Chủ tịch Quốc hội Sophon Saram bày tỏ tin tưởng chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ góp phần thúc đẩy và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.
Hai bên cũng đánh giá cao vai trò cùng những đóng góp tích cực của Quốc hội hai nước trong việc thúc đẩy hợp tác, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và giám sát triển khai hiệu quả các thỏa thuận song phương.
Chủ tịch Quốc hội Thái Lan nhấn mạnh, thời gian qua, lượng khách du lịch Thái Lan đến Việt Nam tăng trưởng mạnh; đồng thời, ngày càng nhiều doanh nghiệp hai nước mở rộng đầu tư, kinh doanh tại mỗi nước và bày tỏ mong muốn hai bên tiếp tục hỗ trợ các nhà đầu tư của nhau tham gia sâu rộng vào thị trường của nhau.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định mong muốn quan hệ hai nước nói chung và quan hệ giữa Quốc hội hai nước sẽ ngày càng tốt đẹp, nhất là trong bối cảnh hai nước cùng bước vào giai đoạn phát triển mới, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội Thái Lan tiếp tục quan tâm và tạo điều kiện để triển khai hiệu quả các thỏa thuận hợp tác giữa hai nước, trong đó có Chương trình hành động triển khai quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giai đoạn 2026 – 2031 vừa được ký kết tại cuộc hội đàm với Thủ tướng Anutin Charnvirakul, với nhiều nội dung hợp tác quan trọng trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, thương mại, đầu tư, khoa học công nghệ, kết nối hạ tầng, văn hóa, giáo dục và giao lưu nhân dân…
Chủ tịch Quốc hội Thái Lan nhất trí sẽ phối hợp với Quốc hội Việt Nam củng cố hợp tác; triển khai hiệu quả thỏa thuận hợp tác giữa hai Quốc hội ký năm 2023; tăng cường trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp cao và các cấp; đẩy mạnh hợp tác giữa các cơ quan chuyên môn, nhóm nghị sĩ hữu nghị, nữ nghị sĩ và nghị sĩ trẻ; đồng thời mở rộng chia sẻ kinh nghiệm trong các lĩnh vực như xây dựng pháp luật, chuyển đổi số, tăng trưởng xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Hai bên khẳng định sẽ phối hợp chặt chẽ trong các cơ chế liên nghị viện khu vực và quốc tế như Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), Đại hội đồng Liên nghị viện ASEAN (AIPA) và Diễn đàn Nghị viện châu Á – Thái Bình Dương (APPF), góp phần củng cố đoàn kết ASEAN, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững ở khu vực.
Nhân dịp này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng chuyển lời thăm hỏi và lời mời của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn mời Chủ tịch Quốc hội Thái Lan sớm thăm Việt Nam vào thời gian phù hợp. Chủ tịch Quốc hội Thái Lan cảm ơn lãnh đạo Việt Nam, vui vẻ nhận lời và bày tỏ mong muốn sớm thăm Việt Nam.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược tăng cường giữa Philippines và Việt Nam

Báo Thanh Niên trân trọng giới thiệu toàn văn bản tuyên bố chung giữa Philippines và Việt Nam:
1. Nhận lời mời của Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr., Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Philippines từ ngày 31.5 đến ngày 1.6.2026.
2. Ngày 1.6, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dự lễ đón và hội đàm chính thức với Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr. và cùng chứng kiến lễ trao các văn kiện hợp tác song phương. Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr. đã chủ trì buổi chiêu đãi trọng thể Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Philippines và tham dự diễn đàn doanh nghiệp.
3. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh ý nghĩa chuyến thăm, diễn ra đúng vào dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 10 năm triển khai hiệu quả quan hệ Đối tác chiến lược giữa Philippines và Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh tiềm năng hợp tác to lớn và nhất trí nâng cấp quan hệ Đối tác chiến lược hiện nay lên Đối tác chiến lược tăng cường.
4. Trên cơ sở khuôn khổ Đối tác chiến lược tăng cường Việt Nam - Philippines, hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tình hữu nghị lâu bền và hợp tác chặt chẽ giữa hai nước, được xây dựng trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau và cam kết mạnh mẽ đối với chủ nghĩa đa phương và hợp tác quốc tế, đồng thời, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ luật pháp quốc tế và thượng tôn các nguyên tắc và nghĩa vụ theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Hiến chương ASEAN.
5. Hai nhà lãnh đạo bày tỏ quyết tâm phát huy những thành quả hợp tác về chính trị - an ninh, an toàn và an ninh hàng hải, bảo vệ môi trường biển, mở rộng thương mại và đầu tư, hợp tác nông nghiệp, giáo dục, du lịch, giao lưu văn hóa và giao lưu nhân dân... đồng thời bày tỏ mong muốn thúc đẩy kết quả hợp tác thực chất vì lợi ích hai nước và của khu vực. Các cuộc thảo luận giữa hai lãnh đạo đã đặt nền tảng cho khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược tăng cường năng động, bền chặt và cùng có lợi, vì an ninh, thịnh vượng và ấm no của nhân dân hai nước.
6. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định các cuộc trao đổi cấp cao giữa Philippines và Việt Nam thể hiện tin cậy giữa hai nước và cam kết tăng cường quan hệ song phương, vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Trên cơ sở đó, hai nhà lãnh đạo khẳng định tiếp tục triển khai các chuyến thăm và tiếp xúc thường xuyên trên tất cả các kênh và các cấp, giao lưu nhân dân và kết nối doanh nghiệp, góp phần duy trì tham vấn về các vấn đề chiến lược của khu vực và toàn cầu, và tăng cường tiềm năng bổ trợ giữa định hướng phát triển của mỗi nước. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập các cơ chế hợp tác mới giữa cơ quan lập pháp và chính quyền địa phương hai nước thông qua duy trì thường xuyên trao đổi, tiếp xúc song phương và tại các diễn đàn đa phương, chia sẻ thông tin và các thực tiễn tốt.
7. Hai bên nhất trí phát huy đầy đủ và triển khai thường xuyên các cơ chế đối thoại và hợp tác song phương đã được thể chế hóa ở các cấp, bao gồm Ủy ban hỗn hợp về hợp tác song phương (JCBC), Tiểu ban Thương mại Việt Nam - Philippines (JTC), các đối thoại quốc phòng và an ninh và tham vấn về các vấn đề biển và đại dương, nhằm xác định và thúc đẩy các tiềm năng bổ trợ giữa hai nước. Hai nhà lãnh đạo giao Bộ Ngoại giao hai nước phối hợp chặt chẽ xây dựng kế hoạch hành động mới triển khai khuôn khổ Đối tác chiến lược tăng cường.
8. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng tầm hợp tác kinh tế giữa Philippines và Việt Nam, là hai nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng hàng đầu thế giới, góp phần tăng cường năng lực và khả năng tự cường của mỗi quốc gia. Cả hai nhà lãnh đạo bày tỏ mong muốn vượt mục tiêu thương mại song phương 10 tỉ USD theo hướng cân bằng thông qua mở rộng cơ hội thương mại hai chiều, cải thiện tiếp cận thị trường và giảm thiểu các rào cản thương mại và đầu tư.
Hai nhà lãnh đạo khuyến khích tăng cường các trao đổi cấp cao và phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các khu vực công và tư nhân của hai nước, đồng thời hoan nghênh nỗ lực khai phá những lĩnh vực hợp tác mới như khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số/bao trùm về số, quản trị số, các công nghệ mới, năng lượng, đầu tư hai chiều trong lĩnh vực sản xuất, kinh tế sáng tạo và các sáng kiến kinh tế xanh. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của việc tăng cường liên kết và hợp tác kinh tế khu vực trong khuôn khổ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), bao gồm các nỗ lực xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN bao trùm, tự cường và bền vững.
9. Nhận thức rõ vai trò thiết yếu của nông nghiệp đối với sự phát triển và nền kinh tế của mỗi nước, hai nhà lãnh đạo cam kết thúc đẩy hợp tác nông nghiệp chặt chẽ hơn thông qua nghiên cứu và phát triển chung, nâng cao năng lực, trao đổi chuyên gia và thực tiễn tốt, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, và nghiên cứu các lĩnh vực hợp tác tiềm năng trong thương mại và đầu tư, nông nghiệp, đặc biệt về gạo, thủy sản, phát triển kinh tế biển xanh bền vững, nông nghiệp bền vững, nông nghiệp thông minh, quản lý thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực thương mại nông nghiệp và giải quyết các thách thức liên quan đến lương thực và nông nghiệp, với mục tiêu chuyển đổi các ngành nông nghiệp và thủy sản thành những động lực tăng trưởng mạnh mẽ, thúc đẩy phát triển nông thôn và tạo động lực cho các cộng đồng dân cư.
Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao năng lực chế biến thực phẩm và tăng cường chuỗi cung ứng nhằm nâng cao khả năng chống chịu và tính bền vững trước những thách thức toàn cầu. Hai nhà lãnh đạo kêu gọi tăng cường hợp tác song phương để phòng chống các hoạt động khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) thông qua chia sẻ thông tin, nâng cao năng lực và hợp tác quản lý nghề cá và thực thi pháp luật.
10. Hai nhà lãnh đạo nhận thức rõ vai trò quan trọng của du lịch là một động lực tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy hiểu biết văn hóa và kết nối nhân dân; cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác phát triển du lịch thông qua chia sẻ kinh nghiệm, thúc đẩy các sáng kiến du lịch bền vững và bao trùm, và tạo thuận lợi cho các hoạt động trao đổi và hợp tác du lịch giữa hai nước.
11. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tăng cường các cơ chế hợp tác biển hiện có, bao gồm Ủy ban Hỗn hợp về các vấn đề biển và đại dương cấp Thứ trưởng, Nhóm công tác chung về các vấn đề biển và đại dương (JPWG-MOC), việc thực hiện Bản ghi nhớ về phòng ngừa và quản lý sự cố tại Biển Đông và Bản ghi nhớ về hợp tác biển giữa Cảnh sát biển Việt Nam và Lực lượng Bảo vệ bờ biển Philippines, đường dây nóng giữa cơ quan cảnh sát biển hai nước.
Hai bên cam kết xử lý các vấn đề trên biển bằng các biện pháp hòa bình, hữu nghị, phù hợp với luật pháp quốc tế. Hai bên nhất trí nghiên cứu khả năng hợp tác về nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ môi trường, thủy đạc, kết nối hàng hải và bảo tồn các vùng biển quốc tế. Hai nhà lãnh đạo cũng tái khẳng định cam kết bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, sự an toàn, phúc lợi, quyền bình đẳng và nhân phẩm của thuyền viên.
Hai nhà lãnh đạo chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền rà soát và cải thiện các chính sách và cơ chế về thị thực cho thuyền viên để tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập cảnh vào mỗi nước, phù hợp với luật pháp trong nước và các khuôn khổ ASEAN liên quan. Hai nhà lãnh đạo cam kết bảo đảm triển khai các cơ chế bảo đảm an toàn và an ninh cho ngư dân hai nước.
12. Hai bên nhấn mạnh hợp tác an ninh và quốc phòng ngày càng vững chắc là một trong những trụ cột chính của khuôn khổ Đối tác chiến lược tăng cường. Trên cơ sở đó, hai nhà lãnh đạo nhất trí:
a. Duy trì các cuộc trao đổi cấp cao giữa ngành quốc phòng và an ninh hai nước, tăng cường đối thoại chiến lược và chính sách, chia sẻ thông tin, mở rộng hợp tác giáo dục và đào tạo, tiếp tục thể chế hóa và duy trì các cơ chế đối thoại, giao lưu giữa quân nhân các binh chủng và cơ quan hàng hải, thúc đẩy các hoạt động thăm viếng tàu và các hoạt động chung ứng phó với các vấn đề an ninh trên biển;
b. Mở rộng hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, quân y, hậu cần quân sự, thương mại quốc phòng, tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai (HADR), an ninh hàng hải và hàng không, chống khủng bố và gìn giữ hòa bình;
c. Tăng cường trao đổi và hợp tác trong việc thúc đẩy và đề cao luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển (UNCLOS).
13. Hai bên sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác thực thi pháp luật nhằm phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, bao gồm lừa đảo trên mạng, các hoạt động lừa đảo trực tuyến, đưa người di cư trái phép và buôn người, đánh bạc bất hợp pháp, các hoạt động tài chính bất hợp pháp, di cư trái phép, cư trú và lao động bất hợp pháp và xử lý các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống.
Hai nhà lãnh đạo khuyến khích các cơ quan liên quan hai bên tận dụng chuyên môn và kinh nghiệm của nhau trong các lĩnh vực này và thúc đẩy hợp tác trong đào tạo và nâng cao năng lực cho lực lượng thực thi pháp luật trong các khuôn khổ song phương và đa phương. Hai bên cam kết phối hợp chặt chẽ để không cho phép bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào sử dụng lãnh thổ nước này để thực hiện các hoạt động tội phạm chống phá nước kia, phù hợp với luật pháp và quy định của mỗi nước.
14. Hai bên nhất trí triển khai các biện pháp sau nhằm tăng cường hợp tác thực thi pháp luật phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia:
a. Thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin thường xuyên để giải quyết tình trạng di cư trái phép, buôn người và lừa đảo trực tuyến ảnh hưởng đến người dân Philippines và Việt Nam;
b. Thông qua các hoạt động đào tạo và nâng cao năng lực để trao đổi thông tin và thực tiễn tốt về cơ chế phòng chống và kinh nghiệm truy tố tội phạm buôn người của mỗi bên, trong đó có thể tận dụng hợp tác với các cơ quan ASEAN liên quan như AMMTC/SOMTC và ASEANAPOL;
c. Cụ thể hóa cam kết thành các quy trình thông báo, điều tra và truy tố các băng nhóm lừa đảo và buôn người lôi kéo nạn nhân ở cả hai nước;
d. Mở rộng hợp tác về an ninh mạng và đấu tranh chống tội phạm trên không gian mạng.
15. Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác pháp lý và tư pháp, đồng thời tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong quá trình đàm phán Hiệp định Dẫn độ, Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự và chuyển giao người bị kết án phạt tù giữa hai nước.
16. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy các hoạt động giao lưu nhân dân thực chất, là nền tảng vững chắc để củng cố tình hữu nghị bền vững và đoàn kết giữa nhân dân Philippines và Việt Nam, thông qua các tổ chức hữu nghị, nhóm nghị sĩ hữu nghị và hợp tác giữa các chính quyền địa phương. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, thể thao và du lịch; tăng cường kết nối hàng không và hàng hải, góp phần thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau và gắn kết giữa nhân dân hai nước, đặc biệt giữa phụ nữ, thanh niên và giới học giả.
17. Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì các chương trình, hoạt động trao đổi và sáng kiến hợp tác trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác Văn hóa 2024 - 2029, nhằm thúc đẩy hợp tác và trao đổi trong các lĩnh vực như bản quyền, thư viện, phát triển hồ sơ lưu trữ, văn học, bảo tồn di sản văn hóa, xây dựng bảo tàng, các ngành công nghiệp sáng tạo, nghệ thuật biểu diễn và liên ngành, điện ảnh và nội dung nghe nhìn...
18. Hai bên tái khẳng định cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam tại Philippines và người Philippines tại Việt Nam được sinh sống, làm việc và học tập trên cơ sở luật pháp của mỗi nước và thông lệ quốc tế. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác lao động nhằm thúc đẩy phúc lợi và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của lao động di cư Philippines và Việt Nam.
19. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định ủng hộ thúc đẩy các nỗ lực xây dựng Cộng đồng ASEAN, đặc biệt trong năm Philippines đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN 2026, thông qua việc triển khai đầy đủ và hiệu quả Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025 và văn kiện "ASEAN 2045: Tương lai chung của chúng ta". Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường đoàn kết, vai trò trung tâm của ASEAN và xây dựng một cộng đồng tự cường và bền vững hơn. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của việc thúc đẩy sự kết nối giữa các cơ chế hợp tác tiểu vùng, trong đó có Khu vực Tăng trưởng Đông ASEAN Brunei Darussalam - Indonesia - Malaysia - Philippines (BIMP - EAGA) và các cơ chế hợp tác tiểu vùng Mekong. Hai nhà lãnh đạo hoan nghênh Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 sắp tới tại Hà Nội là diễn đàn đóng góp cho đối thoại và hợp tác khu vực trong nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN của Philippines và việc ký kết và thông qua Tuyên bố của các nhà lãnh đạo ASEAN về Hợp tác Hàng hải tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu.
20. Hai nhà lãnh đạo nhất trí phối hợp chặt chẽ, tham vấn và hỗ trợ lẫn nhau trong các ứng cử tại các tổ chức quốc tế và khu vực và các khuôn khổ đa phương, đặc biệt tại Liên Hiệp Quốc.
21. Hai nhà lãnh đạo trao đổi về tình hình khu vực và quốc tế. Hai bên tái khẳng định lập trường nhất quán của ASEAN về Biển Đông và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, thúc đẩy tôn trọng đầy đủ các tiến trình pháp lý và ngoại giao, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định lập trường của mỗi nước về phán quyết của Tòa Trọng tài năm 2016 về Biển Đông. Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của việc các bên tự kiềm chế trong triển khai các hoạt động có thể làm leo thang căng thẳng và ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định ở Biển Đông. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định cam kết bảo đảm thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc, duy trì và thúc đẩy môi trường thuận lợi cho đàm phán và sớm đạt được một Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC) thực chất và hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS năm 1982.
22. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận cuộc trao đổi thực chất, mang định hướng dài hạn giữa hai nước đã tạo đà tích cực cho quan hệ song phương. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chân thành cảm ơn Tổng thống Marcos và nhân dân Philippines về sự tiếp đón nồng hậu và tái khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc tiếp tục củng cố quan hệ Đối tác chiến lược tăng cường với Philippines. Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr. đã nhận lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Việt Nam vào thời điểm thuận tiện cho cả hai bên.
Tin Gốc: Thanh Niên

Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước đến Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân, hai bên đã ký 32 văn kiện hợp tác trên các lĩnh vực hợp tác kênh đảng, công an, tư pháp, kinh tế, đường sắt, thương mại nông sản, chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng, hợp tác hải quan, khoa học công nghệ, dân sinh, khai thác nguồn nhân lực, truyền thông và địa phương…
Danh sách 32 văn kiện hợp tác được ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc cụ thể như sau:
1. Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa giai đoạn 2026 - 2030.
2. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
3. Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
4. Bản ghi nhớ về hợp tác trong khuôn khổ Sáng kiến an ninh toàn cầu giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
5. Giấy chứng nhận bàn giao hồ sơ kết quả Dự án viện trợ Việt Nam lập báo cáo nghiên cứu khả thi tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
6. Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về hợp tác và hỗ trợ hành chính lẫn nhau trong lĩnh vực hải quan.
7. Công thư về viện trợ không hoàn lại của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho dự án Xây mới cơ sở 2 Học viện Y - Dược học cổ truyền Việt Nam giai đoạn 1.
8. Bản ghi nhớ giữa Bộ Xây dựng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về triển khai hợp tác đào tạo đường sắt để tăng cường năng lực cho nhân lực đường sắt Việt Nam.
9. Bản Ghi nhớ về hợp tác giáo dục nghề nghiệp giữa Bộ Giáo dục - Đào tạo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Bộ Giáo dục nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
10. Bản ghi nhớ triển khai chương trình nghiên cứu chung Việt Nam-Trung Quốc giữa Bộ Khoa học - Công nghệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Khoa học - Công nghệ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
11. Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực công nghệ số giữa Bộ Khoa học - Công nghệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Bộ Công nghiệp - Công nghệ thông tin nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
12. Nghị định thư về thiết lập, quản lý và vận hành đường dây nóng cấp Bộ trưởng giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
13. Bản ghi nhớ về hợp tác giao lưu văn hóa, nghệ thuật, thể thao giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
14. Bản ghi nhớ hợp tác bảo đảm an ninh, trật tự trong lĩnh vực du lịch giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
15. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về tăng cường hợp tác trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại của cư dân biên giới.
16. Chương trình hợp tác 2026 - 2027 giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
17. Bản ghi nhớ về việc thành lập Nhóm công tác đàm phán thúc đẩy xây dựng Khu hợp tác kinh tế qua biên giới giữa Bộ Công Thương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Thương mại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
18. Bản ghi nhớ về việc thành lập Nhóm công tác hợp tác chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng giữa Bộ Công Thương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Thương mại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
19. Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với việc xuất khẩu quả bưởi và quả chanh giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tổng cục Hải quan nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
20. Bản ghi nhớ về cùng thực hiện Kế hoạch hợp tác phát triển nguồn nhân lực giữa Bộ Tài chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Tổng Cục Hợp tác phát triển quốc tế quốc gia nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
21. Biên bản hội đàm về khảo sát hiện trường công tác nghiên cứu khả thi Dự án viện trợ Việt Nam sửa chữa, bảo trì Cung Hữu nghị Việt – Trung.
22. Thỏa thuận hợp tác giữa Đài tiếng nói Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hãng Thông tấn Tân Hoa nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.
23. Bản Ghi nhớ về hợp tác giữa Thông tấn xã Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tân Hoa xã nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa theo cơ chế Diễn đàn Truyền thông và Tham vấn Phương Nam toàn cầu.
24. Bản ghi nhớ về Hợp tác thông tin giữa Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tân Hoa xã nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
25. Thỏa thuận tăng cường hợp tác Văn hóa Nghệ thuật năm 2026 - 2027 giữa Đài Truyền hình Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
26. Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh, Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
27. Bản Ghi nhớ về tăng cường hợp tác giữa Thông tấn xã Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh - Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
28. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Tạp chí Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
29. Bản Ghi nhớ hợp tác giữa thành phố Hà Nội, thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thành phố Bắc Kinh, thủ đô nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa giai đoạn 2026 - 2030.
30. Thỏa thuận thiết lập quan hệ hữu nghị cấp tỉnh giữa tỉnh Phú Thọ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tỉnh Sơn Tây nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
31. Thỏa thuận về triển khai hợp tác bồi dưỡng cán bộ giữa Đảng ủy các tỉnh, thành phố Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hải Phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Khu ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
32. Bản ghi nhớ giữa Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam và Chính quyền nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc về xác nhận vị trí, loại hình, thời gian mở cửa, thời gian làm việc và nâng cấp cửa khẩu song phương Chi Ma (Việt Nam) - Ái Điểm (Trung Quốc) lên thành cửa khẩu quốc tế.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Định hình mô hình xã hội trong kỷ nguyên mới

Sáng 3.6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì cuộc làm việc với Đảng ủy Công an Trung ương và các cơ quan liên quan về Đề án "Xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, văn minh, hài hòa, phát triển" để trình Bộ Chính trị cho ý kiến, làm cơ sở để báo cáo Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết về xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, văn minh, hài hòa, phát triển trong kỷ nguyên mới.
Phát biểu kết luận cuộc làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gợi ý, phải xây dựng một xã hội hiện đại, là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Chủ động tiếp thu tinh hoa văn minh của nhân loại, các thành tựu khoa học công nghệ và quản trị tiên tiến, đồng thời giữ vững độc lập, tự chủ bản sắc văn hóa dân tộc, định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển đất nước.
Phát triển hài hòa giữa vật chất và tinh thần, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, con người, nâng cao đời sống tinh thần, củng cố niềm tin xã hội và hạnh phúc của nhân dân, không để xã hội giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa, đạo đức và các giá trị nhân văn.
Phát triển nhanh phải đi đôi với giữ vững ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, không đánh đổi trật tự kỷ cương, công bằng xã hội, môi trường và các giá trị văn hóa để lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Xây dựng con người là trung tâm, văn hóa là nền tảng, pháp luật và kỷ cương là trụ cột, xây dựng xã hội văn minh xã hội chủ nghĩa, trước hết là xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới có lý tưởng, có nhân cách, có văn hóa, có ý thức công dân, có tinh thần trách nhiệm và có năng lực thích ứng với xã hội hiện đại.
Kết hợp chặt chẽ giữa đức trị và pháp trị, giữa xây và chống, giữa giáo dục, thuyết phục với kỷ luật, kỷ cương và thượng tôn pháp luật.
Mọi chủ trương, chính sách phải hướng tới bảo vệ con người, nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo để mọi người dân được sống an toàn, lành mạnh, nhân văn có cơ hội phát triển và được thụ hưởng công bằng.
Thành quả của phát triển kết hợp chặt chẽ sự phát triển kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, không ai bị bỏ lại phía sau.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, xây dựng nền quản trị xã hội hiện đại là một đột phá chiến lược; phát triển càng nhanh thì càng phải quản trị xã hội tốt hơn, đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức quản trị xã hội theo hướng hiện đại, chuyển mạnh từ quản lý xã hội sang quản trị và kiến tạo xã hội.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu rà soát lại hệ thống mục tiêu, chỉ tiêu theo hướng chiến lược hơn, tập trung vào những mục tiêu phản ánh trực tiếp đến chất lượng xã hội, chất lượng quản trị, mức độ an toàn, niềm tin, hạnh phúc và chất lượng sống của người dân.
Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các cái nội dung, nhiệm vụ, giải pháp theo hướng tập trung, nổi bật hơn; rà soát kỹ nội dung văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng, các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, tránh trùng lặp, chồng chéo.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý, nghị quyết này phải mang tính tích hợp, kết nối và định hình mô hình xã hội Việt Nam trong thời kỳ mới; làm rõ những giá trị chuẩn mực và những yêu cầu tổng thể mà toàn hệ thống chính trị phải hướng tới trong quá trình xây dựng xã hội văn minh, xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời gian tới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, quyết tâm xây dựng nghị quyết với tư duy mới, tầm nhìn xa, nội dung sâu và giải pháp khả thi, có tính hành động cao.
Nghị quyết không chỉ nhằm giải quyết những vấn đề xã hội trước mắt mà sâu xa hơn là định hình mô hình xã hội Việt Nam trong kỷ nguyên mới, mục tiêu định hướng là phát triển xã hội chủ nghĩa.
Đây chính là nền tảng xã hội vững chắc để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và hiện thực hóa hai mục tiêu 100 năm của đất nước.
Tin Gốc: Thanh Niên

