Trong thời đại thuật toán, điều đáng lo không chỉ là tin giả, mà còn là khả năng một nhóm nhỏ có tổ chức tạo ra cảm giác về một “đa số”, từ đó chiếm dụng danh nghĩa nhân dân để áp đặt nhận thức và gây sức ép lên đời sống xã hội.
Trong lịch sử Việt Nam, tư tưởng “lấy dân làm gốc” luôn là một bài học lớn về dựng nước và giữ nước. Nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng thành quả phát triển mà còn là chủ thể sáng tạo lịch sử, là nguồn sức mạnh, trí tuệ và sự chính danh của mọi quyết sách liên quan đến vận mệnh quốc gia.
Bởi vậy, tiếng nói của nhân dân luôn mang một sức nặng đặc biệt. Nhiều sáng kiến đúng đắn bắt đầu từ thực tiễn nhân dân; nhiều bất cập chỉ được nhìn thấy đầy đủ khi người dân lên tiếng. Nhưng cũng chính vì có sức mạnh đặc biệt ấy, danh nghĩa “tiếng nói của nhân dân” có thể bị lợi dụng.
Trên không gian mạng, không khó để bắt gặp những cá nhân, hội nhóm hoặc mạng lưới tài khoản tự nhận mình đại diện cho “người dân”, “cộng đồng”, “công lý” hay “sự thật”. Họ có thể khởi đầu bằng những nội dung tích cực để tạo dựng uy tín. Khi đã hình thành được một lượng người theo dõi đủ lớn, họ bắt đầu lồng ghép cách diễn giải có chủ đích, lựa chọn thông tin có lợi cho một kết luận đã định trước, đồng thời loại bỏ những dữ kiện bất lợi.
Đó thường là sự pha trộn tinh vi giữa sự thật và suy diễn, giữa sự kiện với bình luận, giữa dữ liệu có thật với một bối cảnh đã bị cắt bỏ. Chính vì chứa một phần sự thật nên thông tin ấy càng dễ được tin. Sau đó, mạng lưới tài khoản ảo, bình luận lặp lại, chia sẻ có tổ chức và quảng cáo trả phí cùng tham gia khuếch đại nội dung. Người dùng bước vào một trang mạng rất dễ hình thành cảm giác rằng: “Mọi người đều nghĩ như vậy”. Nhưng “mọi người” đôi khi chỉ là một hiệu ứng được dàn dựng.
Sự im lặng của những người có cách nhìn thận trọng lại khiến quan điểm đang chiếm ưu thế càng có vẻ mạnh hơn thực tế. Một nhóm nhỏ nhưng hoạt động liên tục có thể tạo cảm giác về một đa số áp đảo. Cuối cùng, xã hội nhìn thấy một “dư luận thống nhất”, trong khi trên thực tế rất nhiều người chưa từng được hỏi. Điều nguy hiểm vì thế không chỉ là một nhóm người nói quá lớn, mà còn là rất nhiều người khác không còn cảm thấy an toàn để nói.
Khi người dùng chủ yếu gặp những nội dung phù hợp với niềm tin sẵn có, họ dễ tưởng rằng thế giới bên ngoài cũng đồng nhất với “buồng vang thông tin” của mình. Lấy số lượng bài đăng hoặc lượt tương tác để suy ra quan điểm của toàn xã hội chứa đựng nhiều sai lệch. Trên mạng xã hội, sự nổi tiếng của một nội dung không chỉ phụ thuộc vào số người quan tâm tự nhiên, mà còn phụ thuộc vào thiết kế nền tảng, khả năng chi trả quảng cáo, kỹ thuật tối ưu nội dung, mạng lưới phân phối và cách thuật toán đánh giá khả năng tạo tương tác.
Do đó, một chủ đề “thịnh hành” chưa chắc là vấn đề được đông đảo nhân dân quan tâm nhất. Nó có thể chỉ là nội dung tạo ra nhiều phản ứng nhất trong một khoảng thời gian. Một lượt chia sẻ không đồng nghĩa với một lá phiếu. Một bình luận không đồng nghĩa với một quan điểm đã được suy nghĩ chín chắn. Một chủ đề thịnh hành càng không thể tự động trở thành sự ủy quyền của nhân dân.
Các nhà nghiên cứu sử dụng khái niệm “tuyên truyền điện toán” và “astroturfing” (tạo dựng một phong trào quần chúng giả) để mô tả việc sử dụng các tài khoản hoặc bình luận giả danh công dân bình thường nhằm tạo ấn tượng rằng một quan điểm đang nhận được sự ủng hộ rộng rãi. Trong đời sống mạng, những dấu hiệu ấy không khó nhận ra: hàng loạt tài khoản mới lập cùng đăng một nội dung; các bình luận sử dụng những cụm từ gần như giống nhau; một vấn đề bất ngờ được đẩy lên thành làn sóng; mọi ý kiến yêu cầu cung cấp chứng cứ đều bị công kích.
Điều đáng lo là dư luận được tạo dựng có thể gây ảnh hưởng ngược trở lại đời sống thực. Các nhà hoạch định chính sách có thể bị đặt trước một bức tranh sai lệch về nhu cầu xã hội. Nếu quyết sách công chỉ chạy theo những làn sóng tương tác, chúng ta có nguy cơ lấy tâm trạng tức thời thay cho lợi ích lâu dài, lấy tiếng nói của nhóm hoạt động tích cực nhất thay cho sự đa dạng của nhân dân.
Dân chủ không chỉ cần khả năng phát ngôn. Dân chủ còn cần một không gian chung, nơi các phát ngôn được gặp nhau, kiểm chứng và tranh luận. Đó cũng là ranh giới giữa tiếng nói của nhân dân và tiếng ồn của đám đông. Tiếng nói của nhân dân được hình thành qua trải nghiệm, thông tin, đối thoại và cân nhắc lợi ích chung. Tiếng ồn của đám đông chỉ cần sự đồng thanh, kể cả khi sự đồng thanh ấy được sản xuất bằng kỹ thuật.
Không thể chống lại sự chiếm dụng “tiếng nói của nhân dân” bằng cách thu hẹp quyền phát biểu của người dân. Trái lại, xã hội càng cần những cơ chế để tiếng nói thực sự của nhân dân được thể hiện đầy đủ, đa chiều và có khả năng tác động thực chất đến quá trình hoạch định, thực thi chính sách.
Trước hết, cần phân biệt ba cấp độ thường bị trộn lẫn trên không gian mạng: tín hiệu xã hội, tâm trạng xã hội và ý chí của nhân dân. Một chủ đề được nhiều người thảo luận là tín hiệu cần quan tâm. Nhưng để xác định nguyện vọng thực sự của nhân dân cần những phương thức đáng tin cậy hơn: khảo sát có tính đại diện, tham vấn chính sách, đối thoại trực tiếp, tiếp xúc cử tri, phản ánh từ cơ sở, ý kiến chuyên gia và dữ liệu thực tiễn.
Một chính quyền biết lắng nghe không phải là chính quyền chạy theo mọi làn sóng, mà là chính quyền có năng lực tiếp nhận tín hiệu, kiểm tra sự thật, xác định đúng vấn đề và phản hồi minh bạch. Khi người dân thấy rằng ý kiến chính đáng được tiếp nhận qua những kênh rõ ràng, được giải trình bằng lý lẽ, nhu cầu tìm đến những “người đại diện tự phong” cũng sẽ giảm đi. Đối thoại thực chất chính là cách tốt nhất để không ai có thể độc quyền danh nghĩa nhân dân.
Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13.7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ một trong những khoảng trống lớn là sức hấp dẫn và năng lực lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực trên môi trường số chưa theo kịp tốc độ phát triển của nền tảng và nội dung số. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, thách thức đối với “quyền dẫn dắt giá trị”. “Quyền dẫn dắt giá trị” trước hết là khả năng tạo ra môi trường để sự thật, điều tốt đẹp và những tiếng nói có trách nhiệm có đủ sức hấp dẫn, độ tin cậy và khả năng hiện diện.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng yêu cầu xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số, nâng cao năng lực tự chủ, khả năng định hướng và “sức đề kháng” của nền văn hóa dân tộc; để không gian số trở thành nơi văn hóa Việt Nam hiện diện, lan tỏa và tham gia định hướng giá trị xã hội. Chủ quyền văn hóa trên không gian số còn là năng lực của xã hội trong việc nhận biết đâu là nhu cầu thực, đâu là nhu cầu được kích thích; đâu là dư luận tự nhiên, đâu là dư luận được tạo dựng.
Một xã hội có sức đề kháng là xã hội không dễ trao quyền đại diện cho người nói lớn nhất; biết đòi hỏi chứng cứ trước những tuyên bố nhân danh số đông; biết bảo vệ quyền lên tiếng của thiểu số; và không để tâm lý sợ bị cô lập biến sự im lặng thành một lá phiếu giả cho đám đông.
Để làm được điều đó, các cơ quan nhà nước cần hiện đại hóa công tác nắm bắt dư luận xã hội, kết hợp theo dõi xu hướng trên nền tảng số với điều tra xã hội học, dữ liệu từ cơ sở, tham vấn đại diện và đối thoại với những nhóm chịu tác động trực tiếp. Báo chí chính thống cũng cần góp phần phục hồi không gian thảo luận chung. Giá trị của báo chí không nằm ở việc lặp lại tiếng nói đang áp đảo, mà ở khả năng làm xuất hiện một bức tranh đầy đủ hơn. Các nền tảng số phải minh bạch hơn về quảng cáo, nội dung được tài trợ và các hành vi phối hợp không xác thực.
Đồng thời, cần bảo vệ quyền tồn tại của những ý kiến không phổ biến. Văn hóa đối thoại đòi hỏi con người không chỉ học cách nói mà còn học cách nghe những điều khác với niềm tin của mình. Trong kỷ nguyên số, truyền thống văn hóa Việt Nam đề cao tinh thần cộng đồng cần được chuyển hóa thành một văn hóa tranh luận mới: không lấy số lượng người theo dõi thay cho lý lẽ; không lấy sự lặp lại thay cho bằng chứng; không lấy khả năng gây áp lực thay cho tính chính danh; và không cho phép bất kỳ nhóm nào tự nhận mình là toàn thể nhân dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu phát huy vai trò chủ thể sáng tạo của nhân dân, khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng trong phát triển văn hóa. Nhân dân phải được nhìn nhận trong sự đa dạng, chủ động và sáng tạo, chứ không phải như một khối đám đông chỉ biết hưởng ứng những thông điệp được chuẩn bị sẵn.
Tiếng nói của nhân dân là một bản hòa âm gồm nhiều trải nghiệm, lợi ích và góc nhìn khác nhau. Bản hòa âm ấy chỉ có ý nghĩa khi không có ai bí mật điều khiển dàn nhạc, không có tiếng nói nào bị loại bỏ chỉ vì nhỏ hơn và không có một nhóm nào tự nhận tiếng nói của mình là toàn bộ bản nhạc. Sự đồng thuận xã hội chỉ có thể được xây dựng bằng sự thật, công bằng, minh bạch và hiệu quả thực tiễn.
Bảo vệ “tiếng nói của nhân dân” chính là bảo vệ tính chân thực của quá trình hình thành dư luận; không để thuật toán thay thế đối thoại, không để tài khoản ảo thay thế công dân và không để một thiểu số có tổ chức chiếm dụng danh nghĩa của cộng đồng. Sức mạnh của tiếng nói nhân dân nằm ở sự thật của đời sống, ở chiều sâu của lòng dân và ở khả năng hướng xã hội tới những giá trị chung.
Trong bài phát biểu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, nhìn lại hàng nghìn năm hình thành và phát triển của hai đất nước, lịch sử, văn hóa đã trở thành những sợi dây bền chắc kết nối Ấn Độ, Việt Nam.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, hành trình phát triển của Ấn Độ và Việt Nam trong hơn 80 năm qua có nhiều điểm tương đồng và nhiều thành tựu to lớn. Trước hết là cả hai đều bước ra từ những nền kinh tế thuộc địa vô cùng khó khăn, thậm chí đến mức kiệt quệ, trình độ thấp, cơ cấu mất cân đối, phụ thuộc nhiều vào nước ngoài. Với khát vọng thịnh vượng, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, hai nước đã từng bước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, vững mạnh.
Về đối ngoại, hai nước chia sẻ quan điểm độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, ủng hộ đối thoại và cách tiếp cận chủ động, cân bằng và trách nhiệm với các vấn đề khu vực, toàn cầu.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước bày tỏ ấn tượng với triết lý "Thế giới là một gia đình" của Ấn Độ đề cao tình hữu nghị, sự tôn trọng, tinh thần đoàn kết và khát vọng hòa bình, thịnh vượng - cũng là những giá trị mà dân tộc Việt Nam luôn hướng tới. Việt Nam đánh giá cao những đóng góp trách nhiệm của Ấn Độ qua các khuôn khổ hợp tác và sáng kiến kết nối chiến lược, Chính sách Hành động hướng Đông tăng cường kết nối với Đông Nam Á; Sáng kiến Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương thúc đẩy không gian rộng mở, bao trùm, dựa trên luật lệ; đánh giá cao vai trò ngày càng quan trọng của Ấn Độ tại các cơ chế đa phương, góp phần thúc đẩy đối thoại, tăng cường kết nối và xử lý các thách thức chung. Việt Nam cũng đã đảm nhận thành công nhiều trọng trách quốc tế quan trọng, cử các cán bộ, chiến sĩ tham gia đóng góp vào sứ mệnh gìn giữ hòa bình của LHQ.
Việt Nam và Ấn Độ đều đang hướng đến những mục tiêu phát triển mới vào dịp kỷ niệm 100 năm độc lập, hài hòa giữa tăng trưởng và tiến bộ xã hội, trong đó không thể thiếu vai trò của khoa học - công nghệ. Trên nền tảng tin cậy và gắn bó, quan hệ hai nước từng bước được định hình và phát triển, với việc thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1972, nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược năm 2007, Đối tác chiến lược toàn diện năm 2016, và không ngừng được mở rộng và làm sâu sắc trong những năm qua.
Hợp tác quốc phòng - an ninh tiếp tục là một trụ cột chiến lược với nhiều chương trình hỗ trợ tín dụng và chuyển giao kỹ thuật. Các lĩnh vực GD-ĐT, du lịch và giao lưu nhân dân cũng được mở rộng...
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng thế giới đang biến đổi nhanh chóng, sâu sắc chưa từng có. Cạnh tranh giữa các trung tâm quyền lực lớn ngày càng mở rộng. Luật pháp quốc tế, LHQ và các thể chế đa phương đứng trước những thách thức lớn chưa từng có.
Tất cả các nước, trong đó có Việt Nam và Ấn Độ đứng trước những nghịch lý của thời đại: nhu cầu hợp tác gia tăng, nhưng niềm tin bị xói mòn. Các cấu trúc kinh tế kết nối sâu hơn, nhưng dễ tổn thương hơn. Công nghệ có những bước tiến vượt bậc chưa từng có, đồng thời làm sâu thêm khoảng cách phát triển giữa các quốc gia. Biến đổi đang tạo ra những thách thức lớn; nhưng trên tất cả, biến đổi cũng mở ra các cơ hội nếu chúng ta biết nắm bắt và nắm bắt kịp thời, và cơ hội sẽ nhân lên nếu được cùng kết nối.
Kế thừa nền tảng vững chắc của quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong hơn 50 năm qua, để đưa quan hệ hợp tác Việt Nam - Ấn Độ sang một giai đoạn mới ở tầm mức mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn hai bên củng cố và làm sâu sắc hơn nữa tin cậy chiến lược - điều kiện để duy trì quan hệ ổn định, cũng là nền tảng để thúc đẩy hợp tác hiệu quả và cùng ứng phó với các thách thức chung.
Trong giai đoạn mới, hai bên cần tiếp tục tăng cường trao đổi toàn diện ở các kênh - giữa Nhà nước, Quốc hội/nghị viện, chính đảng, nhân dân hai nước và các cấp; mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực chiến lược; cần phát huy hơn nữa, nâng cao hiệu quả hành động, phối hợp lập trường trong các diễn đàn đa phương.
Hai bên mở rộng dư địa kết nối, gia tăng kết nối phát triển, tạo thêm động lực cho liên kết khu vực. Việt Nam sẵn sàng hợp tác về dược phẩm với Ấn Độ, hoan nghênh các hãng dược Ấn Độ đầu tư sản xuất dược phẩm tại Việt Nam cho thị trường Đông Nam Á.
Hai bên nâng tầm và tăng tốc hợp tác khoa học, đổi mới sáng tạo và công nghệ chiến lược trở thành một trụ cột trọng yếu trong quan hệ hợp tác Việt Nam - Ấn Độ.
Lan tỏa các giá trị văn hóa - xã hội, tăng cường giao lưu nhân dân, hai bên cần tiếp tục mở rộng, làm sâu sắc hơn các kết nối đó thông qua hợp tác GD-ĐT, văn hóa, du lịch, kết nối địa phương và giao lưu nhân dân, đặc biệt là giữa thế hệ trẻ; chung tay kiến tạo và củng cố không gian hòa bình, ổn định.
Bước vào kỷ nguyên mới, với quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường ở tầm cao mới và phương châm "chia sẻ tầm nhìn, hội tụ chiến lược và hợp tác thực chất", với giải pháp quyết liệt của Chính phủ, sự quyết tâm, đồng lòng, tinh thần sáng tạo, đổi mới của doanh nghiệp hai nước, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tin rằng quan hệ Việt Nam - Ấn Độ sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa, thực chất hơn nữa, kết nối giữa hai nước sẽ bền chặt hơn nữa, mang lại lợi ích thiết thực và thành công cho sự phát triển mỗi nước, đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng trong khu vực và trên thế giới.
Sáng 8.7, phát biểu khai mạc phiên họp thứ 4 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu rõ, phiên họp này sẽ cho ý kiến nhiều nội dung rất quan trọng chuẩn bị cho kỳ họp không thường lệ thứ nhất, dự kiến khai mạc vào đầu tháng 8.
Đồng thời, phiên họp cũng chuẩn bị một số nội dung để chuẩn bị cho kỳ họp thứ hai diễn ra vào cuối năm và một số nội dung quan trọng khác.
Theo Chủ tịch Quốc hội, việc tổ chức kỳ họp không thường lệ thứ nhất thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Quốc hội và Chính phủ trong việc kịp thời thể chế hóa chủ trương và kết luận của Trung ương và xử lý ngay những vấn đề cấp bách không thể chậm trễ, ách tắc, giảm áp lực cho kỳ họp không thường lệ cuối năm.
Theo chương trình phiên họp, đến thời điểm này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ xem xét các dự án luật, nghị quyết dự kiến trình Quốc hội. Chính phủ cũng mới có văn bản đề nghị bổ sung luật Nhà ở và luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi để trình Quốc hội thông qua theo trình tự thủ tục rút gọn ngay kỳ họp không thường lệ thứ nhất.
Chủ tịch Quốc hội đề nghị, các cơ quan rà soát thật kỹ xem đủ điều kiện đưa vào kỳ họp không thường lệ hay không. Nếu bố trí Ủy ban Thường vụ Quốc hội gửi cho ý kiến cùng với dự án luật Đất đai sửa đổi thì dự kiến vào ngày 28.7.
Ngoài ra, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng xem xét quyết định bằng văn bản với một số nghị quyết theo thẩm quyền.
Chủ tịch Quốc hội đề nghị các cơ quan tập trung siết chặt kỷ luật kỷ cương, bám sát chương trình phiên họp, tuyệt đối không được để chậm tiến độ, xin lùi, xin rút nội dung hoặc gửi hồ sơ sát thời điểm do nguyên nhân chủ quan. Cần đảm bảo trong tháng 7, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải hoàn thành chuẩn bị toàn bộ nội dung chương trình kỳ họp không thường lệ.
Nếu không đảm bảo chất lượng, tiến độ theo chương trình, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan chủ trì tham gia phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Với các ý kiến còn nhiều ý kiến khác nhau phải báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định, không để dồn công việc vào những ngày cuối phiên họp.
Với các dự án chưa đáp ứng điều kiện về chất lượng hoặc tiến độ, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, cần kiên quyết đề xuất chưa đưa vào chương trình kỳ họp không thường lệ mà yêu cầu tiếp tục hoàn thiện để trình vào kỳ họp cuối năm.
Khi cho ý kiến các đề án, Chủ tịch Quốc hội đề nghị bám sát thực tiễn gần 1 năm thực hiện chính quyền 3 cấp để rà soát kỹ quy định về phân cấp phân quyền, đánh giá kỹ tính khả thi của từng chính sách, đảm bảo rõ người rõ việc, rõ thẩm quyền, địa phương áp dụng được ngay khi luật có hiệu lực, không để phát sinh khoảng trống pháp lý, chồng chéo hoặc đùn đẩy trách nhiệm.
Chủ tịch Quốc hội cho biết, hiện còn thiếu nhiều văn bản hướng dẫn thi hành luật và thi hành nghị định; đồng thời đề nghị Hội đồng Dân tộc và các ủy ban làm việc trực tiếp với các bộ, ngành liên quan.
"Vì sao chúng ta ban hành chậm trễ văn bản hướng dẫn luật, hướng dẫn thực hiện nghị định", Chủ tịch Quốc hội đặt vấn đề, và yêu cầu: "Luật phải đi đôi với nghị định và thông tư thì quyết sách ở mỗi kỳ họp mới có giá trị ngay, đi vào cuộc sống, đáp ứng điều người dân, doanh nghiệp đang chờ đợi".
Cách đây hơn 1 tháng, ngày 8.4, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Quy định số 19-QĐ/TW về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng. Đây là lần đầu tiên Đảng ban hành một quy định mang tính hệ thống, toàn diện, đánh dấu bước chuyển mang tính lịch sử về tư duy quản lý công tác chính trị, tư tưởng.
Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của quy định này và trách nhiệm của cơ quan báo chí trong công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng chính trị, được sự đồng ý của Ban Bí thư Trung ương Đoàn, chiều nay 15.5, Báo Thanh Niên phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức hội thảo với chủ đề: "Công tác chính trị, tư tưởng đi trước, mở đường trong kỷ nguyên mới".
Hội thảo có sự tham dự của anh Nguyễn Minh Triết, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư thường trực T.Ư Đoàn, Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam; ông Vũ Trọng Kim, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; bà Đinh Thị Mai, Phó trưởng ban Tuyên giáo - Dân vận Trung ương; ông Ngô Văn Cương, Phó bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể T.Ư.
Việc nhận diện sớm các vấn đề tư tưởng, các biểu hiện dao động về niềm tin là điều kiện tiên quyết để định hướng dư luận xã hội. Công tác tư tưởng vì thế phải chuyển trạng thái từ thụ động đối phó sang dự báo, phòng ngừa, đảm bảo sự đồng thuận trong nhận thức.
Đặc biệt, trong một thế giới đầy biến động với sự bùng nổ của mạng xã hội và các dòng thông tin đa chiều, nhận thức không thể đi sau các sự kiện. Và để "đi trước", công tác chính trị, tư tưởng phải có khả năng dự báo đúng, trúng và sớm các xu hướng tâm lý, các luồng ý kiến trái chiều có thể phát sinh trước mỗi chủ trương, chính sách mới.