Tôi làm ngân hàng ở Hà Nội đã gần 10 năm, lương 20 triệu một tháng. Nhiều người bên ngoài nhìn vào thường nghĩ đây là công việc có mức thu nhập cao, đáng mơ ước. Nhưng càng làm lâu, tôi càng thấy mệt mỏi vì áp lực chỉ tiêu và thời gian cá nhân gần như không còn thuộc về mình nữa. Một ngày làm việc của tôi bắt đầu từ 8h sáng, và khó có thể rời văn phòng trước 19h, thậm chí 20h.
Ngân hàng tôi không chỉ quản lý theo đầu việc, mà còn quản lý luôn cả thời gian hiện diện của nhân viên. Trớ trêu là hết giờ ở văn phòng chưa có nghĩa là tôi kết thúc công việc. Nhiều hôm, tôi vẫn phải mang laptop về nhà để làm tiếp báo cáo, rà soát số liệu, trả lời email, xử lý hồ sơ online tới tận khuya.
Chỉ người trong cuộc mới hiểu cảm giác đang ăn cơm tối vẫn phải mở điện thoại trả lời tin nhắn công việc liên tục. Một bữa cơm trọn vẹn với gia đình gần như là điều xa xỉ vì chồng con không thể đợi tới lúc tôi về nhà để cùng ăn. Có hôm cuối tuần, sếp gọi điện giao việc gấp, yêu cầu hoàn thành ngay trong ngày. Tôi đang đưa con đi chơi cũng phải vội vàng quay xe về nhà mở máy tính.
Có bữa, tôi nhận được tin nhắn yêu cầu hoàn thiện một đầu việc bắt buộc phải thao tác trên hệ thống nội bộ ở cơ quan. Chồng lại đi công tác, nên tôi đành gửi con cho bà ngoại rồi lóc cóc chạy xe máy tới ngân hàng cuối tuần. Những chuyện ấy dường như đã trở thành bình thường trong ngành này.
>> Kiệt sức vì 7 giờ tối vẫn phải ở lại văn phòng ‘chạy deadline’
Ngoài khối lượng công việc hàng ngày, nhân viên ngân hàng còn phải liên tục tham gia các buổi đào tạo, tập huấn, cập nhật quy trình mới. Điều đáng nói là nhiều chương trình được tổ chức vào ngoài giờ như một điều hiển nhiên. Người ta mặc định nhân viên sẽ sẵn sàng hy sinh thời gian nghỉ ngơi để phục vụ công việc.
Tôi không phủ nhận ngành nào cũng có áp lực riêng. Nhưng điều khiến tôi day dứt là ở nhiều nơi, ranh giới giữa công việc và đời sống cá nhân gần như không được tôn trọng. Khi một nhân viên luôn phải trong trạng thái sẵn sàng trả lời điện thoại, xử lý việc bất kể giờ giấc, thì “tan làm” chỉ còn là khái niệm trên giấy tờ.
Chồng tôi nhiều lần hỏi: “Sao em không nghỉ, tìm việc khác đỡ vất vả hơn?”. Tôi cũng từng nghĩ đến chuyện đó. Nhưng giữa thị trường lao động cạnh tranh ngày càng khốc liệt, giữ được công việc hiện tại đã khó, chứ chưa nói đến việc nhảy sang môi trường mới ở tuổi ngoài 30, còn con nhỏ, tôi còn khoản vay, còn áp lực cơm áo mỗi tháng.
Tôi viết những dòng này không phải để than vãn hay phủ nhận giá trị công việc mình đang làm. Tôi chỉ mong ở đâu đó, các doanh nghiệp, đặc biệt là những ngành có cường độ cao như ngân hàng, sẽ bắt đầu nhìn nhận nghiêm túc hơn về khái niệm cân bằng cuộc sống và sự tôn trọng thời gian cá nhân của nhân viên. Bởi sau cùng, nhân viên cũng là con người. Ai cũng cần được nghỉ ngơi, được sống cho gia đình, và được thực sự rời khỏi công việc sau khi đã hết giờ làm.
Nhân dịp TP HCM sắp miễn phí vé xe buýt toàn dân, câu chuyện giao thông công cộng lại được nhiều người bàn luận.
Tôi cũng xin góp thêm một cảm nhận riêng, về vấn đề này. Tôi cho rằng, điểm nghẽn của giao thông công cộng không chỉ nằm ở hạ tầng hay chất lượng dịch vụ, mà sâu xa hơn, nằm ở chính cách chúng ta tổ chức đời sống hằng ngày một lịch sinh hoạt quá ư là linh hoạt, thậm chí tùy hứng.
Như một người ở Thủ Đức, làm việc tại Bình Thạnh cũ, buổi sáng chưa kịp đến công ty đã nhận tin nhắn: "Qua quận 3 họp gấp" (chỗ công ty đối tác), hoặc buổi chiều tối phải đi dùng bữa với khách hàng, bàn chuyện hợp đồng...
Có những người buổi chiều phải đi đón con (vì hôm nay ông bà bận việc, không đón dùm được), tiện đường tạt siêu thị mua đồ (vì vợ về trễ không mua được). Nhiều người khác thì lịch trình sau giờ tan làm có thể kể đến như: ghé qua bệnh viện thăm đồng nghiệp ốm, đi dự sinh nhật, đi cà phê, đi nhậu...
Những điểm dừng này không nằm trên một tuyến cố định nào. Tất cả những điều đó, với xe máy, là bình thường. Nhưng với xe buýt một phương tiện vận hành theo tuyến, theo giờ lại trở thành bất tiện.
Vì thế, không khó hiểu khi nhiều người lấy trải nghiệm đi xe máy làm chuẩn, rồi áp lên xe buýt và kết luận: "Không phù hợp". Nhưng đó là một phép so sánh khập khiễng.
Xe buýt không sinh ra để phục vụ những hành trình ngẫu hứng. Nó phục vụ những nhu cầu ổn định, có kế hoạch: Đi làm, đi học, di chuyển theo trục cố định. Nếu mỗi chuyến đi đều mang theo hàng loạt biến số, thì không có hệ thống công cộng nào có thể đáp ứng trọn vẹn.
Tôi rất mong mỏi việc miễn phí vé xe buýt là một cú hích ban đầu để kéo người dân lại gần hơn với giao thông công cộng.
Bên cạnh đó, người đi làm có thể bắt đầu từ những thay đổi nhỏ: cố định khung giờ đi - về, hạn chế những cuộc hẹn phát sinh trong giờ cao điểm, gom các việc cá nhân vào một khung thời gian nhất định.
Thay vì tiện đâu ghé đó, có thể lên kế hoạch trước. Song song đó, thành phố cũng cần làm phần việc của mình. Mạng lưới tuyến phải đủ dày, đủ linh hoạt để người dân không phải đi bộ quá xa hay chờ đợi quá lâu.
Các điểm trung chuyển cần thuận tiện, an toàn. Thông tin về lộ trình, thời gian cần rõ ràng, dễ tiếp cận.
Chúng ta quen với sự linh hoạt của xe máy đến mức coi đó là tiêu chuẩn. Nhưng một thành phố lớn không thể vận hành hiệu quả nếu mọi hành trình đều phụ thuộc vào sự tùy hứng cá nhân.
Giao thông công cộng, về bản chất, đòi hỏi người tham gia một mức độ kỷ luật và kiên nhẫn nhất định.
Tôi đã rưng rưng khóc lúc nào không hay khi nhận ra rằng, con trai mình đang bị áp lực của kỳ thi vượt cấp cuốn theo. Ở trường thầy cô nói, nhấn mạnh tầm quan trọng, thậm chí giáo viên chủ nhiệm còn nhắc nhiều lần rằng: "Các con học 9 năm và kết thúc ngõ cửa vào lớp học chuyển cấp chỉ bằng một kỳ thi".
Tôi không đồng ý với cách nói này, nhưng đôi khi nhìn nhận vào thực tế thì đúng là thật. Tỷ lệ đỗ vào các trường cấp 3 công lập hiện nay chỉ vào khoảng 50%-60%, chưa kể nếu là địa bàn gần nhà thì tỷ lệ ở các quận/huyện trọng điểm chỉ còn lại là con số nhỏ hơn nhiều.
Con năm nay đang lớp 8, con hỏi tôi: "Nếu con không đỗ cấp 3 công lập thì con về quê học nghề à mẹ?". Tôi nói: "Ở quê làm gì có nghề gì mà học con".
Con có vẻ băn khoăn, thêm chút lo lắng, áp lực. Trong mỗi câu hỏi con đều nói khéo với tôi là "Mẹ cho con giả sử, con chỉ giả sử thôi nhé. Nếu mà con không đỗ trường công thì học trường tư thục như trường A, trường B thì tốn kém lắm đúng không mẹ?".
Tôi cũng khá bình tĩnh, nói với con là nhiệm vụ của con là nỗ lực học tập, thời gian để chuyển cấp không còn nhiều, chỉ còn hơn một năm học nữa thôi, duy trì phong độ ổn định, cố gắng từng chút một bằng mục tiêu và phương pháp nào đó để vượt lên chính mình, đến lúc thi cứ đúng năng lực mà thi.
Kết quả lúc thi dù có thế nào thì con cũng đã hết sức rồi. Con nghe xong cũng chỉ gật gù, có vẻ vẫn chưa được giải tỏa. Tôi bồi thêm: Thầy cô và bố mẹ có thể làm con áp lực hơi quá theo cách hiểu của con, nhưng con cứ nghĩ mà xem, mọi người là đang tìm giải pháp cùng con và chỉ có con mới điều chỉnh được.
Con cần tự tin, chia sẻ nhiều hơn khi con cần như những câu hỏi hôm nay. Giả sử, đúng theo cách nói của con, mẹ giả sử con đã học tập, rèn luyện để có phong độ ổn định tốt dần đều từ giờ đến hết năm học lớp 9.
Khi thi kỳ thi vượt cấp tính điểm cuối cùng để xét vào các trường công lập, không may vì một rủi ro nào đó mà con không đạt kỳ vọng, thì bố mẹ và thầy cô ghi nhận con cho cả một quá trình, chứ không phải kết quả của một kỳ thi.
Thực tế, tôi là phụ huynh ép con học hành, thậm chí có lần con viết tự sự liền ba trang giấy để nói rằng: con đã bị thúc giục liên tục, bị ép đến mức con phải giả tạo vâng dạ trả lời cho xong việc, là việc ba mẹ vẫn nói con điểm số thế nào còn tùy vào năng lực nhưng khi điểm thấp thì lại làm thái quá lên, là khi con băn khoăn rằng, nếu không đạt được kỳ vọng thì tính sao?
Và tôi cũng đã điều chỉnh nhiều hơn cách để định hướng, đồng hành, chia sẻ cùng con.
Tôi chỉ hy vọng, phổ cập cấp 3 nhanh chóng được thực hiện. Bởi một đứa trẻ hay chính phụ huynh đang mắc kẹt trong một kỳ thi để quyết định xem con có được theo tiếp hay không? Khi mà ở Việt Nam, học cấp 3 chưa phải là một tấm vé vào đời hướng nghiệp rõ ràng để thay thế bằng đi học nghề.
Năm 33 tuổi, vợ chồng tôi quyết định rời TP HCM sau nhiều năm cố bám trụ. Đó không phải là một lựa chọn dễ dàng, càng không phải vì chúng tôi chán cuộc sống thị thành. Nhưng tôi hiểu rằng có những giới hạn mà nỗ lực thôi là chưa đủ.
Hai vợ chồng tôi đều là nhân viên văn phòng, tổng thu nhập khoảng 30 triệu đồng mỗi tháng. Nghe qua, nhiều người nghĩ mức này không đến nỗi tệ. Chính chúng tôi trước đây cũng từng tin như vậy. Nhưng thực tế ở Sài Gòn đã dạy chúng tôi một bài học khác.
Tiền thuê nhà chiếm gần một phần ba thu nhập của chúng tôi. Một căn hộ nhỏ đủ cho bốn người sống đã ngốn khoảng 8-10 triệu đồng mỗi tháng. Chưa kể điện, nước, phí quản lý, gửi xe... mọi thứ cộng lại không hề nhỏ. Hai đứa con tôi còn nhỏ, tiền học thêm, sữa, sinh hoạt là những khoản không thể cắt giảm. Có tháng, chỉ riêng chi phí liên quan đến con đã hơn 10 triệu.
Chúng tôi từng thử "thắt lưng buộc bụng". Cắt bớt ăn ngoài, hạn chế mua sắm, gần như không có giải trí. Nhưng càng tiết kiệm, chúng tôi càng thấy cuộc sống trở nên ngột ngạt. Cuối tháng vẫn không dư được bao nhiêu, thậm chí có lúc phải rút tiền tiết kiệm để bù vào.
>> Vợ chồng một năm tiết kiệm 350 triệu đồng từ lương 40 triệu
Điều khiến tôi suy nghĩ nhiều nhất là cảm giác không có tương lai. Với mức thu nhập như vậy, việc mua nhà ở TP HCM gần như là điều không tưởng với chúng tôi. Giá nhà cứ tăng, còn thu nhập của chúng tôi thì gần như đứng yên. Hai vợ chồng tôi thậm chí không dám ốm, không dám thất nghiệp, vì chỉ cần một biến cố nhỏ là mọi thứ có thể sụp đổ.
Sau nhiều đêm bàn bạc, chúng tôi quyết định chuyển về Bình Dương sống và làm việc. Quyết định này đi kèm với không ít lo lắng: thay đổi môi trường sống, công việc, trường học của con. Nhưng đổi lại, chúng tôi có thể thuê một căn nhà rộng rãi hơn với chi phí thấp hơn gần một nửa. Cuộc sống vì thế cũng "dễ thở" hơn. Ở đây, chúng tôi vẫn phải làm việc cật lực, vẫn phải nuôi con, vẫn có những áp lực riêng, nhưng ít nhất không còn cảm giác bị chi phí đè nặng mỗi ngày.
Nhiều người trẻ hiện nay than rằng chi phí sống quá cao, lương không đủ chi tiêu, nói gì đến tiết kiệm. Tôi từng nghĩ đó là sự bi quan. Nhưng khi trải qua rồi, tôi thấy đó là thực tế. Không phải ai cũng có điều kiện để "trụ lại" ở một thành phố đắt đỏ như TP HCM. Chúng tôi không xem việc rời đi là thất bại. Ngược lại, đó là một cách thích nghi. Bởi suy cho cùng, mục tiêu không phải là sống ở đâu, mà là sống thế nào để gia đình không phải chật vật từng ngày.