Nhà tôi nằm trong hẻm, mỗi lần mưa lớn là nước tạt thẳng vào cửa, rất bất tiện. Tôi đang tính làm một mái che nhỏ, dự định nhô ra khoảng 1 m để giảm mưa tạt vào nhà.
Tôi thấy nhiều nhà xung quanh cũng có mái che, thậm chí che kín cả chiều rộng con hẻm. Tuy nhiên, tôi băn khoăn rằng làm mái che trên khoảng không như vậy có bị xem là lấn chiếm không gian công cộng không?
Tin Gốc: Vnexpress

"Ngày còn trẻ, chị tôi làm Phó giám đốc cho một công ty TNHH gia công giày dép xuất khẩu. Công việc áp lực, vất vả nhưng chị chưa từng nghĩ cho bản thân. Phần lớn tiền lương chị đều dồn hết cho hai con ăn học ở những trường đại học top đầu, với mong muốn chúng có tương lai tốt hơn mẹ.
Suốt mấy chục năm, chị tằn tiện từng đồng, hy sinh tuổi xuân, sức khỏe và cả những nhu cầu nhỏ bé nhất của bản thân để nuôi con trưởng thành. Rồi các con cũng ra trường, lập nghiệp, lập gia đình riêng.
Một đứa ở Hà Nội, một đứa ở Đà Nẵng. Cuộc sống cơm áo, nhà cửa, con cái khiến chúng bị cuốn vào vòng xoáy mưu sinh, thỉnh thoảng mới có thể về thăm mẹ.
Còn chị, sau cả một đời cống hiến, giờ sống bằng đồng lương hưu chỉ hơn 3,5 triệu đồng mỗi tháng. Thời đi làm, công ty tồn tại hai hệ thống lương: lương thực lĩnh và lương đóng bảo hiểm xã hội. Mức đóng bảo hiểm thấp hơn rất nhiều nên khi về già, lương hưu cũng thấp đến xót xa.
Ngoài 70 tuổi, sức khỏe chị ngày càng yếu. Tiền thuốc men, sinh hoạt nhiều khi vượt quá khả năng chi trả. Có những tháng chị phải dè sẻn từng bữa ăn để dành tiền mua thuốc.
Các con không phải không thương mẹ, nhưng chúng cũng đang gồng mình trả góp nhà, nuôi con ăn học, vật lộn với cuộc sống nơi thành phố lớn nên gần như không còn khả năng hỗ trợ.
Bi kịch nhất không phải là nghèo khó, mà là sau cả một đời hy sinh cho gia đình, tuổi già của chị lại lặng lẽ, thiếu thốn và cô đơn đến vậy".
Độc giả nickname GT kể lại câu chuyện như trên, về hoàn cảnh của người chị từng có công việc và thu nhập ổn định nhưng về già lại "lặng lẽ, thiếu thốn và cô đơn sau cả một đời hy sinh cho gia đình".
Bình luận này được viết sau bài Già rồi, ai nuôi mình?. Trong bài viết này, tác giả khắc họa chân dung nhiều người già bằng câu hỏi: "Tôi sẽ sống bằng gì trong hơn 20 năm cuối đời, khi sức khỏe đã yếu đi và khả năng lao động không còn như trước?".
Độc giả nickname anonym.onl22 nêu quan điểm: "Với những người còn trẻ, chỉ sinh con đủ nuôi, để dành khoản tiết kiệm phòng thân khi về già. Con cái sau này rồi cũng lớn, lập gia đình riêng, con ruột có thể sống khổ để lo cho mình, nhưng dâu rể không làm vậy được trừ khi mình có tài sản để chúng nó thừa kế.
Phụ thuộc con cái còn có thể làm cho vợ chồng con mâu thuẫn về chuyện chu cấp bên nội bên ngoại công bằng. Tốt nhất vẫn nên tính đường cho mình khi về già để hạn chế làm phiền con cháu, đặc biệt là vấn đề tiền bạc".
Độc giả nickname Hang15 nói: "Già thì tự lo chứ chờ ai lo. Con (nếu có) cũng bận rộn với gia đình nhỏ của con, bận đưa đón chăm sóc cháu. Vậy nên xác định là chủ động dành dụm mà tự lo cho tuổi già của mình.
Nhà tôi có ba anh chị em. Một người trong Nam, hai người sống cùng thành phố nhưng ở riêng, còn lại bố mẹ lủi thủi với nhau. Hai người ở cùng thành phố cũng bận rộn đi làm, lâu lâu mới qua thăm bố mẹ được một lần. Người ở trong Nam thì cả năm về được một lần".
Người Việt có niềm tin tự nhiên rằng về già sẽ có con cháu chăm sóc. Nhưng xã hội đã thay đổi. Con cái đi làm xa, du học hoặc thậm chí định cư nước ngoài. Mô hình gia đình nhiều thế hệ sống cùng nhau đang dần thu hẹp, trong khi tuổi thọ của người Việt lại tăng lên đáng kể. Nghĩa là thời gian sống sau tuổi nghỉ hưu ngày càng dài hơn và chi phí để duy trì một cuộc sống tương đối ổn định cho giai đoạn này cũng lớn hơn nhiều so với trước.
"Chưa giàu đã già, chưa già đã tái nghèo", là nỗi lo của độc giả nickname buso co:
"Cá nhân tích lũy không đủ, con cháu chưa biết sau này có đủ ăn hay không, các công ty càng không có trách nhiệm phải trả nhiều tiền bảo hiểm xã hội cho bạn, đất nước hiện tại không giàu để bao cấp, trợ cấp xã hội, thế này thì trông cậy vào đâu?
Một đồng nghiệp người Đan Mạch nói với tôi rằng họ phải đóng thuế rất cao, nhưng họ chấp nhận điều đó khi họ hiểu rằng cái quỹ chung của xã hội được sử dụng để lo cho chính họ khi về già, ốm yếu, tai nạn, thất nghiệp và trợ cấp giáo dục, y tế cho con cháu họ khi chúng còn nhỏ.
Vấn đề là các quỹ đó phải được sử dụng minh bạch và hợp lý".
Bài toán không chỉ dừng lại ở khía cạnh tài chính, độc giả nickname hungntfx cho rằng: "Còn là việc xã hội có dành nguồn lực sản xuất vào việc chăm sóc người già hay không, và việc đó có cân bằng được với những nhu cầu khác của xã hội hay không.
Không có khoản lương hưu nào có thể đủ để cho người ta dưỡng già nếu như thiếu người chăm sóc, thiếu nhu yếu phẩm, hay giá nhà đất xây viện dưỡng lão tăng cao".
Độc giả Tuan Nguyen chỉ ra một trong những lối thoát cho tuổi già cô đơn:
"Mô hình chăm sóc tuổi già dựa trên kế hoạch tiền bạc sẽ rất khó như bài viết đã phân tích: an toàn thì mất giá, sinh lời thì rủi ro. Những mô hình dựa trên kết nối cộng đồng như Trung Quốc hay các nước Châu Âu đã làm thì thực tế hơn: người già chăm sóc lẫn nhau, hay người khỏe chăm sóc người yếu để đổi lấy 'tín dụng thời gian', sau này được chăm sóc lại.
Ngoài ra sự tiến bộ của robot hình người và AI cũng là tia sáng cho thế hệ già tương lai".
Trong khi đó, độc giả Vu cho rằng những khoản đầu tư cho tương lai tuổi già - vấn đề là ở niềm tin:
"Sức hút cho những khoản đầu tư tương lai nằm ở niềm tin. Cơ sở xác nhận của niềm tin đó được biểu hiện thông qua những hoạt động hiện tại.
Khi các tổ chức tài chính hiện tại như bảo hiểm vẫn chưa thực sự hoạt động hiệu quả, vẫn còn gây nhiều tranh cãi thì các tổ chức khác rất khó để thuyết phục người tham gia.
Chưa kể tính ổn định của chính sách đối với những khoản đầu tư dài hạn như vậy. Ngay cả khi bỏ tiền trực tiếp, nhiều viện dưỡng lão cũng khiến người già chưa cảm thấy yên tâm.
Thời đại đã thay đổi. Người già ở Việt Nam đúng là đã bắt đầu cảm nhận được sự cô đơn, ngay cả khi có điều kiện ở trong ngôi biệt thự sang trọng của mình cùng con cháu. Con đi làm, cháu đi học, không ai rảnh rỗi, những bữa cơm thất thường.
Cần tăng cường các biện pháp hỗ trợ xã hội, nhưng các tổ chức hoạt động trước hết phải dựa trên những tiêu chuẩn, tiêu chí về lương tâm, trách nhiệm rõ ràng, nhất quán.
Viện dưỡng lão, nhà kết nối cộng đồng thôn - phố... là những hình thức tổ chức quan trọng nhất, trực tiếp chăm sóc sức khỏe thân - tâm của các cụ, nếu được khai thác hiệu quả, ngay từ bây giờ.
Nếu được, các hoạt động bảo hiểm tài chính nên kết hợp, gắn liền với các tổ chức này để duy trì sức sống bền vững".
Tin Gốc: Vnexpress

Khi còn đi học phổ thông, tôi gặp rất nhiều khó khăn với môn Vật Lý. Mọi chuyện bắt đầu với quy tắc bàn tay phải, khi tôi thấy thầy vẽ hình lên bảng để giảng mà chẳng hiểu gì.
Để tiếp tục minh họa, thầy lại lấy cái hình mở nút chai rượu vang ra giảng. Tới lúc này thì tôi thật sự là muốn phát khóc, bởi vì tôi có thấy cái chai rượu vang bao giờ.
Khi quả lắc, lò xo, chuyển động thẳng đều, gia tốc, dòng điện xoay chiều, tiêu cự, thấu kính, bước sóng đi vào đời tôi thì tôi đã khổ lại càng khó. Xin nói thẳng luôn là tôi giỏi Toán, ít nhất thì theo lời cô giáo dạy Toán thì tôi "chỉ thua các bạn học sinh giỏi toàn quốc môn Toán".
Nhưng Vật lý, dù được biểu trưng bằng các phương trình toán học, vẫn ám ảnh tôi suốt mấy năm cấp ba.
Mọi sự chỉ khá lên một chút khi tôi nghe nói về một cô giáo được xem là rất giỏi Vật lý đã mở lớp dạy thêm. Tôi theo học thì quả nhiên là bắt đầu hiểu được chút đỉnh, nhưng vẫn khổ sở vô cùng. Tới mức năm thi tốt nghiệp lớp 12, tôi thi sáu môn Toán, Lý, Hóa, Sinh, Tiếng Anh và Ngữ văn mà tôi phải dành gần một nửa thời gian để ôn môn Vật lý, thật khủng khiếp.
Sau này thì tôi vào đại học ngành kỹ sư Hóa. Lúc thi vào tôi cứ đinh ninh là mình sẽ học nhiều về Hóa học, nhưng sau khi đi du học thì tôi mới biết là ngành kỹ sư hóa chủ yếu là thiết kế máy móc cho các quá trình sản xuất Hóa học.
Tức là, tôi được học rất nhiều về Vật lý. Nhiệt động học, thủy động học, cơ học là các ngành khoa học cơ bản của kỹ sư hóa, tới mức ngành học của tôi được dịch ra là ngành "kỹ sư cơ khí hóa học".
Vậy mà những cơn ác mộng về Vật lý lại không trở về với tôi. Sau năm nhất, tôi về Việt Nam thăm thầy dạy Vật lý ngày trước. Thầy hỏi tôi em học mấy môn nhiệt học, thủy động học thế nào, hồi trước thầy thấy em dở môn Lý lắm mà.
Tôi nhún vai khoe rằng tôi được điểm HD, cao nhất trong thang điểm ở Australia. Thầy chỉ lắc đầu khó tin, còn tôi thì hậm hực nghĩ rằng thầy hồi trước dạy dở quá nên em mới te tua ấy chứ.
Thật ra thì thầy tôi dạy không dở. Chỉ là ở Australia thì chúng tôi học mô men lực xong rồi phải thiết kế mô hình cầu bằng giấy, tự lấy giấy làm ra rồi giáo sư đặt mô hình xe chạy qua coi có sập không.
Học điện thì phải vào phòng lab tự hàn các mối hàn điện tử, nối các bộ phận lại rồi bật công tắc, nếu làm đúng thì đèn cắm trên bảng hàn mới sáng. Học về dòng xoáy của chất lỏng thì chúng tôi phải xem mô hình chân vịt quay trong nước, xem quá trình đẩy khí vào bột để biến thành chất lỏng...
Nói tóm lại là học đi đôi với hành, nên mới hiểu nổi là mình đang học cái gì.
Ở Việt Nam, các môn khoa học tự nhiên dường như vẫn được dạy như cũ, càng lúc càng nâng cao tầm kiến thức và vẫn chẳng có một chút thực hành. Các em học sinh vẫn khổ sở với các phương trình điện xoay chiều, phản ứng oxy hóa khử trong khi cha mẹ các em thì cãi nhau xem học mấy cái đó làm gì, khi học xong rồi lại vứt vào thùng rác.
Việc học rồi lại "vứt vào thùng rác" là có thật. Các bạn có thể đi tìm hiểu những người đã tốt nghiệp đại học các ngành công nghiệp nặng ở Việt Nam xem họ đang làm cái gì. Ngay cả những người "làm đúng ngành" như kỹ sư điện làm cho ngành điện lực, thì cái mà họ làm thường là lắp đặt và sửa chữa máy móc. Hầu như chẳng có kỹ sư nào thiết kế được vật gì từ không thành có (from scratch).
Các bản thiết kế để sản xuất hầu như được làm ở nước ngoài, đưa về tới Việt Nam thì chỉ còn công đoạn lắp đặt rồi đưa vào khai thác. Các kỹ sư nhiều lắm thì chỉ biết sửa chửa chút đỉnh khi có vấn đề, vì vậy mấy chục năm rồi mà mối tâm tình với Toán Lý Hóa của những người là kỹ sư cũng vẫn cứ như vậy thôi.
Các em học sinh cần phải biết rằng, xà bông được tạo ra từ một phản ứng giữa chất béo và kiềm, và bản chất của xà bông là một loại muối, và tốt nhất là các em ấy được đi "nấu xà bông" để hiểu được.
Còn bán dẫn thì nguyên tắc vật lý nền tảng là dòng điện tạo ra do các lổ hổng trên vật liệu (như silicon, germanium) hoạt động như các positron. Chừng nào các em chưa được nhìn thấy silicon hay germanium thì cha mẹ của các em sẽ vẫn còn bài trừ từ Toán học, Vật lý tới Hóa học.
Nhưng hễ con em của họ không vào đựơc cấp ba, không được học những thứ "vứt đi đó", thì họ lại kêu khóc khắp nơi, đăng đàn than thở, kêu gọi xây thêm trường, tự hỏi tương lai các em sẽ đi về đâu...
Tin Gốc: Vnexpress

Khi tôi đi câu cá biển về và tổ chức nướng mọi, không nêm nếm bất cứ thứ gì, mời đứa em qua nhà, trong sân vườn chúng tôi vừa nướng cá vừa ăn. Mùi cá biển tươi trên than hồng bốc lên, đứa em bảo sao ngon quá. Một cảm giác tươi ngon như nghe mùi gió biển đâu đây.
Nhưng khi ăn, đứa em này lại chê nhạt nhẽo. Lẽ ra trước khi nướng phải ướp gia vị và cần làm một bát nước chấm thật đậm đà.
Chuyện này làm tôi thắc mắc rằng phải chăng nhiều người đã bị hỏng khẩu vị vì ngày thường ăn phải những món ăn nêm nếm đậm đà, sử dụng gia vị một cách vô tội vạ?
Các món ăn của gia đình tôi khi nấu chỉ cho thêm một chút muối, ngoài ra không nêm nếm những gia vị nào khác.
Trên thực tế, từ tô phở cho tới nấu ăn bếp nhà, nhiều người nấu ăn cứ phải nêm nếm cho thật đậm đà... Nhưng chính cái thói quen nêm nếm vô tội vạ ấy lại đang âm thầm làm hỏng khẩu vị và cả cách chúng ta cảm nhận món ăn.
Chúng ta vẫn thường nhầm lẫn giữa ngon và đậm. Một món ăn nhiều gia vị chưa chắc đã ngon, nhưng một món ăn giữ được vị tự nhiên thì gần như chắc chắn là dễ ăn.
Con cá tươi nướng chỉ cần chút muối vẫn khiến người ta xuýt xoa. Bát canh rau đơn giản, nếu nguyên liệu đủ tốt, khi húp một thìa nước canh thấy vị khoan khoái, người cũng nhẹ nhõm.
Nhưng trong nhịp sống hiện đại, nhiều người dường như không còn đủ kiên nhẫn để cảm nhận những điều đơn giản ấy. Gia vị trở thành lối tắt cho vị giác. Thiếu một chút mặn thì thêm nước mắm, thêm muối, thiếu ngọt thì cho đường, chưa đã miệng thì thêm bột nêm, mì chính..
Và cứ thế, món ăn dần bị phủ kín bởi các lớp vị nhân tạo, đến mức không còn nhận ra nguyên liệu ban đầu có vị gì.
Đáng nói hơn, việc nêm nếm quá tay không chỉ dừng lại ở thói quen cá nhân, mà còn tạo ra một vòng lặp khẩu vị. Ăn mặn quen thì sẽ thấy nhạt là dở. Ăn nhiều gia vị quen thì món tự nhiên lại bị cho là thiếu hấp dẫn.
Một hệ quả khác ít được nhắc đến là sự lãng phí. Như câu chuyện những chén nước mắm pha đầy ắp, thêm đủ thứ tỏi, ớt, sa tế... nhưng chỉ chấm vài lần rồi bỏ lại. Hay những bát phở bị vắt quá nhiều chanh, chan quá nhiều tương, để rồi chính người ăn cũng không thể ăn hết. Đó không chỉ là lãng phí vật chất, mà còn là sự thiếu tôn trọng công sức của người nấu.
Nấu ăn không phải là cuộc thi xem ai cho nhiều gia vị hơn, mà là cách để tôn trọng nguyên liệu và giữ gìn khẩu vị tự nhiên. Ăn uống cũng không chỉ để no hay đã miệng, mà còn là cách rèn luyện sự tiết chế.
Dương
Nguồn: https://vnexpress.net/vi-sao-ca-bien-nuong-moi-bi-nhieu-nguoi-che-nhat-nheo-5059978.html

