Trước thực trạng nhiều phụ huynh học sinh hiểu chưa đúng về việc tuyển bổ sung lớp 10 THPT công lập của TPHCM, dẫn đến có thể mất quyền lợi học tập của học sinh, trưa ngày 1/7, Sở GD&ĐT TPHCM đã phát đi thông báo quan trọng với thí sinh trúng tuyển và công tác tuyển bổ sung lớp 10 năm học 2026-2027.
Theo đó, Sở GD&ĐT TPHCM thông tin, việc xét tuyển bổ sung lớp 10 chỉ áp dụng đối với học sinh đã rớt cả 3 nguyện vọng, không áp dụng đối với các trường hợp đã trúng tuyển nhưng không thực hiện xác nhận nhập học. Học sinh trúng tuyển nguyện vọng nào thì sẽ học nguyện vọng đó. Thành phố hiện nay không có chủ trương hạ điểm chuẩn để tuyển bổ sung.
“Mục tiêu của việc tuyển bổ sung là nhằm tạo thêm cơ hội cho học sinh không trúng tuyển bất kỳ nguyện vọng nào trong kỳ thi tuyển sinh 10 được có thêm cơ hội học tập tại trường công lập. Việc xét tuyển bổ sung sẽ được TPHCM căn cứ vào tình hình thực tế nộp hồ sơ tại các trường, tùy tình hình thực tế”, Sở GD&ĐT TPHCM nhấn mạnh.
Từ đó, lãnh đạo Sở GD&ĐT TPHCM đề nghị các trường nhắc nhở giáo viên chủ nhiệm lớp 9, cán bộ tư vấn tại các trường THPT tư vấn kỹ cho phụ huynh và học sinh, tránh tình trạng phụ huynh không nộp hồ sơ, chờ đợi qua ngày 15/7.
“Sau ngày 15/7, hệ thống đăng ký nhập học sẽ khóa và học sinh sẽ không thể nộp hồ sơ nhập học. Điều này có nghĩa là các em từ chối cơ hội nhập học, sẽ bị loại khỏi danh sách trúng tuyển”, Sở GD&ĐT TPHCM nêu rõ.
Hôm qua (ngày 30/6), Sở GD&ĐT TPHCM đã công bố điểm chuẩn vào lớp 10 tại 176 trường THPT công lập, với tỷ lệ trúng tuyển lên trên 100%.
Theo kế hoạch, từ 15h ngày 2/7 đến 17h ngày 15/7 thí sinh sẽ xác nhận nhập học trực tuyến vào các trường THPT trúng tuyển tại địa chỉ: https://ts10.hcm.edu.vn và thực hiện thủ tục nhập học trực tiếp tại trường THPT đã xác nhận trực tuyến.
Trong thời gian trên, trường hợp phụ huynh và học sinh không xác nhận hoặc đã xác nhận trực tuyến nhưng không hoàn thành thủ tục nhập học, thí sinh sẽ bị loại khỏi danh sách trúng tuyển.
Ngày 18/7, các trường THPT và Sở GD&ĐT sẽ báo cáo nhu cầu và số lượng tuyển bổ sung lớp 10 theo tình hình thực tế nhập học của từng trường.
Yến Hoa
Tin Gốc: Dân Trí

Tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, đánh giá: "Nếu nhìn lại khoảng 30 năm qua, có thể thấy khu vực ĐH tư thục VN đã có bước phát triển rất đáng ghi nhận. Từ chỗ chỉ được xem là lực lượng bổ sung cho hệ thống công lập, nhiều trường hiện nay đã có quy mô đào tạo hàng chục nghìn sinh viên (SV), sở hữu cơ sở vật chất hiện đại, có năng lực quốc tế hóa tốt, thương hiệu ngày càng được xã hội ghi nhận và đóng góp ngày càng lớn cho giáo dục ĐH".
Tuy nhiên, nếu đặt mục tiêu lớn mạnh về uy tín, tiến sĩ Tuấn cho rằng các trường ĐH tư thục VN vẫn đang thiếu một số yếu tố mang tính chiến lược.
Điều đầu tiên và quan trọng nhất là chiều sâu học thuật. Trong nhiều năm qua, không ít trường đã đầu tư rất mạnh cho cơ sở vật chất, công nghệ, trải nghiệm SV và hoạt động tuyển sinh. Tuy nhiên, uy tín của một trường ĐH trong dài hạn không được quyết định bởi quy mô khuôn viên hay số lượng người học mà bằng những đóng góp tri thức trường tạo ra cho xã hội.
Thứ hai là nguồn lực tài chính học thuật dài hạn. Hiện nay, đa số trường ĐH tư thục VN vẫn đang vận hành chủ yếu dựa trên nguồn thu học phí. Điều này khiến các trường luôn chịu áp lực lớn về tuyển sinh, duy trì quy mô và bảo đảm nguồn thu để vận hành.
Tiếp đến là thiếu các hệ sinh thái cựu SV đủ mạnh. Những ĐH lớn trên thế giới thường có hàng trăm nghìn cựu SV thành đạt đang giữ vai trò lãnh đạo trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học và xã hội. Chính cộng đồng này không chỉ tạo nên uy tín cho trường mà còn quay trở lại đóng góp nguồn lực tài chính, cơ hội nghề nghiệp, nghiên cứu và ảnh hưởng xã hội. Trong khi đó, phần lớn ĐH tư thục VN mới phát triển mạnh khoảng 2 - 3 thập niên trở lại đây. Nhiều trường chưa có đủ thời gian để hình thành mạng lưới cựu SV có sức ảnh hưởng lớn.
Chưa kể nhiều trường hiện nay vẫn đang trong quá trình mở rộng đa ngành và phát triển quy mô nên chưa thực sự hình thành được bản sắc học thuật nổi bật để tạo khác biệt trên bản đồ giáo dục ĐH. Và cuối cùng, một ĐH mạnh không chỉ cần chất lượng đào tạo tốt mà còn phải tạo được niềm tin lâu dài với xã hội, người học, phụ huynh, doanh nghiệp và các nhà khoa học.
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Anh, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ TP.HCM, cho rằng ĐH tư thục VN đang ở giai đoạn phát triển rất tích cực và ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng, không thể thiếu trong hệ thống giáo dục ĐH quốc gia.
"Về lợi thế, điểm nổi bật nhất là khả năng thích ứng nhanh. Các trường tư thục có thể mạnh dạn mở ngành đào tạo mới phù hợp nhu cầu xã hội, đầu tư mạnh vào công nghệ, đẩy mạnh quốc tế hóa chương trình và chủ động hợp tác với doanh nghiệp để nâng cao cơ hội việc làm thực tế cho SV ngay sau khi tốt nghiệp. Cơ chế quản trị linh hoạt cũng giúp các trường triển khai nhanh các mô hình đào tạo sáng tạo, cải thiện liên tục trải nghiệm người học và đầu tư bài bản cho cơ sở vật chất, môi trường học tập hiện đại", tiến sĩ Quốc Anh đánh giá.
Thách thức lớn nhất hiện nay của hệ thống trường tư thục, theo ông Quốc Anh, vẫn là nhận thức xã hội. Tâm lý ưu tiên trường công lập vẫn tồn tại trong một bộ phận phụ huynh và người học, dù thực tế đã thay đổi rất nhiều. Bên cạnh đó, phần lớn các trường ĐH tư thục còn tương đối trẻ so với các trường công lập có lịch sử lâu đời, nên cần thêm thời gian để tích lũy truyền thống học thuật, thành tựu nghiên cứu, đội ngũ chuyên gia đầu ngành và mạng lưới cựu SV đủ lớn, đủ mạnh để tạo ra sức ảnh hưởng thực sự trong xã hội.
Tiến sĩ Trần Đức Cảnh, nguyên thành viên Hội đồng quốc gia Giáo dục và phát triển nhân lực nhiệm kỳ 2016 - 2021, chuyên gia nghiên cứu về giáo dục ĐH tư thục, nhận định đất nước đang chuyển sang một giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng cao, cùng với sự bùng nổ của công nghệ và hội nhập thế giới. Nếu ĐH tư thục VN biết tận dụng tốt sẽ phát triển rất nhanh.
"VN có lợi về quy mô dân số và nguồn nhân lực năng động, cần chính sách vĩ mô và cơ cấu tổ chức vận hành tốt để có thể bứt phá nhanh. Giai đoạn 2021 - 2045, hệ thống tư thục sẽ hoàn thiện, chuẩn hóa, phân tầng các trường, nâng cao chất lượng, đầu tư nghiên cứu, quản trị và quản lý tốt hơn", tiến sĩ Cảnh nhận định.
PGS-TS Nguyễn Huy Vị, nguyên Phó hiệu trưởng Trường ĐH Phú Yên, nguyên giảng viên cao cấp Khoa Giáo dục Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho rằng mối quan hệ nhà nước với giáo dục ĐH tư ở VN hiện nay chứa đựng nhiều nghịch lý như: Khung pháp lý còn nhiều ràng buộc, nút thắt khiến cho giáo dục ĐH tư khó phát triển. "Nỗ lực lập pháp trong suốt gần 3 thập niên qua theo định hướng khai thông giáo dục ĐH tư rất đáng được ghi nhận nhưng trên thực tế kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng của lĩnh vực này", ông Vị cho hay.
Theo ông Vị, các văn bản pháp lý cũng không rõ ràng, chưa phù hợp với thực tiễn VN và xu thế hội nhập quốc tế, vừa khó hiểu không chỉ đối với các cơ sở giáo dục ĐH tư mà còn cả đối với công chúng, nhất là SV và phụ huynh.
"Bên cạnh đó là những quy định cứng về mở trường, mở ngành... Đồng thời những ưu thế của giáo dục ĐH công mà phần nhiều do chính sách tạo ra đã làm cho các nhà đầu tư cảm thấy bất an khi muốn tham gia lĩnh vực giáo dục ĐH tư", PGS-TS Nguyễn Huy Vị nhìn nhận.
Từ kinh nghiệm thực tiễn giáo dục ĐH tư của thế giới, ông Vị đề xuất điều chỉnh lại mối quan hệ giữa nhà nước và giáo dục ĐH tư theo hướng chuyển đổi vai trò của nhà nước từ kiểm soát sang giám sát, hỗ trợ. "Nhà nước giữ vai trò thiết kế các công cụ chính sách; tác động, điều tiết giáo dục ĐH bằng các chính sách khung; tạo lập sân chơi công bằng, bình đẳng cho giáo dục ĐH công lẫn tư. Mối quan hệ giữa nhà nước và giáo dục ĐH tư sẽ không bao giờ đạt tới mục tiêu kỳ vọng nếu không được xây dựng trên các căn cứ pháp lý rõ ràng. Có thể rút ra những nguyên tắc chỉ đạo nhằm thể chế hóa mục tiêu giáo dục ĐH tư một cách rõ ràng hơn, như là phân biệt rõ giữa ĐH tư vì lợi nhuận và không vì lợi nhuận", ông Vị chia sẻ.
Theo PGS-TS Nguyễn Huy Vị, giáo dục ĐH tư cũng phải cam kết với nhà nước về thực thi sứ mệnh phục vụ lợi ích chung của quốc gia, chia sẻ và hợp tác có trách nhiệm với giáo dục ĐH công. Đồng thời, thiết lập và vận hành hiệu quả các cơ chế về công khai, minh bạch; quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình; đảm bảo và kiểm định chất lượng; phân tầng, xếp hạng...
Tiến sĩ Trần Đức Cảnh cho biết mô hình phát triển ĐH tư của Malaysia có nhiều điểm tương đồng với VN. Tuy nhiên, để đạt mô hình tăng trưởng như Malaysia thì trường ĐH tư của VN phải cải thiện chất lượng thật sự và tạo sự tin tưởng trong xã hội. Bên cạnh đó, mô hình quản trị, quản lý phải tốt và chuyên nghiệp hơn, giảm thiểu tính bất ổn do sự chen sâu hay kiểm soát quá mức của cá nhân, gia đình, nhóm cổ đông, chính là do yếu tố tài chính, lợi nhuận ngắn hạn.
Cùng với đó, theo tiến sĩ Cảnh, VN cần chính sách đầu tư vào những "con sếu đầu đàn" không phân biệt trường công hay tư. Vai trò của nhà nước là làm chính sách và quản lý vĩ mô, giúp tạo môi trường và động lực sáng tạo, cũng như tính minh bạch cho các trường qua kiểm định chất lượng, giảm các tiêu chí mang tính cơ học, các thủ tục và yêu cầu lắt nhắt.
Đặc biệt, ông Cảnh cho rằng VN phải phát triển mô hình không vì lợi nhuận (non-profit) thật sự, tạo khác biệt rõ ràng giữa "kinh doanh giáo dục" và "đầu tư vào cơ sở trường vì mục đích giáo dục".
Tin Gốc: Thanh Niên

Cấp thiết hoàn thiện hành lang pháp lý để bảo vệ trẻ em trên môi trường số
Suốt nhiều năm, khi nói đến việc bảo vệ trẻ em trên Internet, người ta thường nhấn mạnh vào giáo dục kỹ năng như nhận biết tin giả, bảo vệ thông tin cá nhân hay ứng xử văn minh trên mạng… Những điều đó vẫn đúng, nhưng trước bối cảnh hiện nay, có lẽ chỉ như vậy là chưa đủ.
Phát biểu gần đây của Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn cho thấy tư duy quản lý đang có sự thay đổi đáng chú ý. Theo Bộ trưởng, không gian mạng đã trở thành nơi học sinh dành nhiều thời gian để học tập, giao lưu và tiếp cận thông tin. Tuy nhiên, sự phát triển rất nhanh của mạng xã hội và các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) cũng đặt ra những thách thức mới trong công tác bảo vệ trẻ em.
Do vậy, việc xây dựng các quy định quản lý trẻ em tiếp cận mạng xã hội và AI là bước chuyển cần thiết trong tư duy bảo vệ trẻ em trên môi trường số. Nếu trước đây trọng tâm là trang bị kỹ năng cho trẻ, thì nay giáo dục phải đi cùng pháp luật, giải pháp công nghệ, trách nhiệm của các nền tảng số và sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường với cơ quan quản lý. Nói cách khác, bảo vệ trẻ em trên môi trường số cần một hệ sinh thái bảo vệ nhiều tầng, thay vì những nỗ lực đơn lẻ, rời rạc.
Thông điệp ấy cho thấy một sự dịch chuyển trong tư duy. “Trường học an toàn” hôm nay không đơn thuần giới hạn trong hàng rào trường học, cũng không dừng lại ở việc giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, mà còn bao gồm việc bảo vệ học sinh trong môi trường số.
Một học sinh có thể không gặp bạo lực trong lớp học, nhưng vẫn đối diện với bắt nạt trên mạng, nội dung độc hại, lừa đảo trực tuyến, thông tin sai lệch hay những thuật toán liên tục giữ các em ở lại màn hình nhiều giờ mỗi ngày. Nếu những rủi ro ấy không được nhận diện như một phần của an toàn học đường, khái niệm “trường học an toàn” sẽ trở nên thiếu trọn vẹn.
Đây cũng là lý do nhiều quốc gia đã vào cuộc mạnh mẽ, với nhiều giải pháp thiết thực. Trọng tâm của các chính sách này xoay quanh việc quy định độ tuổi tối thiểu để sử dụng mạng xã hội, yêu cầu xác minh độ tuổi, tăng trách nhiệm của các nền tảng công nghệ hoặc thiết lập tài khoản trẻ em ở chế độ bảo mật cao hơn… Điểm chung là không đặt toàn bộ gánh nặng tự bảo vệ lên vai trẻ em hay cha mẹ, mà buộc cả hệ thống cùng tham gia bảo vệ trẻ.
Ở Việt Nam hiện chưa có địa phương nào ban hành quy định cấm trẻ em sử dụng mạng xã hội theo nghĩa pháp lý đầy đủ. Tuy nhiên, nhiều trường học và địa phương đã bắt đầu siết việc học sinh sử dụng điện thoại trong trường học. Trong khi đó, đề xuất hạn chế hoặc cấm trẻ em tiếp cận một số nền tảng mạng xã hội vẫn đang ở giai đoạn nghiên cứu, thảo luận chính sách nhưng đã nhận được sự quan tâm lớn từ dư luận.
Không ít phụ huynh bày tỏ sự đồng tình với việc cần có những giới hạn rõ ràng hơn để bảo vệ trẻ em trên môi trường số, miễn là các quy định ấy được xây dựng khoa học, khả thi và không cản trở nhu cầu học tập, tiếp cận tri thức của các em.
Mới đây, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Thoa (đoàn Hải Phòng) đã đề nghị nghiên cứu các giải pháp phù hợp, trong đó có phương án hạn chế hoặc cấm trẻ em sử dụng một số nền tảng mạng xã hội phổ biến. Cùng với đó, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cũng tiến hành khảo sát tại một số địa phương như Đắk Lắk, Hưng Yên, Hải Phòng... về việc thực hiện chính sách, pháp luật bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.
Những động thái liên tiếp này là tín hiệu đáng mừng, bởi điều quan trọng không đơn thuần là có thêm đề xuất hay khảo sát, mà là việc bảo vệ trẻ em trên môi trường số đã bước ra khỏi phạm vi những lời khuyến nghị để trở thành một nội dung chính sách. Đây là tiền đề để Việt Nam tham khảo kinh nghiệm quốc tế, đồng thời hoàn thiện hành lang pháp lý và xây dựng cơ chế bảo vệ trẻ em trên môi trường số phù hợp với điều kiện thực tiễn trong nước.
Cần “lá chắn” nhiều tầng cho trẻ em trên môi trường số
Bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng không thể chỉ là trách nhiệm của cha mẹ. Cũng không thể chỉ giao cho nhà trường hay chờ đợi sự tự giác của các nền tảng công nghệ. Điều mà chúng ta cần lúc này là xây dựng một hệ sinh thái toàn diện, đồng bộ, nhất quán bảo vệ trẻ em trên môi trường số phù hợp với điều kiện Việt Nam và xu thế trên thế giới.
Để làm được điều đó, trước hết cần sớm hoàn thiện khung pháp lý theo hướng quy định rõ trách nhiệm của các nền tảng trong việc bảo vệ người dùng chưa thành niên; nghiên cứu các giải pháp công nghệ như xác minh độ tuổi, thiết lập chế độ mặc định an toàn cho tài khoản trẻ em; tăng cường cơ chế báo cáo, tiếp nhận phản ánh và xử lý nhanh, nghiêm các nội dung độc hại, đặc biệt là những nội dung có nguy cơ tác động trực tiếp đến trẻ em; đồng thời tiếp tục hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo vệ trẻ em trên môi trường số…
Bên cạnh đó, cơ chế quản lý cũng phải tính đến các “khoảng trống” dễ bị lợi dụng, hạn chế tối đa tình trạng lách luật, vượt qua các rào cản kỹ thuật hoặc sử dụng tài khoản của người khác để tiếp cận những nền tảng, nội dung không phù hợp với lứa tuổi.
Tuy nhiên, pháp luật chỉ tạo ra “hàng rào”. Để “lá chắn” ấy thực sự phát huy hiệu quả, giáo dục mới là yếu tố quyết định.
Trước mỗi năm học mới, việc tập huấn giáo viên và truyền thông tới phụ huynh cần được xem là một phần của công tác chuẩn bị. Giáo viên cần được trang bị kiến thức để hướng dẫn học sinh sử dụng AI và mạng xã hội có trách nhiệm. Phụ huynh cần được hỗ trợ để hiểu rằng quản lý con trên môi trường số không đơn thuần là giới hạn thời gian sử dụng thiết bị, mà còn là đồng hành, trò chuyện và cùng con xây dựng “hệ miễn dịch” số, kỹ năng số.
Ở cấp độ nhà trường, kỹ năng công dân số, sử dụng AI, kiểm chứng thông tin, nhận diện lừa đảo trực tuyến và ứng xử trên môi trường mạng,… cần trở thành những nội dung giáo dục định kỳ. Cùng với đó là tăng cường hoạt động thể thao, nghệ thuật, đọc sách, câu lạc bộ và trải nghiệm thực tế để giúp học sinh cân bằng giữa đời sống số và đời sống thực.
Báo chí, mạng xã hội, các tổ chức xã hội và doanh nghiệp công nghệ cũng cần đồng loạt triển khai những chiến dịch truyền thông bài bản, dài hạn về an toàn số bằng nhiều hình thức truyền tải gần gũi, hấp dẫn thông qua video, infographic, podcast, tọa đàm hay bộ tài liệu hướng dẫn dành cho phụ huynh và học sinh.
Chỉ khi việc “định hướng tư tưởng” được thực hiện thường xuyên, liên tục, theo cách “mưa dầm thấm lâu”, nhận thức và kỹ năng tự bảo vệ mới dần trở thành một thói quen, thay vì chỉ được nhắc đến sau mỗi vụ việc đáng tiếc.
Bên cạnh đó, thông tin về Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 cùng các kênh tiếp nhận phản ánh, tư vấn và hỗ trợ cần được phổ biến rộng rãi để bất kỳ trẻ em nào cũng biết nơi tìm kiếm sự giúp đỡ khi cần.
Điều quan trọng nhất, tôi cho rằng chúng ta không nên tiếp cận vấn đề bằng tư duy “cấm” hay “thả nổi”. Trẻ em có quyền tiếp cận Internet, AI và những thành tựu khoa học công nghệ của nhân loại. Nhưng quyền ấy phải đi cùng một môi trường đủ an toàn, đủ nhân văn và đủ trách nhiệm.
Thiết nghĩ, một xã hội văn minh không đo bằng việc trẻ em sử dụng công nghệ nhiều hay ít, mà bằng việc người lớn đã làm gì, đã tác động ra sao để các em được lớn lên an toàn trong kỷ nguyên số.
Và có lẽ, trước thềm năm học mới, đó là câu hỏi mà không chỉ ngành giáo dục, mà cả gia đình, nhà trường, doanh nghiệp công nghệ và toàn xã hội đều cần cùng nhau trả lời.
Bà Đặng Việt Trinh là chuyên gia truyền thông, hoạt động trong lĩnh vực quản trị truyền thông - thương hiệu, quan hệ báo chí và xử lý khủng hoảng. Bên cạnh công việc chuyên môn, bà thường xuyên có các bài phân tích, bình luận đăng tải trên nhiều cơ quan báo chí, với mối quan tâm đặc biệt đến giáo dục, trí tuệ nhân tạo, phát triển bền vững và những chuyển động xã hội trong thời đại số.
Đặng Việt Trinh
Tin Gốc: Dân Trí

Theo Thanh Niên phân tích từ dữ liệu điểm thi tốt nghiệp THPT 2026, Tuyên Quang có 9.113 thí sinh điểm dưới trung bình môn toán, chiếm 51,8% số thí sinh toàn tỉnh, trong đó có 6 bạn bị điểm liệt (từ 1 trở xuống).
Điểm trung bình của toàn tỉnh là 5,069, xếp thứ 22 toàn quốc. Trong đó, mốc 5 điểm là kết quả nhiều thí sinh Tuyên Quang đạt được nhất.
Với mức khá giỏi, tỉnh này có 1.713 bạn đạt điểm từ 8 trở lên, chiếm 9,7%, với tổng cộng 154 bài thi đạt điểm 10. Thành tích này giúp Tuyên Quang vươn lên đứng thứ 11 về số lượng điểm tuyệt đối môn toán.
Với môn tiếng Anh, Tuyên Quang gây bất ngờ khi lần đầu vào top 2 địa phương có điểm trung bình cao nhất nước, ở mức 5,397 và đẩy TP.HCM xuống hạng 3. Nếu tính chung tất cả môn thi ngoại ngữ, điểm trung bình tỉnh này là 5,372 và xếp thứ 3 toàn quốc, sau Hà Nội và TP.HCM.
Môn thi khác mà Tuyên Quang có điểm trung bình đứng thứ 2 toàn quốc là hóa, ở mức 6,766. Đây cũng là môn có đến 26,4% thí sinh toàn tỉnh đạt điểm từ 8 trở lên, với tổng cộng 543 bạn, cao hơn 1,8 lần so với số thí sinh điểm dưới trung bình (299 bạn, chiếm 14,5%). Điểm hóa mà nhiều thí sinh đạt được nhất là 7,25.
Ở môn lý, Tuyên Quang vào top 9 cả nước về mức điểm trung bình (5,827), trong khi đứng top 8 toàn quốc về số bài thi đạt điểm 10 môn sinh (4). Tỉnh này cũng có một điểm 10 môn tin học, đứng thứ 7 toàn quốc.
Với nhóm khoa học xã hội, Tuyên Quang lần lượt giữ vị trí thứ 8 và 9 toàn quốc về điểm trung bình môn sử và địa. Tỉnh này cũng lọt vào top 9 địa phương có nhiều điểm 10 nhất ở môn thi công nghệ - nông nghiệp.
Ở môn văn, Tuyên Quang có 16,8% thí sinh dưới điểm trung bình và 9% thí sinh đạt điểm từ 8 trở lên. Tỷ lệ này ở các môn giáo dục kinh tế và pháp luật, công nghệ - công nghiệp lần lượt là 51,5%/0,9% và 10,5%/8,1%.
Năm 2026, toàn tỉnh Tuyên Quang có 17.896 thí sinh dự thi, với điểm trung bình tất cả các môn thi ở mức 5,725 - xếp thứ 17 cả nước.
Tin Gốc: Thanh Niên

