Sở Giáo dục và Đào tạo TP HCM sáng nay họp cùng 179 hiệu trưởng THPT để duyệt điểm chuẩn lớp 10, hệ đại trà. Đây là kỳ thi lớp 10 công lập đầu tiên của thành phố, sau khi sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu. Điểm chuẩn chính thức của tất cả trường dự kiến được Sở công bố vào buổi chiều.
Theo các hiệu trưởng, điểm chuẩn ở một số trường được dự tính như sau (thông tin có tính chất tham khảo):
* Tiếp tục cập nhật
Thí sinh trúng tuyển cần xác nhận nhập học trực tuyến trên hệ thống tuyển sinh lớp 10 của thành phố, sau đó nộp hồ sơ trực tiếp tại trường THPT, từ ngày 30/6 đến 15/7.
Kỳ thi lớp 10 kết thúc hôm 2/6. Trong năm đầu tiên sau sáp nhập (TP HCM, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương), thành phố có hơn 151.000 thí sinh, đông nhất cả nước. Tỷ lệ trúng tuyển khoảng 78%.
Cách đây 10 ngày, Sở đã công bố điểm chuẩn vào lớp 10 chuyên của bốn trường, dẫn đầu là lớp chuyên Sinh của trường chuyên Lê Hồng Phong với 39,25/50 điểm. Hầu hết lớp chuyên của trường Lê Hồng Phong và Trần Đại Nghĩa tăng điểm chuẩn, với mức khoảng 0,5-6,25 điểm so với năm ngoái.
Ngược lại, phần lớn lớp ở trường chuyên Hùng Vương (khu vực Bình Dương) và Lê Quý Đôn (Bà Rịa – Vũng Tàu) giảm khoảng 1-9 điểm.
Hơn 3.100 học sinh đã nhập học ở 4 trường chuyên. Sau khi trừ số này, Sở tính toán để công bố điểm chuẩn lớp 10 hệ đại trà để sát với thực tế.
Tin Gốc: Vnexpress

Sở Giáo dục và Đào tạo TP HCM sáng nay họp cùng các hiệu trưởng THPT để duyệt điểm chuẩn lớp 10, hệ đại trà. Đây là kỳ thi lớp 10 công lập đầu tiên của thành phố, sau khi sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu.
Điểm chuẩn lớp 10 ở 170 trường như sau:
Thí sinh trúng tuyển cần xác nhận nhập học trực tuyến trên hệ thống tuyển sinh lớp 10 của thành phố, sau đó nộp hồ sơ trực tiếp tại trường THPT, từ ngày 30/6 đến 15/7.
Kỳ thi lớp 10 kết thúc hôm 2/6. Trong năm đầu tiên sau sáp nhập (TP HCM, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương), thành phố có hơn 151.000 thí sinh, đông nhất cả nước. Tỷ lệ trúng tuyển khoảng 78%.
Cách đây 10 ngày, Sở đã công bố điểm chuẩn vào lớp 10 chuyên của bốn trường, dẫn đầu là lớp chuyên Sinh của trường chuyên Lê Hồng Phong với 39,25/50 điểm. Hầu hết lớp chuyên của trường Lê Hồng Phong và Trần Đại Nghĩa tăng điểm chuẩn, với mức khoảng 0,5-6,25 điểm so với năm ngoái.
Ngược lại, phần lớn lớp ở trường chuyên Hùng Vương (khu vực Bình Dương) và Lê Quý Đôn (Bà Rịa - Vũng Tàu) giảm khoảng 1-9 điểm.
Hơn 3.100 học sinh đã nhập học ở 4 trường chuyên. Sau khi trừ số này, Sở tính toán để công bố điểm chuẩn lớp 10 hệ đại trà để sát với thực tế.
Tin Gốc: Vnexpress

Cấp thiết hoàn thiện hành lang pháp lý để bảo vệ trẻ em trên môi trường số
Suốt nhiều năm, khi nói đến việc bảo vệ trẻ em trên Internet, người ta thường nhấn mạnh vào giáo dục kỹ năng như nhận biết tin giả, bảo vệ thông tin cá nhân hay ứng xử văn minh trên mạng… Những điều đó vẫn đúng, nhưng trước bối cảnh hiện nay, có lẽ chỉ như vậy là chưa đủ.
Phát biểu gần đây của Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn cho thấy tư duy quản lý đang có sự thay đổi đáng chú ý. Theo Bộ trưởng, không gian mạng đã trở thành nơi học sinh dành nhiều thời gian để học tập, giao lưu và tiếp cận thông tin. Tuy nhiên, sự phát triển rất nhanh của mạng xã hội và các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) cũng đặt ra những thách thức mới trong công tác bảo vệ trẻ em.
Do vậy, việc xây dựng các quy định quản lý trẻ em tiếp cận mạng xã hội và AI là bước chuyển cần thiết trong tư duy bảo vệ trẻ em trên môi trường số. Nếu trước đây trọng tâm là trang bị kỹ năng cho trẻ, thì nay giáo dục phải đi cùng pháp luật, giải pháp công nghệ, trách nhiệm của các nền tảng số và sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường với cơ quan quản lý. Nói cách khác, bảo vệ trẻ em trên môi trường số cần một hệ sinh thái bảo vệ nhiều tầng, thay vì những nỗ lực đơn lẻ, rời rạc.
Thông điệp ấy cho thấy một sự dịch chuyển trong tư duy. “Trường học an toàn” hôm nay không đơn thuần giới hạn trong hàng rào trường học, cũng không dừng lại ở việc giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, mà còn bao gồm việc bảo vệ học sinh trong môi trường số.
Một học sinh có thể không gặp bạo lực trong lớp học, nhưng vẫn đối diện với bắt nạt trên mạng, nội dung độc hại, lừa đảo trực tuyến, thông tin sai lệch hay những thuật toán liên tục giữ các em ở lại màn hình nhiều giờ mỗi ngày. Nếu những rủi ro ấy không được nhận diện như một phần của an toàn học đường, khái niệm “trường học an toàn” sẽ trở nên thiếu trọn vẹn.
Đây cũng là lý do nhiều quốc gia đã vào cuộc mạnh mẽ, với nhiều giải pháp thiết thực. Trọng tâm của các chính sách này xoay quanh việc quy định độ tuổi tối thiểu để sử dụng mạng xã hội, yêu cầu xác minh độ tuổi, tăng trách nhiệm của các nền tảng công nghệ hoặc thiết lập tài khoản trẻ em ở chế độ bảo mật cao hơn… Điểm chung là không đặt toàn bộ gánh nặng tự bảo vệ lên vai trẻ em hay cha mẹ, mà buộc cả hệ thống cùng tham gia bảo vệ trẻ.
Ở Việt Nam hiện chưa có địa phương nào ban hành quy định cấm trẻ em sử dụng mạng xã hội theo nghĩa pháp lý đầy đủ. Tuy nhiên, nhiều trường học và địa phương đã bắt đầu siết việc học sinh sử dụng điện thoại trong trường học. Trong khi đó, đề xuất hạn chế hoặc cấm trẻ em tiếp cận một số nền tảng mạng xã hội vẫn đang ở giai đoạn nghiên cứu, thảo luận chính sách nhưng đã nhận được sự quan tâm lớn từ dư luận.
Không ít phụ huynh bày tỏ sự đồng tình với việc cần có những giới hạn rõ ràng hơn để bảo vệ trẻ em trên môi trường số, miễn là các quy định ấy được xây dựng khoa học, khả thi và không cản trở nhu cầu học tập, tiếp cận tri thức của các em.
Mới đây, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Thoa (đoàn Hải Phòng) đã đề nghị nghiên cứu các giải pháp phù hợp, trong đó có phương án hạn chế hoặc cấm trẻ em sử dụng một số nền tảng mạng xã hội phổ biến. Cùng với đó, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cũng tiến hành khảo sát tại một số địa phương như Đắk Lắk, Hưng Yên, Hải Phòng... về việc thực hiện chính sách, pháp luật bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.
Những động thái liên tiếp này là tín hiệu đáng mừng, bởi điều quan trọng không đơn thuần là có thêm đề xuất hay khảo sát, mà là việc bảo vệ trẻ em trên môi trường số đã bước ra khỏi phạm vi những lời khuyến nghị để trở thành một nội dung chính sách. Đây là tiền đề để Việt Nam tham khảo kinh nghiệm quốc tế, đồng thời hoàn thiện hành lang pháp lý và xây dựng cơ chế bảo vệ trẻ em trên môi trường số phù hợp với điều kiện thực tiễn trong nước.
Cần “lá chắn” nhiều tầng cho trẻ em trên môi trường số
Bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng không thể chỉ là trách nhiệm của cha mẹ. Cũng không thể chỉ giao cho nhà trường hay chờ đợi sự tự giác của các nền tảng công nghệ. Điều mà chúng ta cần lúc này là xây dựng một hệ sinh thái toàn diện, đồng bộ, nhất quán bảo vệ trẻ em trên môi trường số phù hợp với điều kiện Việt Nam và xu thế trên thế giới.
Để làm được điều đó, trước hết cần sớm hoàn thiện khung pháp lý theo hướng quy định rõ trách nhiệm của các nền tảng trong việc bảo vệ người dùng chưa thành niên; nghiên cứu các giải pháp công nghệ như xác minh độ tuổi, thiết lập chế độ mặc định an toàn cho tài khoản trẻ em; tăng cường cơ chế báo cáo, tiếp nhận phản ánh và xử lý nhanh, nghiêm các nội dung độc hại, đặc biệt là những nội dung có nguy cơ tác động trực tiếp đến trẻ em; đồng thời tiếp tục hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo vệ trẻ em trên môi trường số…
Bên cạnh đó, cơ chế quản lý cũng phải tính đến các “khoảng trống” dễ bị lợi dụng, hạn chế tối đa tình trạng lách luật, vượt qua các rào cản kỹ thuật hoặc sử dụng tài khoản của người khác để tiếp cận những nền tảng, nội dung không phù hợp với lứa tuổi.
Tuy nhiên, pháp luật chỉ tạo ra “hàng rào”. Để “lá chắn” ấy thực sự phát huy hiệu quả, giáo dục mới là yếu tố quyết định.
Trước mỗi năm học mới, việc tập huấn giáo viên và truyền thông tới phụ huynh cần được xem là một phần của công tác chuẩn bị. Giáo viên cần được trang bị kiến thức để hướng dẫn học sinh sử dụng AI và mạng xã hội có trách nhiệm. Phụ huynh cần được hỗ trợ để hiểu rằng quản lý con trên môi trường số không đơn thuần là giới hạn thời gian sử dụng thiết bị, mà còn là đồng hành, trò chuyện và cùng con xây dựng “hệ miễn dịch” số, kỹ năng số.
Ở cấp độ nhà trường, kỹ năng công dân số, sử dụng AI, kiểm chứng thông tin, nhận diện lừa đảo trực tuyến và ứng xử trên môi trường mạng,… cần trở thành những nội dung giáo dục định kỳ. Cùng với đó là tăng cường hoạt động thể thao, nghệ thuật, đọc sách, câu lạc bộ và trải nghiệm thực tế để giúp học sinh cân bằng giữa đời sống số và đời sống thực.
Báo chí, mạng xã hội, các tổ chức xã hội và doanh nghiệp công nghệ cũng cần đồng loạt triển khai những chiến dịch truyền thông bài bản, dài hạn về an toàn số bằng nhiều hình thức truyền tải gần gũi, hấp dẫn thông qua video, infographic, podcast, tọa đàm hay bộ tài liệu hướng dẫn dành cho phụ huynh và học sinh.
Chỉ khi việc “định hướng tư tưởng” được thực hiện thường xuyên, liên tục, theo cách “mưa dầm thấm lâu”, nhận thức và kỹ năng tự bảo vệ mới dần trở thành một thói quen, thay vì chỉ được nhắc đến sau mỗi vụ việc đáng tiếc.
Bên cạnh đó, thông tin về Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 cùng các kênh tiếp nhận phản ánh, tư vấn và hỗ trợ cần được phổ biến rộng rãi để bất kỳ trẻ em nào cũng biết nơi tìm kiếm sự giúp đỡ khi cần.
Điều quan trọng nhất, tôi cho rằng chúng ta không nên tiếp cận vấn đề bằng tư duy “cấm” hay “thả nổi”. Trẻ em có quyền tiếp cận Internet, AI và những thành tựu khoa học công nghệ của nhân loại. Nhưng quyền ấy phải đi cùng một môi trường đủ an toàn, đủ nhân văn và đủ trách nhiệm.
Thiết nghĩ, một xã hội văn minh không đo bằng việc trẻ em sử dụng công nghệ nhiều hay ít, mà bằng việc người lớn đã làm gì, đã tác động ra sao để các em được lớn lên an toàn trong kỷ nguyên số.
Và có lẽ, trước thềm năm học mới, đó là câu hỏi mà không chỉ ngành giáo dục, mà cả gia đình, nhà trường, doanh nghiệp công nghệ và toàn xã hội đều cần cùng nhau trả lời.
Bà Đặng Việt Trinh là chuyên gia truyền thông, hoạt động trong lĩnh vực quản trị truyền thông - thương hiệu, quan hệ báo chí và xử lý khủng hoảng. Bên cạnh công việc chuyên môn, bà thường xuyên có các bài phân tích, bình luận đăng tải trên nhiều cơ quan báo chí, với mối quan tâm đặc biệt đến giáo dục, trí tuệ nhân tạo, phát triển bền vững và những chuyển động xã hội trong thời đại số.
Đặng Việt Trinh
Tin Gốc: Dân Trí
Giáo Dục
Đào tạo gần 4.000 nhân lực điện hạt nhân: Thí sinh xét tuyển cần lưu ý gì?

Theo đó, chuẩn chương trình đào tạo các ngành điện hạt nhân áp dụng với các cơ sở đào tạo tham gia đào tạo nhân lực phục vụ phát triển điện hạt nhân đến năm 2035 theo Quyết định 1012 năm 2025 của Chính phủ, và các cơ sở đào tạo khác có định hướng xây dựng, vận hành các chương trình đào tạo các ngành về điện hạt nhân.
Để xét tuyển vào các ngành về điện hạt nhân ở trình độ ĐH, thí sinh cần tốt nghiệp THPT, trung học nghề hoặc trình độ tương đương theo quy định hiện hành.
Thí sinh tốt nghiệp trung cấp thuộc nhóm ngành phù hợp và đã hoàn thành đủ khối lượng kiến thức văn hóa THPT theo quy định cũng có thể tham gia xét tuyển.
Các phương thức xét tuyển do trường ĐH quy định, có thể bao gồm dựa trên kết quả học tập 3 năm THPT; dựa trên kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT; dựa trên kết quả kỳ thi đánh giá năng lực hoặc đánh giá tư duy do cơ sở đào tạo tổ chức hoặc công nhận; kết hợp các phương thức nêu trên hoặc áp dụng phương thức khác theo quyết định của cơ sở đào tạo.
Thí sinh phải đáp ứng các yêu cầu năng lực tối thiểu áp dụng cho tất cả các phương thức tuyển sinh. Cụ thể, tổ hợp môn hoặc thành phần đánh giá bắt buộc phải có kiến thức toán và vật lý, đạt mức năng lực môn toán và vật lý theo ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào nâng cao do cơ sở đào tạo quy định hằng năm.
Đối với các phương thức có thành phần điểm theo từng môn, điểm môn toán và vật lý phải đạt ngưỡng phân vị cao do cơ sở đào tạo công bố, thể hiện năng lực nền tảng phù hợp với yêu cầu của chương trình đào tạo ngành điện hạt nhân. Trọng số dành cho môn toán tuân theo quy chế tuyển sinh của Bộ GD-ĐT tương ứng với năm tuyển sinh.
Đối với phương thức đánh giá năng lực, đánh giá tư duy, phương thức tổng hợp, thí sinh phải đạt mức điểm ngưỡng nâng cao do cơ sở đào tạo công bố, trong đó phần điểm hoặc cấu phần đánh giá tư duy định lượng phải đạt mức phân vị cao tương đương yêu cầu năng lực môn toán và vật lý.
Khi trúng tuyển, khối lượng học tập tối thiểu đối với chương trình đào tạo cử nhân (bậc 6) tối thiểu 120 tín chỉ, ở chương trình đào tạo kỹ sư (bậc 7) tối thiểu 150 tín chỉ.
Tốt nghiệp ở trình độ ĐH, sinh viên được cấp bằng cử nhân (bậc 6). Với chương trình đào tạo kỹ sư chuyên sâu đặc thù, người học được cấp bằng kỹ sư (bậc 7).
Để đáp ứng các yêu cầu của Khung trình độ quốc gia Việt Nam và đảm bảo khả năng hội nhập trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân, sinh viên tốt nghiệp phải đạt năng lực ngoại ngữ tương đương bậc 3/6 đối với trình độ cử nhân và bậc 4/6 đối với trình độ kỹ sư chuyên sâu đặc thù (bậc 7) theo Khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam hoặc các chứng chỉ quốc tế tương đương.
Dưới đây là danh mục thống kê các ngành phù hợp dùng cho đào tạo trình độ ĐH các ngành về điện hạt nhân:
Tin Gốc: Thanh Niên

