyển đổi số thực chất, lấy bệnh án điện tử, dữ liệu sạch, quy trình liên thông và điều hành theo thời gian thực làm nền tảng.
Chuyển đổi số không phải để trình diễn. Chuyển đổi số là để giảm phiền hà cho người bệnh, giảm áp lực cho nhân viên y tế, tăng minh bạch cho bệnh viện và nâng cao chất lượng quản trị. Nếu chuyển đổi số mà người bệnh vẫn phải xếp hàng lâu, vẫn phải đi lại nhiều lần, vẫn không biết quy trình ra sao, vẫn không được giải thích đầy đủ, thì chuyển đổi số ấy chưa đạt.
Nếu bác sĩ, điều dưỡng vẫn bị quá tải, dữ liệu nhập đi nhập lại, phần mềm không liên thông, quy trình không giảm được áp lực, thì bệnh viện ấy chưa thật sự thông minh.
Tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan yêu cầu, các bệnh viện và toàn ngành phải kết nối được dữ liệu, đảm bảo khối thống nhất về dữ liệu; liên thông trên hệ thống, là cơ sở quản lý, quản trị minh bạch về trang thiết bị, thuốc; minh bạch để phòng chống tham nhũng, phòng chống lạm dụng và giúp cắt giảm chi phí. Hiện, Bộ Y tế bị Chính phủ phê bình nhiều về việc chưa có dữ liệu đúng, đủ, sạch, sống.
Bà Lan chỉ đạo, tất cả kết quả khám bệnh định kỳ cho người dân cần được liên thông với sơ sức khỏe điện tử. Hiện, có khoảng 40 triệu người đã có tài khoản sổ sức khỏe điện tử.
Tin Gốc: Thanh Niên

Sáng 30/6, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Báo Dân trí trân trọng giới thiệu Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại hội nghị.
Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lãnh đạo các cấp ủy đảng, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương,
Thưa toàn thể các đồng chí đảng viên, cán bộ lão thành, nhân dân cả nước và cộng đồng doanh nghiệp tham dự Hội nghị,
Chúng ta đã nghe đồng chí Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ giới thiệu những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 10 và các ý kiến tham luận. Tôi đánh giá cao sự chuẩn bị công phu của các cơ quan trong quá trình xây dựng Nghị quyết; ghi nhận những ý kiến tâm huyết, trách nhiệm tại Hội nghị hôm nay và sự quan tâm theo dõi Hội nghị của đông đảo cán bộ, đảng viên, cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư và Nhân dân.
Nghị quyết số 10 ngày 8/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được Bộ Chính trị ban hành trên cơ sở tổng kết gần 40 năm thực hiện chủ trương mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng. Đây là nghị quyết thể hiện sự thay đổi trong tư duy phát triển, không còn thuần túy mở cửa đón nhận dòng vốn mà đã chủ động lựa chọn và sử dụng nguồn lực quốc tế để tạo dựng năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tôi lắng nghe ý kiến góp ý của các địa phương, các ngành và các bạn quốc tế, càng nhận thấy rõ, vốn rất quan trọng, nhưng không phải chỉ có vốn mà rất cần công nghệ nước ngoài, điều này cũng đã được thể hiện trong nội dung Nghị quyết.
Từ Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, qua nhiều lần sửa đổi, hợp nhất và hoàn thiện Luật đầu tư, Việt Nam từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, mở rộng hội nhập, xây dựng môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng, minh bạch và ổn định hơn. Quá trình đó đã đưa Việt Nam từ một nền kinh tế khép kín, thiếu vốn và phụ thuộc nhiều vào viện trợ quốc tế trở thành nền kinh tế có độ mở cao, hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới. Từ chỗ thương mại quốc tế chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ vào cuối những năm 1980, đến nay Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất và thương mại toàn cầu (tổng kim ngạch xuất nhập khẩu chiếm hơn 180% GDP, trong đó FDI chiếm khoảng 75%). Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng, xuất khẩu, công nghiệp hóa, tạo việc làm, tiếp nhận công nghệ và phương thức quản trị hiện đại.
Ngày nay, Việt Nam đã ở một vị thế khác. Chúng ta không còn đặt câu hỏi làm thế nào để có thêm vốn nước ngoài nữa, thay vào đó chúng ta phải trả lời câu hỏi hóc búa hơn: làm thế nào sử dụng hiệu quả nguồn lực nước ngoài để nâng cao nội lực, năng lực công nghệ, sức cạnh tranh và tự chủ của nền kinh tế.
Chúng ta cần nhìn thẳng vào những hạn chế trong hoạt động thu hút FDI:
- Tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu phát triển và đào tạo nhân lực chất lượng cao chưa đạt như kỳ vọng.
- Nhiều dự án đầu tư nước ngoài vẫn chủ yếu gia công, lắp ráp, sử dụng nhiều đất đai, lao động phổ thông, năng lượng giá rẻ, tiêu chuẩn môi trường thấp, hoặc dựa nhiều vào ưu đãi, chưa tạo được năng lực mới cho nền kinh tế.
- Một số địa phương còn cạnh tranh thu hút đầu tư theo số lượng dự án, dựa trên ưu đãi đất đai, thuế, phí mà chưa chú trọng hiệu quả sử dụng đất, tiết kiệm năng lượng, đóng góp ngân sách, chuyển giao công nghệ, phát triển doanh nghiệp trong nước và bảo đảm môi trường, an ninh kinh tế. Nhiều khu vực vẫn còn là vùng trũng trong thu hút đầu tư nước ngoài (như Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, miền núi phía Bắc).
Để khắc phục những hạn chế này, Nghị quyết 10 đặt ra những mục tiêu và yêu cầu cao hơn nhiều: phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải gắn với nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, năng lực sản xuất, công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Đến năm 2030: Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và khả năng tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao. Đồng thời, đặt ra nhiều chỉ tiêu cụ thể khác.
Để đạt được những mục tiêu cao này đòi hỏi chúng ta phải nhận thức sâu sắc toàn bộ nội dung Nghị quyết để hành động quyết liệt hơn, nhanh hơn và thực chất hơn trong tư duy về đầu tư nước ngoài. Đó là:
- Phải chủ động tiếp cận, lựa chọn, dẫn dắt và sử dụng hiệu quả các dòng vốn quốc tế để bồi đắp năng lực quốc gia.
- Phải tính toàn hiệu quả thu hút bằng năng suất và chất lượng của vốn, trình độ công nghệ sử dụng, số việc làm chất lượng cao, đào tạo kỹ sư, nhà quản trị Việt Nam, kết nối doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng, tạo thêm giá trị gia tăng, tham gia các hoạt động đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.
- Chúng ta không chỉ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính mà phải tổ chức theo liên kết cụm ngành, chuỗi giá trị, hệ sinh thái công nghiệp, đổi mới sáng tạo và không gian liên vùng.
- Chúng ta không cạnh tranh bằng cách hạ thấp tiêu chuẩn hay đánh đổi môi trường, tài nguyên, an sinh và an ninh kinh tế lấy tăng trưởng trước mắt mà phải cạnh tranh bằng chất lượng thể chế, hạ tầng hiện đại, nhân lực chất lượng cao, chi phí tuân thủ thấp, dịch vụ công chuyên nghiệp và môi trường kinh doanh ổn định, có thể dự báo.
- Một điều cần phải lưu ý là triển khai Nghị quyết 10 gắn chặt với Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược của Bộ chính trị, nhất là Nghị quyết số 68 về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79 về phát triển kinh tế nhà nước. Mục tiêu của thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn hiện nay là phải biến các nguồn lực đó thành năng lực của nền kinh tế Việt Nam. Muốn vậy, doanh nghiệp tư nhân trong nước phải có điều kiện tham gia, học hỏi và từng bước vươn lên trong chuỗi giá trị. Kinh tế nhà nước phải đầu tư và dẫn dắt ở những lĩnh vực nền tảng, chiến lược, tạo hạ tầng và dư địa phát triển cho các khu vực khác. Cả 3 khu vực kinh tế trên không phát triển rời rạc mà phải hợp tác và cùng cộng hưởng trong một chiến lược chung.
Chính sách thuế tối thiểu toàn cầu (GMT) không còn cho phép các nước hào phóng với ưu đãi thuế nữa, nhất là khi chúng ta muốn thu hút các tập đoàn đa quốc gia toàn cầu. Một số nước trong khu vực ASEAN đẩy mạnh thu hút dự án về bán dẫn, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, điện tử, năng lượng sạch, tài chính quốc tế và đang rất thành công như Singapore, Indonesia, Malaysia, Thái Lan.
Việt Nam cần đầu tư thật tốt cho hạ tầng, năng lượng sạch, nâng cấp chất lượng thể chế, kiến tạo độ tin cậy của chính sách, đào tạo kỹ năng lao động, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, phát triển thị trường vốn, cải thiện chất lượng hệ sinh thái nhà cung ứng, v.v…
Trên tinh thần đó, tôi đề nghị các cấp, các ngành, các địa phương tập trung quán triệt và tổ chức thực hiện tốt 08 nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, phải thống nhất nhận thức, đổi mới mạnh mẽ tư duy về đầu tư nước ngoài. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng hợp tác, cạnh tranh lành mạnh và phát triển với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế hợp tác. Chúng ta tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư có năng lực, công nghệ, trách nhiệm và cam kết lâu dài đầu tư, kinh doanh thành công tại Việt Nam. Đồng thời, phải sàng lọc chặt chẽ, không tiếp nhận các dự án công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng, sử dụng đất kém hiệu quả, có nguy cơ gây ô nhiễm, chuyển giá, trốn thuế, lẩn tránh xuất xứ hoặc gây rủi ro đối với quốc phòng, an ninh, dữ liệu và hạ tầng trọng yếu.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế theo hướng ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo và phù hợp với thông lệ quốc tế. Các bộ, ngành phải rà soát, đồng bộ hóa các quy định liên quan đến đầu tư, kinh doanh và thị trường. Kiên quyết xử lý tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thủ tục rườm rà và cách hiểu không thống nhất giữa các cơ quan, địa phương. Không để nhà đầu tư phải đi qua quá nhiều cửa, mất quá nhiều thời gian và chi phí để triển khai một dự án hợp pháp. Các cơ quan nhà nước phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại và phục vụ doanh nghiệp. Không chỉ giải quyết thủ tục nhanh hơn, mà phải giúp nhà đầu tư dự báo được chính sách, nhìn rõ triển vọng và yên tâm đầu tư dài hạn.
Thứ ba, bỏ tư duy ưu đãi đầu vào, thay bằng hỗ trợ dựa trên kết quả đầu ra, gắn với mức độ thực hiện cam kết. Những dự án có công nghệ tiên tiến, đầu tư nghiên cứu phát triển, đóng góp cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đào tạo lao động Việt Nam, sử dụng nhà cung ứng trong nước, chuyển giao công nghệ, tiết kiệm đất đai, năng lượng và giảm phát thải phải được hỗ trợ tương xứng. Ngược lại, dự án chậm triển khai, sử dụng đất lãng phí, gây ô nhiễm, chuyển giá, vi phạm pháp luật hoặc không thực hiện đúng cam kết phải bị xử lý nghiêm. Tùy theo mức độ vi phạm, nếu cần thiết thì thu hồi ưu đãi, thu hồi đất hoặc chấm dứt dự án.
Thứ tư, phát triển mạnh hệ sinh thái công nghiệp trong nước và liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam. Đây là nhiệm vụ trung tâm của Nghị quyết. Các bộ, ngành, địa phương không chỉ mời gọi các tập đoàn nước ngoài mà phải đồng thời nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam để trở thành nhà cung ứng của họ. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà cung ứng, tăng cường kết nối FDI với doanh nghiệp trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp quản trị, tiêu chuẩn kỹ thuật, năng lực tài chính, truy xuất nguồn gốc, sở hữu trí tuệ và chuyển đổi số. Doanh nghiệp FDI cần công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, lộ trình nội địa hóa và cơ hội hợp tác. Các tập đoàn lớn đầu tư tại Việt Nam phải đồng hành phát triển công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nhà cung ứng, chia sẻ tiêu chuẩn, chuyển giao tri thức và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện quyết định. Không có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia, kỹ thuật viên và nhà quản trị giỏi thì không thể thu hút, giữ chân các dự án công nghệ cao, cũng không thể chuyển từ gia công, lắp ráp sang thiết kế, nghiên cứu, sản xuất sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Các địa phương có Khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao phải chủ động liên kết với các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và doanh nghiệp để đào tạo theo nhu cầu của ngành, cụm liên kết và các dự án chiến lược. Phải tạo điều kiện để người Việt Nam từng bước đảm nhận các vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế và vận hành chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp FDI.
Thứ sáu, đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng chiến lược và hạ tầng phục vụ nền kinh tế mới. Muốn thu hút các dự án lớn, công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, trung tâm nghiên cứu, trung tâm tài chính, khu thương mại tự do hay nhà máy hiện đại, phải có điện ổn định, năng lượng sạch, cảng biển, sân bay, đường cao tốc, đường sắt, hạ tầng số, khu công nghiệp sinh thái và môi trường sống tốt cho chuyên gia, người lao động. Phải coi hạ tầng là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia. Các địa phương không thể tiếp tục phát triển Khu công nghiệp manh mún, dàn trải, thiếu kết nối, thiếu nhà ở công nhân, dịch vụ xã hội, đào tạo nghề, thiếu liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Thứ bảy, đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư. Không tiếp cận tràn lan mà gặp gỡ có mục tiêu, chuẩn bị kỹ làm việc với từng tập đoàn hoặc một nhóm tập đoàn, quỹ đầu tư, đối tác chiến lược. (Xác định rõ đối tác cần mời, ngành cần thu hút, địa điểm dự án và các điều kiện cần chuẩn bị về đất đai, điện, hạ tầng, nhân lực, chính sách và nhà cung ứng). Phải đồng hành với nhà đầu tư từ khi tìm hiểu đến triển khai, vận hành và mở rộng. Hỗ trợ sau cấp phép, tháo gỡ vướng mắc cho dự án hiện hữu, tạo điều kiện, khuyến khích để nhà đầu tư mở rộng đầu tư, giữ lại lợi nhuận tái đầu tư thay vì chuyển về nước.
Cần cơ cấu lại và nâng cao năng lực cơ quan xúc tiến đầu tư ở cả Trung ương và địa phương.
Thứ tám, phát triển thị trường vốn hiện đại để thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp dài hạn, ổn định và có trách nhiệm. Nghị quyết 10 không chỉ đặt vấn đề về FDI mà còn yêu cầu phát triển thị trường vốn, nâng hạng thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư, trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do. Việt Nam không chỉ là nơi đặt nhà máy mà phải trở thành nơi huy động, phân bổ vốn và cung cấp các dịch vụ tài chính, công nghệ, đổi mới sáng tạo cho khu vực. Quá trình này phải gắn với an ninh tài chính, an toàn hệ thống, minh bạch thông tin, bảo vệ nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro về dòng vốn, rửa tiền, đầu cơ, thao túng thị trường.
Thưa các đồng chí và các bạn,
Nghị quyết 10 chỉ đi vào cuộc sống khi được tổ chức thực hiện quyết liệt, thực chất, lấy kết quả làm thước đo. Mỗi bộ, ngành phải có chương trình hành động cụ thể, rõ việc, rõ thời hạn, rõ trách nhiệm. Mỗi địa phương phải xây dựng chiến lược thu hút đầu tư phù hợp với quy hoạch, lợi thế, điều kiện phát triển và khả năng liên kết vùng. Không thể để địa phương nào cũng chạy theo cùng một loại dự án, nơi nào cũng muốn làm cảng biển, sân bay, trung tâm dữ liệu hay khu công nghệ cao mà không dựa trên quy hoạch, nguồn lực, hạ tầng và lợi thế so sánh.
Phải quy hoạch tổng thể, phải phân công, phân cấp rõ ràng, gắn với điều phối hiệu quả. Trung ương định hướng chiến lược, hoàn thiện thể chế, điều phối liên vùng, sàng lọc dự án lớn và giám sát thực hiện. Địa phương phải chủ động, sáng tạo, nhưng không được cạnh tranh bằng cách phá vỡ quy hoạch, hạ thấp tiêu chuẩn hoặc đánh đổi lợi ích lâu dài. Cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo từng ngành, địa phương; Cần chú trọng thống kê dự án đầu tư nước ngoài về: trình độ công nghệ, giá trị gia tăng, liên kết với doanh nghiệp nội địa, tình trạng sử dụng đất, đóng góp ngân sách, đào tạo nhân lực, môi trường, v.v… Việc đánh giá cán bộ, cơ quan, địa phương trong thu hút đầu tư cũng phải dựa trên các tiêu chí đó.
Thưa các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam,
Cảm ơn các bạn đã chọn Việt Nam chúng tôi là quê hương thứ hai, đã sống và làm việc tại Việt Nam, đã đầu tư tại Việt Nam. Các bạn đã hưởng ứng rất tích cực Nghị quyết 10 của chúng tôi mặc dù nghị quyết này mới ban hành ngày 8/6/2026, đến nay mới được 22 ngày và chính thức triển khai ngày hôm nay. Tôi nghe những phát biểu và đặc biệt là cũng còn rất nhiều các nhà đầu tư khác chưa phát biểu ở đây. Nhưng tôi đã cảm nhận được Nghị quyết này cũng đã đáp ứng được các nhu cầu, cũng như giải quyết được một số những kiến nghị của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hiện nay. Cảm ơn các bạn về những đề xuất rất thực tế để triển khai. Tôi đề nghị Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên, Bộ Khoa học và Công nghệ và các địa phương có chương trình để phối hợp, triển khai nghiên cứu những đề xuất, kiến nghị của các nhà đầu tư nước ngoài. Chúng tôi rất hoan nghênh các bạn tiếp tục đầu tư tại Việt Nam, hợp tác cùng phát triển, lợi ích cùng chia sẻ hài hòa. Chúng tôi đảm bảo môi trường thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh, làm việc và sống an toàn, thành công nhất ở Việt Nam.
Thưa các đồng chí và các bạn,
Chúng ta bước vào giai đoạn phát triển thế hệ mới với một tâm thế mới. Việt Nam không thu hút đầu tư bằng mọi giá mà phải là quốc gia có chiến lược, có lựa chọn, có năng lực sàng lọc và đồng hành với các nhà đầu tư tốt để cùng tạo ra giá trị mới. Chúng ta hoan nghênh các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam làm ăn lâu dài, tuân thủ pháp luật, tôn trọng lợi ích chính đáng của người lao động, cộng đồng và đất nước, cùng chia sẻ công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển doanh nghiệp trong nước và nâng cao vị thế Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Tinh thần của Nghị quyết 10 rất rõ: thu hút đầu tư nước ngoài không phải để thay thế nội lực mà để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ; không chỉ để tăng trưởng nhanh mà để phát triển bền vững, bao trùm và có chất lượng cao.
Tôi đề nghị toàn hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong, ngoài nước phát huy cao nhất tinh thần trách nhiệm, đổi mới, sáng tạo, quyết tâm đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống, biến chủ trương đúng đắn thành những dự án tốt, doanh nghiệp mạnh, chuỗi giá trị mới, việc làm chất lượng cao và năng lực mới cho đất nước.
Đó là cách thiết thực nhất để tiếp tục viết nên một chương mới của công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển; đưa Việt Nam tiến nhanh, tiến vững chắc trên con đường trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tin Gốc: Dân Trí
Thời Sự
Việt Nam ngoại giao năng lượng không ngừng để giảm tác động của xung đột Trung Đông

Trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông chưa có dấu hiệu kết thúc, những nỗ lực của Việt Nam nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đã dần được thông tin với báo chí tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao chiều 2-4.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng cho biết trước tình hình gia tăng căng thẳng tại khu vực Trung Đông, các cơ quan, bộ ngành liên quan trong đó có Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam tại nước ngoài nhận thức rất rõ trách nhiệm, đã và đang chủ động, khẩn trương, quyết liệt thực hiện các chỉ đạo sát sao của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo Đảng và Nhà nước để giảm thiểu các tác động của cuộc xung đột đến Việt Nam.
Bộ Ngoại giao cùng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các bộ ngành liên quan đã theo dõi, đánh giá, dự báo tình hình một cách thường xuyên, kịp thời và có nhiều báo cáo đánh giá tình hình, tham mưu biện pháp để không bị động, bất ngờ và kịp thời ứng phó, triển khai ngay khi xung đột xảy ra.
Đồng thời, chỉ đạo các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam tại nước ngoài theo dõi sát tình hình và triển khai các nhiệm vụ trong bối cảnh tình hình liên tục căng thẳng.
Đến nay tất cả các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam tại địa bàn xung đột đều bám trụ địa bàn, thường xuyên cung cấp thông tin và thực hiện các nhiệm vụ theo thẩm quyền, đặc biệt trong đó có công tác bảo hộ công dân.
Trong phạm vi, chức năng của mình, Bộ Ngoại giao đã chủ động, thường xuyên cập nhật thông tin về diễn biến, tình hình, điều chỉnh chính sách của các nước để kịp thời kiến nghị Chính phủ có các giải pháp ứng phó trong điều hành kinh tế vĩ mô, điều hành về năng lượng.
Bộ Ngoại giao cũng phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính, Bộ Công Thương và các bộ ngành liên quan trao đổi với các đối tác để tăng cường quan hệ hợp tác thương mại, đầu tư; phối hợp hỗ trợ lẫn nhau ứng phó với tình hình hiện nay.
Việt Nam đã triển khai các hoạt động ngoại giao năng lượng cấp cao cũng như các cấp. Bộ Ngoại giao cũng đã yêu cầu các cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài chủ động làm việc với các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp sở tại, doanh nghiệp nước ngoài để đóng góp cho nỗ lực này.
Trong thời gian tới, Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ ngành, cơ quan liên quan trong thực hiện nhiệm vụ trên.

