Sáng nay 12.5, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 tiến hành khai mạc. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự và có bài phát biểu chỉ đạo.
Trước khi bắt đầu lễ khai mạc, các đại biểu xem phóng sự về kết quả công tác Mặt trận giai đoạn 2024 – 2026.
Sau phần văn nghệ, chào cờ và hát Quốc ca; tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu, đại hội tiến hành báo cáo kết quả ngày làm việc thứ nhất và Đoàn Chủ tịch Đại hội lên điều hành và Đoàn Thư ký lên làm việc.
Kế đó, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam sẽ có diễn văn khai mạc đại hội; đại biểu nghe trình bày Báo cáo chính trị của Đại hội.
Tại lễ khai mạc, đại hội sẽ nghe phát biểu của đại diện lãnh đạo Chính phủ, lãnh đạo Quốc hội, các đại biểu tham luận.
Dự kiến, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự và có bài phát biểu chỉ đạo.
Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 mở đầu cho nhiệm kỳ vận hành bộ máy sau khi hoàn thành chủ trương sắp xếp các tổ chức chính trị – xã hội và các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ về trực thuộc MTTQ Việt Nam.
Với phương châm “Đoàn kết – Dân chủ – Đổi mới – Sáng tạo – Phát triển”, đại hội xác định phương hướng, mục tiêu và chương trình hành động nhiệm kỳ 2026 – 2031 nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra.
Đồng thời, khẳng định vai trò nòng cốt chính trị của MTTQ Việt Nam trong xây dựng và phát huy truyền thống yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, chung sức, đồng lòng cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Shangri-La 23

CHỦ ĐỘNG KIẾN TẠO HÒA BÌNH - ỔN ĐỊNH - PHÁT TRIỂN TRONG MỘT THẾ GIỚI NHIỀU BIẾN ĐỘNG
Thưa Ngài Lawrence Wong, Thủ tướng nước chủ nhà Singapore,
Thưa Tiến sĩ Bastian Giegerich, Tổng giám đốc Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS),
Thưa quý vị và các bạn!
Trước hết, tôi trân trọng cảm ơn Chính phủ Singapore và Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế đã dành cho tôi vinh dự phát biểu tại phiên khai mạc của diễn đàn quan trọng này. Trong hơn hai thập kỷ qua, Đối thoại Shangri-La đã trở thành không gian đối thoại hàng đầu về an ninh khu vực, nơi các quốc gia cùng chia sẻ nhận định, lắng nghe nghiêm túc và tìm kiếm những cách tiếp cận có trách nhiệm cho hòa bình, ổn định và phát triển.
Chúng ta gặp nhau vào thời điểm thế giới đứng trước nhiều rủi ro, bất định: kết nối rộng hơn nhưng dễ tổn thương hơn; công nghệ tiến bộ hơn nhưng rủi ro lạm dụng lớn hơn; phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc hơn nhưng cũng dễ bị biến thành công cụ gây sức ép hơn. Trong khi các quốc gia đều nói về hòa bình, ổn định và hợp tác, môi trường chiến lược lại gia tăng nghi kỵ, phân mảnh và cạnh tranh thiếu kiểm soát. Vì vậy, điều chúng ta cần là thống nhất và triển khai một tầm nhìn chung, tối thiểu và thiết yếu, để bảo đảm hòa bình, lòng tin và phát triển cho nhân loại trong thế kỷ XXI. Đồng thời, nâng cao năng lực ngăn ngừa khủng hoảng từ sớm, từ xa; bởi thực tế cho thấy, nhiều khủng hoảng lớn thường bắt đầu từ những hiểu lầm không được hóa giải, những tín hiệu không được giải mã đúng và những cơ chế phòng ngừa không kích hoạt kịp thời.
Trên tinh thần ấy, tôi muốn chia sẻ chủ đề: Chủ động kiến tạo hòa bình - ổn định - phát triển trong một thế giới nhiều biến động.
Thưa quý vị,
Biến động là trạng thái thường trực của thế giới. Nhưng để biến động dẫn tới xung đột hay trở thành động lực tiến tới hòa bình lại là lựa chọn chiến lược của các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Khi nhìn vào thế giới hôm nay, tôi cho rằng những bất ổn hiện nay phản ánh ba cuộc khủng hoảng nền tảng đang diễn ra đồng thời và tác động lẫn nhau. Đó là: khủng hoảng trật tự quốc tế, khủng hoảng mô hình phát triển và khủng hoảng lòng tin chiến lược.
Trước hết là khủng hoảng trật tự quốc tế. Trật tự quốc tế không phải là điều bất biến. Một trật tự công bằng có thể điều chỉnh để phản ánh những thay đổi của thế giới. Nhưng mọi sự điều chỉnh cần diễn ra bằng luật lệ, đối thoại, chia sẻ và tự kiềm chế; không thể bằng cưỡng ép, áp đặt, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc tạo "sự đã rồi".
Khủng hoảng trật tự quốc tế bắt đầu khi luật lệ vẫn được nhắc đến, nhưng sức ràng buộc suy giảm; khi cam kết vẫn được tuyên bố, nhưng hành động thực tế lại làm xói mòn chính những cam kết ấy; khi nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế bị diễn giải theo hướng áp đặt chủ quan, được thực thi không nhất quán, hoặc bị đặt sau tư duy ưu tiên sử dụng sức mạnh, "cá lớn nuốt cá bé". Trong một môi trường như vậy, các quốc gia, nhất là các quốc gia vừa và nhỏ, phải đối mặt với sức ép chọn phe, sự cưỡng ép về kinh tế, công nghệ, tài chính và an ninh; đồng thời những không gian kết nối như biển và đại dương, không gian mạng, chuỗi cung ứng, hạ tầng số, tuyến cáp dữ liệu lại có nguy cơ trở thành không gian cạnh tranh. Những căng thẳng gần đây tại các tuyến hàng hải chiến lược ở Trung Đông cho thấy xung đột tại một điểm nóng có thể nhanh chóng tác động đến thương mại, năng lượng, logistics và đời sống kinh tế - xã hội của nhiều khu vực khác nhau trên phạm vi toàn cầu.
Hai là khủng hoảng mô hình phát triển. Trong nhiều thập kỷ, toàn cầu hóa, thương mại, đầu tư, công nghệ và kết nối chuỗi cung ứng đã tạo ra cơ hội phát triển to lớn cho nhiều quốc gia, trong đó có các nước đang phát triển. Nhưng cũng chính những động lực ấy đang đứng trước nhiều sức ép mới. Tăng trưởng chậm lại. Nợ công và chi phí vốn gia tăng. Biến đổi khí hậu đe dọa sinh kế của hàng trăm triệu người. Công nghệ mới mở ra cơ hội lớn nhưng cũng tạo ra khoảng cách mới. Thương mại, tài chính, thuế quan, năng lượng, lương thực, dữ liệu và công nghệ có nguy cơ bị sử dụng như công cụ gây sức ép.
Đối với rất nhiều quốc gia, phát triển không phải là lựa chọn thứ yếu đặt sau an ninh. Phát triển chính là nền tảng của an ninh bền vững. Nếu quá trình phát triển bị gián đoạn, nếu các nước đang phát triển bị thu hẹp cơ hội vươn lên, thì sự "tròng trành" về kinh tế rất dễ chuyển hóa thành bất ổn về xã hội, chính trị và thậm chí bất định về chiến lược.
Ba là khủng hoảng lòng tin chiến lược. Đây là cuộc khủng hoảng âm thầm nhưng nguy hiểm, vì nó khiến các quốc gia dễ nhìn hành động của nhau qua lăng kính nghi kỵ và bất an. Khi lòng tin suy giảm, một động thái phòng vệ có thể bị diễn giải thành khiêu khích, một khác biệt lợi ích có thể bị đẩy thành đối đầu, một sự cố nhỏ có thể kích hoạt vòng xoáy phản ứng nếu thiếu đối thoại, liên lạc và tự kiềm chế. Lòng tin chiến lược không phải là xóa bỏ khác biệt hay phủ nhận cạnh tranh. Điều cốt lõi là quản trị khác biệt trong khuôn khổ luật lệ, làm cho cạnh tranh có giới hạn, có trách nhiệm và có thể dự báo. Một trật tự khu vực bền vững không thể được xây dựng trên nỗi sợ thường trực và sự thiếu tin cậy lẫn nhau.
Công nghệ mới đang làm thách thức này phức tạp hơn. Dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, không gian mạng, công nghệ lượng tử, hệ thống tự động và hạ tầng số vừa mở rộng năng lực phát triển cao hơn, vừa có thể khuếch đại nghi kỵ, thao túng thông tin, rút ngắn thời gian ra quyết định và làm tăng nguy cơ tính toán sai lầm. Khi công nghệ vượt quá tốc độ của luật lệ và sự kiểm soát của con người, ổn định chiến lược trở nên mong manh hơn. Vì vậy, vượt qua khủng hoảng lòng tin đòi hỏi có một khung chiến lược để xây dựng lòng tin chiến lược, gồm kênh liên lạc nhanh khi có sự cố, minh bạch, đối thoại, chia sẻ thông tin thực chất để giảm hiểu lầm, quy tắc ứng xử rõ ràng để ngăn va chạm và chuẩn mực công nghệ đủ mạnh để bảo đảm con người luôn giữ trách nhiệm cuối cùng trong những quyết định có hệ quả an ninh nghiêm trọng.
Ba cuộc khủng hoảng nêu trên đang hội tụ rõ nét tại châu Á - Thái Bình Dương. Đây là trung tâm tăng trưởng năng động của thế giới, nhưng cũng là nơi cạnh tranh chiến lược gay gắt; là không gian của các tuyến hàng hải huyết mạch, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro trên biển; là khu vực hưởng lợi sâu từ toàn cầu hóa, nhưng đang chịu sức ép trực tiếp từ phân mảnh chuỗi cung ứng, biến đổi khí hậu, chuyển đổi công nghệ và cạnh tranh địa kinh tế mới. Chính vì là nơi hội tụ thách thức, châu Á - Thái Bình Dương cũng phải là nơi khởi phát lời giải.
Khu vực này có lợi ích chung trong hòa bình, kết nối và phát triển; có kinh nghiệm hợp tác đa tầng; có ASEAN như một cấu trúc đối thoại và cân bằng; có đủ động lực và quyết tâm không để cạnh tranh trượt thành đối đầu, không để các tuyến kết nối trở thành đường ranh chia cắt, không để an ninh của nước này thành bất an của nước khác.
Từ cách nhìn đó, tôi xin chia sẻ một số định hướng để cùng nhau kiến tạo một châu Á - Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, phát triển, tự cường và có năng lực giảm thiểu rủi ro từ sớm, từ xa.
Thứ nhất, phải làm cho luật lệ và đối thoại trở thành phương tiện hữu hiệu giảm thiểu rủi ro thực sự. Đối thoại Shangri-La là nơi các quốc gia lắng nghe nhau, làm rõ ý định, tìm kiếm điểm chung và kiểm soát khác biệt, nhưng đối thoại không nên dừng ở phát biểu lập trường.
Đối thoại phải giúp nhận diện sớm rủi ro, chia sẻ thông tin, duy trì kênh liên lạc khi căng thẳng và ngăn khác biệt trượt thành khủng hoảng. Trật tự dựa trên luật lệ cũng không thuộc về riêng một nhóm quốc gia nào, mà là nền tảng chung để các nước lớn, vừa và nhỏ cùng tồn tại hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hiệp Quốc, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và bình đẳng giữa các quốc gia.
Luật lệ chỉ có sức sống khi được thực thi nhất quán và chuyển hóa thành cơ chế cụ thể như cảnh báo sớm, liên lạc khẩn cấp, xử lý sự cố, tự kiềm chế và hợp tác có thể kiểm chứng.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với biển và đại dương. Biển và đại dương là tài nguyên, là không gian kết nối chung, là huyết mạch của thương mại, năng lượng, lương thực và chuỗi cung ứng toàn cầu. Không quốc gia nào được lợi nếu các tuyến kết nối ấy trở thành nơi phô diễn sức mạnh, cưỡng ép hoặc đối đầu.
Đối với Biển Đông, lập trường của Việt Nam là nhất quán, rõ ràng và có nguyên tắc. Việt Nam ủng hộ giải quyết mọi tranh chấp và bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982. Việt Nam tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các quốc gia khác; đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của mình theo luật pháp quốc tế.
Thứ hai, cần kiến tạo một cấu trúc khu vực mở, bao trùm và lấy ASEAN làm trung tâm. Trong bối cảnh nhiều cơ chế và sáng kiến mới xuất hiện, chúng ta cần xây dựng một cấu trúc có khả năng kết nối lợi ích, giảm nghi kỵ và bổ trợ cho các cơ chế hiện có.
Mọi sáng kiến đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển đều đáng được hoan nghênh, nếu minh bạch, tôn trọng luật pháp quốc tế, bổ trợ cho nhau và không làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN và không biến Đông Nam Á thành không gian đối đầu giữa các khối. Vai trò trung tâm của ASEAN không tự nhiên mà có và cũng không tự duy trì. ASEAN chỉ có thể giữ vai trò đó bằng đoàn kết, tự chủ chiến lược và năng lực kiến tạo chương trình nghị sự chung.
Bao trùm phải gắn với hiệu quả, đối thoại phải tạo ra hành động, đồng thuận phải giúp khu vực phản ứng kịp thời trước các vấn đề chung. Việt Nam ủng hộ và sẵn sàng hợp tác chặt chẽ với Philippines trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2026, cùng các nước thành viên củng cố hòa bình, an ninh, mở rộng các hành lang thịnh vượng, thúc đẩy kết nối, phát triển bao trùm, bền vững và đặt người dân ASEAN ở vị trí trung tâm.
Thứ ba, cần đặt an ninh con người và năng lực chống chịu xã hội vào trung tâm của an ninh bền vững. Bất ổn hôm nay không chỉ đến từ xung đột quân sự mà còn từ những đứt gãy trong đời sống phát triển. Vì vậy, củng cố quốc phòng là nhu cầu chính đáng, nhưng an ninh bền vững không thể chỉ dựa vào sức mạnh quân sự, càng không thể được xây bằng chạy đua vũ trang hoặc bằng cách làm gia tăng bất an phát triển cho nước khác. Điều chúng ta cần là một nền tảng phát triển có khả năng chống chịu cao trước các cú sốc, chuỗi cung ứng mở và đa dạng, kết nối hạ tầng thông suốt, hợp tác về tài chính, công nghệ và nhân lực; đồng thời thúc đẩy hợp tác thiết thực trong cứu trợ thảm họa, y tế, an ninh nguồn nước, lương thực, năng lượng, an ninh mạng, bảo vệ hạ tầng trọng yếu và tìm kiếm cứu nạn. Một khi hợp tác mang lại sự bảo đảm an toàn, sinh kế và nâng cao đời sống của người dân, lòng tin chiến lược sẽ được củng cố và bồi đắp.
Thứ tư, cần kiến tạo các chuẩn mực trách nhiệm đối với công nghệ mới và công nghiệp quốc phòng. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ lượng tử, hệ thống tự động, công nghệ không gian, an ninh mạng và chuỗi cung ứng công nghệ cao đang định hình lại an ninh quốc tế. Những công nghệ này có thể mở rộng năng lực phát triển, dự báo rủi ro và quản trị, nhưng cũng có thể bị lạm dụng để tấn công mạng, thao túng thông tin, tự động hóa xung đột, giám sát bất hợp pháp hoặc tạo ra các hình thức cưỡng ép mới. Trong quốc phòng - an ninh, câu hỏi hệ trọng không phải là công nghệ mạnh đến đâu mà là con người có thể kiểm soát được công nghệ ấy đến mức nào. Vì vậy, chúng ta cần thúc đẩy đối thoại về AI trong quốc phòng - an ninh, bảo đảm trách nhiệm cuối cùng của con người trong các quyết định có hệ quả nghiêm trọng, quy tắc ứng xử trên không gian mạng, bảo vệ cáp biển, hạ tầng dữ liệu trọng yếu, minh bạch đối với các công nghệ tác động đến ổn định chiến lược. Công nghiệp quốc phòng cần phục vụ phòng vệ chính đáng và ổn định khu vực, không trở thành động lực cho chạy đua vũ trang.
Thứ năm, cần củng cố nền tảng xã hội và khả năng chống chịu; bảo vệ không gian thông tin và nâng cao nhận thức. Trong thế giới kết nối số sâu rộng, bất ổn không chỉ đến từ xung đột quân sự, đứt gãy chuỗi cung ứng hay tấn công mạng, mà còn có thể bắt đầu từ sự xói mòn niềm tin trong xã hội. Tin giả, thao túng thông tin, kích động cực đoan, phân cực xã hội và các chiến dịch gây ảnh hưởng có chủ đích có thể làm suy yếu đồng thuận quốc gia, làm méo mó nhận thức công chúng, khoét sâu chia rẽ và khiến khủng hoảng lan nhanh hơn. Vì vậy, bảo vệ hòa bình trong thời đại mới cũng đòi hỏi phải bảo vệ sự thật, củng cố niềm tin xã hội, nâng cao năng lực truyền thông chiến lược, giáo dục công dân số, thúc đẩy trách nhiệm của các nền tảng công nghệ và hợp tác quốc tế trong chống thông tin sai lệch. Một xã hội có khả năng phân biệt đúng sai, giữ được đồng thuận trước biến động và không bị dẫn dắt bởi sợ hãi, thù hận hay thao túng sẽ là nền tảng quan trọng của an ninh bền vững.
Thứ sáu, cần nâng cao năng lực ngoại giao phòng ngừa, hòa giải và trung gian trong khu vực. Nhiều cuộc khủng hoảng không bùng phát chỉ vì khác biệt lợi ích mà vì các bên thiếu kênh trao đổi đáng tin cậy, thiếu không gian để xuống thang và thiếu cơ chế giúp chuyển đối đầu trở lại đối thoại. Vì vậy, châu Á - Thái Bình Dương cần coi ngoại giao phòng ngừa là một năng lực chiến lược, không phải là biện pháp tình thế sau khi khủng hoảng đã xảy ra. Chúng ta cần nhiều hơn các kênh tham vấn khác nhau, các cơ chế trung gian linh hoạt, các nhóm tiếp xúc khi có sự cố, các diễn đàn bán chính thức và những sáng kiến xây dựng lòng tin giữa quân đội, an ninh, lực lượng thực thi pháp luật, học giả, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Mục tiêu là tạo ra những "lối thoát ngoại giao" trước khi các bên bị cuốn vào vòng xoáy leo thang dẫn đến nguy cơ xung đột.
Với các đối tác có ảnh hưởng lớn trong và ngoài khu vực, Việt Nam mong muốn gửi một thông điệp chân thành: châu Á - Thái Bình Dương là không gian mở, mọi quốc gia có lợi ích chính đáng đều có thể đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển. Khu vực hoan nghênh sự hiện diện minh bạch, có trách nhiệm, tôn trọng luật pháp quốc tế, ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN và góp phần giảm căng thẳng. Điều khu vực mong muốn không phải là sự hiện diện hay vắng mặt thuần túy của bất kỳ nước lớn nào, mà là một cam kết có trách nhiệm. Chúng tôi nhìn nhận cạnh tranh là tất yếu, nhưng cạnh tranh phải được đặt trong giới hạn của luật pháp, minh bạch và tự kiềm chế.
Ba cuộc khủng hoảng của thế giới hôm nay không phải là điều tất yếu mà chúng ta buộc phải chấp nhận. Điều quan trọng là phải nhìn thẳng vào khủng hoảng, nhưng không để khủng hoảng che khuất cơ hội hành động. Khủng hoảng trật tự quốc tế cho thấy luật pháp quốc tế và sự tự kiềm chế cần được củng cố. Khủng hoảng mô hình phát triển cho thấy cần làm mới các động lực tăng trưởng theo hướng bao trùm, bền vững và lấy con người làm trung tâm. Khủng hoảng lòng tin chiến lược đòi hỏi đối thoại, minh bạch, trách nhiệm và những cơ chế hợp tác thực chất hơn.
Những câu trả lời ấy sẽ không tự hình thành. Chúng chỉ có thể trở thành hiện thực nếu các quốc gia cùng nhau duy trì và kiến tạo luật lệ, kết nối lợi ích, củng cố lòng tin và xây dựng các cơ chế giảm thiểu rủi ro có hiệu lực trong thực tế. Trong một thế giới nhiều biến động, thách thức không chỉ đến từ những bất ổn bên ngoài, mà còn từ việc chúng ta chưa chuẩn bị đủ tốt để quản trị rủi ro. Điều quan trọng là chuyển từ ứng phó bị động sang kiến tạo chủ động; từ nhắc lại nguyên tắc sang vận hành cơ chế; từ quản lý khủng hoảng sau khi xảy ra sang giảm thiểu rủi ro trước khi khủng hoảng bùng phát.
Vì vậy, lựa chọn của châu Á - Thái Bình Dương hôm nay không phải là giữa cạnh tranh hay không cạnh tranh, bởi cạnh tranh là một thực tế của quan hệ quốc tế. Lựa chọn quan trọng hơn là giữa cạnh tranh thiếu kiểm soát và cùng tồn tại có trách nhiệm; giữa chia rẽ và đối thoại; giữa nghi kỵ, cưỡng ép và một trật tự dựa trên luật lệ và lòng tin. Việt Nam tin rằng khu vực của chúng ta có đủ bản lĩnh và lợi ích chung để lựa chọn con đường hòa bình, hợp tác và thịnh vượng.
Việt Nam hiểu rõ giá trị của hòa bình bằng chính lịch sử của mình, hiểu giá trị của phát triển bằng chính hành trình Đổi Mới và hội nhập của mình. Từ trải nghiệm ấy, Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng lợi ích quốc gia của chúng tôi gắn bó chặt chẽ với hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực. Đóng góp cho hòa bình khu vực cũng là bảo vệ lợi ích lâu dài của Việt Nam. Mở rộng hợp tác, giảm thiểu rủi ro và kết nối các lợi ích chính đáng cũng chính là cách Việt Nam thực hiện trách nhiệm của mình đối với cộng đồng quốc tế.
Hòa bình, ổn định và phát triển là mẫu số chung của mọi quốc gia và dân tộc. Nhưng chỉ có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành hành động cụ thể, kiềm chế trước bất đồng, đối thoại khi khác biệt gia tăng, hợp tác khi thách thức vượt qua biên giới, và xây dựng những cơ chế giảm thiểu rủi ro có thể vận hành trong thực tế.
Với tinh thần đó, Việt Nam sẵn sàng cùng các quốc gia trong và ngoài khu vực củng cố luật lệ, bồi đắp lòng tin, thúc đẩy đối thoại, tăng cường hợp tác, giảm thiểu rủi ro và cùng nhau kiến tạo một châu Á - Thái Bình Dương an toàn hơn, tự cường hơn và thịnh vượng hơn.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Tạo đột phá chiến lược cho quan hệ giữa Việt Nam với Ấn Độ và Sri Lanka

Trả lời phỏng vấn báo chí về những kết quả nổi bật của chuyến thăm cấp nhà nước tới Ấn Độ và Sri Lanka của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung cho biết, chuyến thăm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang ý nghĩa lịch sử, đúng thời điểm Việt Nam và Ấn Độ kỷ niệm 10 năm thiết lập Đối tác chiến lược toàn diện và diễn ra chỉ 1 tháng sau khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm được bầu giữ cương vị mới.
Với Sri Lanka, đây là chuyến thăm cấp cao nhất của lãnh đạo Việt Nam kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao.
"Việc đoàn ta có nhiều lãnh đạo cấp cao, nhiều doanh nghiệp tham gia đã thể hiện sự coi trọng cao của Việt Nam đối với quan hệ với Ấn Độ và Sri Lanka", ông Lê Hoài Trung khẳng định.
Chuyến thăm đã thành công rất tốt đẹp, đạt các mục tiêu đề ra ở mức cao. Với Ấn Độ, hai nước đã nhất trí nâng quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường; với Sri Lanka là Đối tác toàn diện, tạo khuôn khổ chính trị mới, tăng cường tin cậy chính trị và hiểu biết lẫn nhau.
"Hai nước đã dành cho Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Đoàn sự đón tiếp nồng ấm, chu đáo, thân tình, trọng thị với nghi lễ đón tiếp ở mức cao nhất của một chuyến thăm cấp nhà nước và với nhiều biệt lệ. Các ban, bộ, ngành của Việt Nam cũng có chương trình làm việc phong phú với các đối tác tương ứng", Bộ trưởng Lê Hoài Trung cho biết.
Hơn 50 văn kiện đạt được ở Ấn Độ và 11 văn kiện ở Sri Lanka đã thể hiện nỗ lực rất cao của Việt Nam và hai nước; góp phần tạo động lực phát triển quan trọng cho quan hệ song phương. Lãnh đạo ta và hai nước cũng đã trao đổi các biện pháp đẩy mạnh quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và đảng cầm quyền, quan hệ quốc hội, đối ngoại nhân dân.
Theo Bộ trưởng Lê Hoài Trung, một trong những điểm nhấn quan trọng của chuyến thăm chính là ý nghĩa chính trị sâu sắc, thể hiện sự coi trọng đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta đối với quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với “người bạn lớn” Ấn Độ và quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp với Sri Lanka và qua đó là sự coi trọng của Việt Nam với khu vực Nam Á.
Một điểm nhấn nữa đó là chuyến thăm đã tạo đột phá chiến lược, tạo điều kiện cho những bước chuyển về chất trong định hướng phát triển quan hệ với Ấn Độ và Sri Lanka.
Với Ấn Độ, hai bên đã thống nhất nâng tầm hợp tác trên nền tảng phương châm “chia sẻ tầm nhìn, hội tụ chiến lược, hợp tác thực chất”, kết tinh của mức độ tin cậy chính trị cao và sự tương đồng về lợi ích chiến lược giữa hai bên. Với Sri Lanka, việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác toàn diện phản ánh tăng cường tin cậy và mở rộng hợp tác thực chất trong bối cảnh mới, yêu cầu mới.
Những kết quả của chuyến thăm là hết sức thực chất. Đối với Ấn Độ, những kết quả của chuyến thăm đã đưa quan hệ hai nước lên một tầm cao mới, mở ra tiềm năng hợp tác to lớn trong nhiều lĩnh vực, hứa hẹn đưa quan hệ hai nước sang “kỷ nguyên vàng”.
Đối với Sri Lanka, hai bên cam kết tiếp tục củng cố, tăng cường hợp tác, hữu nghị, xác lập tin cậy chính trị ở mức cao, mở rộng quy mô và mức độ hợp tác theo hướng toàn diện, thực chất trên tất cả các lĩnh vực; nhất trí tăng kim ngạch thương mại song phương lên gấp 5 lần mức hiện tại trong ít năm tới. Những bước tiến lớn trong ổn định kinh tế của Sri Lanka đã mở ra cơ hội mới về thương mại, hợp tác về khoáng sản, chế tạo, cảng biển và nhiều lĩnh vực khác.
Trong tình hình thế giới nhiều biến động, bất trắc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và lãnh đạo hai nước nhất trí cần tăng cường phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hiệp Quốc, thúc đẩy chủ nghĩa đa phương.
"Có thể khẳng định, chuyến thăm đã đạt được những kết quả toàn diện, vừa mang ý nghĩa chiến lược lâu dài, vừa tạo chuyển biến thực chất trong hợp tác, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam tại khu vực Nam Á và trên trường quốc tế, đồng thời mở ra giai đoạn phát triển mới, sâu sắc, hiệu quả, toàn diện hơn cho quan hệ Việt Nam với Ấn Độ và Sri Lanka", Bộ trưởng Lê Hoài Trung khẳng định.
Để phát huy các kết quả đã đạt được trong chuyến thăm, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung cho biết, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ đạo sát sao việc triển khai các kết quả đã đạt được.
Các bộ, ngành và địa phương cần quán triệt sâu sắc các thỏa thuận cấp cao, tích cực thúc đẩy hợp tác theo hướng lấy hiệu quả cụ thể làm thước đo và lấy lợi ích thiết thực của nhân dân làm mục tiêu. Với Ấn Độ, chúng ta nhất quán phương châm “chia sẻ tầm nhìn, hội tụ chiến lược, hợp tác thực chất” trong toàn bộ tiến trình hợp tác.
"Tới đây, chúng ta cần tiếp tục tăng cường thông tin, tuyên truyền đầy đủ về ý nghĩa và kết quả chuyến thăm, qua đó tạo sự thống nhất trong các cấp, các ngành, địa phương. Đồng thời, các bộ, ngành, địa phương của Việt Nam cần dành nguồn lực thỏa đáng, xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai các thỏa thuận, cam kết đã đạt được", Bộ trưởng khẳng định.
Chúng ta cũng sẽ hợp tác chặt chẽ với Ấn Độ, Sri Lanka đẩy mạnh triển khai các thỏa thuận cấp cao và các văn kiện đã ký kết, đồng thời chủ động tháo gỡ các điểm nghẽn, rào cản trong hợp tác, tạo chuyển biến rõ nét về hiệu quả thực chất, đưa các định hướng chính trị thành kết quả cụ thể, có thể đo đếm được.
Với Ấn Độ là tập trung vào các lĩnh vực trọng tâm như kết nối kinh tế, thương mại, đầu tư, phát triển hạ tầng chiến lược, logistics và chuỗi cung ứng, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, văn hóa, du lịch. Với Sri Lanka là hạ tầng, viễn thông, nông nghiệp công nghệ cao, thủy sản, chuyển đổi xanh, du lịch, đặc biệt là du lịch tâm linh.
"Với quyết tâm chính trị cao và sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, chúng ta tin tưởng rằng các kết quả của chuyến thăm sẽ được hiện thực hóa, góp phần đưa quan hệ Việt Nam với Ấn Độ và Sri Lanka phát triển ngày càng sâu rộng, thực chất và hiệu quả hơn, đồng thời đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới", Bộ trưởng Lê Hoài Trung nhấn mạnh.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Không chấp nhận tăng trưởng 'nóng' bằng mọi giá

Sáng 10.4, phát biểu tại tổ về kinh tế - xã hội, Thủ tướng Lê Minh Hưng tiếp tục nhấn mạnh mục tiêu tăng trưởng 2 con số "là một thách thức rất lớn". Song, nếu có sự đồng hành quyết tâm của Quốc hội, Chính phủ, các bộ ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân, ông tin rằng "hoàn toàn có cơ sở để thực hiện thành công".
Theo Thủ tướng, để đạt được tốc độ tăng trưởng như mục tiêu đã đề ra, đột phá về thể chế vẫn là then chốt nhất, giống như "con đường" tạo hành lang thông thoáng cho "cỗ xe kinh tế" Việt Nam phát triển. "Cỗ xe" ấy hiện vẫn đang chạy, nhưng nếu "con đường" được nâng cấp hơn, thì tốc độ sẽ cao hơn.
Trong năm 2026, một loạt vấn đề về thể chế phải được xử lý dứt điểm. Chẳng hạn như việc tổng rà soát hệ thống pháp luật, xây dựng chiến lược pháp luật trong kỷ nguyên mới, hoặc xử lý các vướng mắc liên quan đến vận hành của chính quyền địa phương 2 cấp.
Năm 2026 cũng sẽ là "năm hướng về cơ sở", tập trung nâng cao chất lượng cán bộ tại cấp xã, phường, bởi đây là lực lượng đóng vai trò then chốt trong kiến tạo phát triển. Đồng thời, Chính phủ sẽ hoàn thành việc lập, điều chỉnh các quy hoạch sao cho đảm bảo thống nhất, trong đó có quy hoạch đất, hoàn thành trong quý 2/2026.
Một nội dung khác được nhiều đại biểu quan tâm là các dự án vướng mắc, tồn đọng. Theo Thủ tướng, Chính phủ quyết tâm trong quý 2/2026 sẽ hoàn thành phương án xử lý dứt điểm. "Trung ương đã yêu cầu đích thân bí thư tỉnh ủy và ban thường vụ tỉnh ủy phải trực tiếp chỉ đạo thực hiện việc tháo gỡ vướng mắc cho các dự án trên địa bàn tỉnh mình", Thủ tướng cho hay.
Người đứng đầu Chính phủ cũng nhấn mạnh, trước khi nói đến nguồn lực tăng trưởng mới thì một nguồn lực rất lớn đang tồn đọng ở các dự án, nếu khơi thông trở lại sẽ góp phần cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Cạnh đó, Chính phủ sẽ tổng kết, đánh giá lại các cơ chế chính sách đặc thù áp dụng với các địa phương. Những gì thực tiễn đã chứng minh là đúng và hiệu quả thì nghiên cứu để áp dụng thống nhất trên toàn quốc, tránh sự không đồng bộ trong hệ thống pháp luật.
Song song với thể chế, Chính phủ sẽ quyết liệt cải cách hành chính, cắt giảm tối đa các thủ tục, điều kiện kinh doanh, nâng cao năng lực và trách nhiệm thực thi công vụ. Dự kiến phương án cắt giảm cụ thể sẽ được trình trước ngày 15.4, qua đó giảm chi phí tuân thủ, tạo lòng tin của người dân, doanh nghiệp với chính sách.
Về hạ tầng, Thủ tướng cho hay các dự án trọng điểm về giao thông đường bộ, sân bay và năng lượng sẽ được đẩy mạnh. Quy hoạch điện 8 sẽ được điều chỉnh, củng cố nguồn điện nền, kết hợp ứng dụng công nghệ mới để đảm bảo an ninh năng lượng và tiêu chuẩn môi trường. Phương án dự trữ quốc gia cũng đã được xây dựng, nhất là một số mặt hàng thiết yếu, không chỉ là xăng dầu.
Vẫn theo Thủ tướng, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong nhiệm kỳ này cần khoảng 40% GDP, tương đương 38,5 triệu tỉ đồng, trong khi nhiệm kỳ trước chỉ khoảng 33% GDP, "áp lực là rất lớn".
Trong đó, tổng vốn đầu tư công hơn 8 triệu tỉ đồng, chỉ chiếm hơn 20% tổng vốn đầu tư xã hội. Khoảng 80% còn lại phải huy động từ những nguồn lực khác, từ doanh nghiệp trong nước, xã hội, nước ngoài… Điều này đòi hỏi bắt buộc phải có những giải pháp cụ thể để tạo ra hành lang pháp lý minh bạch, rõ ràng, khuyến khích người dân và doanh nghiệp tự tin đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Đặc biệt, Thủ tướng nhấn mạnh tinh thần tăng trưởng nhưng phải dựa trên nền tảng ổn định vĩ mô, "xây nhà thì nền móng phải rất vững chắc", không thể tăng trưởng "nóng" bằng mọi giá, vì cái giá phải trả cho bất ổn vĩ mô là rất lớn về dài hạn.
"Chính phủ ý thức sâu sắc về việc này, phải thực hiện các giải pháp để đảm bảo ổn định vĩ mô", Thủ tướng nói, và cho hay mấy ngày gần đây đã thường xuyên chỉ đạo các bộ ngành, nhất là công thương, tài chính, ngân hàng phối hợp xử lý điều tiết các thị trường xăng dầu, tiền tệ nhằm giảm thiểu tác động từ các diễn biến phức tạp bên ngoài.

