Ngày 7-4, Thành ủy TP.HCM tổ chức hội nghị công bố quyết định về công tác cán bộ. Hội nghị do Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM Nguyễn Phước Lộc chủ trì.
Tại hội nghị, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM (khóa XV, nhiệm kỳ 2021-2026) Nguyễn Thị Ngọc Xuân đã nhận quyết định của Ban Thường vụ Thành ủy, được điều động đến nhận công tác tại cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM. Bà Xuân được giới thiệu giữ chức vụ Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ TP.HCM và hiệp thương giữ chức vụ Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Xuân sinh năm 1985 tại TP.HCM, có trình độ thạc sĩ quản lý hành chính công, cử nhân hành chính học.
Bà Xuân từng đảm nhiệm các chức vụ: Phó chủ tịch HĐND huyện Tân Uyên; Phó bí thư, Bí thư Tỉnh Đoàn Bình Dương; Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Dương (nhiệm kỳ 2015-2020, nhiệm kỳ 2020-2025), Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Dương, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM…
Cũng tại hội nghị, Phó trưởng Ban Văn hóa – Xã hội, HĐND TP.HCM (nhiệm kỳ 2021-2026) Nguyễn Minh Nhựt nhận quyết định của UBND TP.HCM đến nhận công tác tại Hội Chữ thập đỏ TP.HCM, để giới thiệu bầu giữ chức vụ Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ TP.HCM.
Ông Nguyễn Minh Nhựt sinh năm 1984 tại TPHCM, có trình độ chuyên môn tiến sĩ xã hội học, cử nhân chính trị học, cử nhân ngôn ngữ Anh.
Ông Nhựt từng đảm nhiệm các chức vụ: Phó trưởng ban Ban Đô thị HĐND TP.HCM (nhiệm kỳ 2016-2021), Phó trưởng ban Ban Văn hóa – Xã hội, HĐND TP.HCM (nhiệm kỳ 2021-2026).
Theo báo Sài Gòn Giải Phóng, sau khi trao quyết định điều động cán bộ, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM Nguyễn Phước Lộc đề nghị bà Nguyễn Thị Ngọc Xuân và ông Nguyễn Minh Nhựt khi nhận nhiệm vụ mới cần nhận thức sâu sắc về bối cảnh hiện nay.
Thành phố đang đòi hỏi sự bứt phá, tăng tốc phát triển dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển kết cấu hạ tầng.
Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM Nguyễn Phước Lộc đề nghị hai cán bộ nhận nhiệm vụ mới cần nghiên cứu sâu sát tiêu chuẩn cán bộ theo chức danh và thực hiện theo nguyên tắc “6 rõ”: rõ việc, rõ người, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ kết quả.
Và “3 có”: có sự hỗ trợ của Nhà nước, có sự đóng góp của Nhân dân, có sự tham gia của cả hệ thống. “4 không”: không lãng phí một ngày, không chậm trễ một tuần, không bỏ lỡ cơ hội trong một tháng, không để bị động trong cả năm.
Cùng với đó bám sát chương trình hành động, nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố và nghị quyết của từng tổ chức nhiệm kỳ 2025-2030 để thực hiện…

Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến cho dự thảo luật Đấu giá tài sản (sửa đổi), trong đó đề xuất điều chỉnh quy định về niêm yết và thông báo công khai việc đấu giá tài sản. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc xem xét bỏ niêm yết đấu giá tài sản tại UBND cấp xã.
Theo Bộ Tư pháp, từ tháng 4.2020, cổng đấu giá tài sản quốc gia đã được đưa vào vận hành và sử dụng ổn định. Thống kê đến tháng 3.2026 cho thấy đã có hơn 93.000 thông báo lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản và hơn 526.000 thông báo đấu giá tài sản được đăng tải trên cổng đấu giá tài sản quốc gia. Việc xây dựng cổng nhằm khắc phục các tiêu cực trong hoạt động đấu giá, đáp ứng yêu cầu phát triển nghề đấu giá trong bối cảnh mới, đồng thời tiếp cận xu hướng xử lý tài sản công trên thế giới.
Thực tế cho thấy cổng đấu giá tài sản quốc gia đã phát huy hiệu quả việc công khai, minh bạch trong hoạt động đấu giá. Người dân, cơ quan, tổ chức đánh giá cao kênh thông tin này, đồng thời đây cũng là đầu mối để cơ quan quản lý nhà nước tiếp nhận trực tiếp, kịp thời các phản ánh, kiến nghị về hành vi vi phạm trong đấu giá, từ đó có biện pháp xử lý phù hợp.
Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp đề xuất sửa đổi quy định niêm yết và thông báo công khai việc đấu giá tài sản trong luật Đấu giá tài sản hiện hành.
Cụ thể, tại điều 29 dự thảo luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) quy định về niêm yết việc đấu giá, nội dung sửa đổi theo hướng làm rõ, minh bạch các địa điểm niêm yết, bảo đảm hiệu quả phổ biến thông tin và thuận lợi cho người dân tiếp cận.
Tại điều 30 dự thảo về thông báo công khai việc đấu giá tài sản, quy định sửa đổi khoản 1 điều 57 theo hướng bỏ quy định đăng báo in hoặc báo hình; đồng thời tất cả tài sản đấu giá phải được thông báo công khai trên cổng đấu giá tài sản quốc gia.
Dù phát huy hiệu quả, song theo lãnh đạo Sở Tư pháp TP.HCM, để nâng cao chất lượng đấu giá tài sản, cần tiếp tục hoàn thiện, nâng cấp cổng đấu giá tài sản quốc gia và phần mềm quản lý đấu giá.
Theo khoản 1 điều 28 luật Đấu giá tài sản, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được cấp giấy đăng ký hoạt động, doanh nghiệp đấu giá tài sản phải công bố nội dung đăng ký hoạt động trên cổng đấu giá tài sản quốc gia. Tuy nhiên, thực tế Sở Tư pháp TP.HCM ghi nhận phản ánh của các tổ chức hành nghề đấu giá về việc không tìm thấy tính năng đăng tải, công bố nội dung này trên cổng.
Ngoài ra, hệ thống vẫn xảy ra tình trạng lỗi kết nối, lỗi hệ thống; thông tin cập nhật chưa chính xác, kịp thời. Một số chức năng như đăng báo cáo số vụ việc đấu giá phục vụ lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá còn chưa ổn định, khó tìm kiếm; việc đăng tải các tệp tin dung lượng lớn mất nhiều thời gian.
Phần mềm quản lý lĩnh vực đấu giá tài sản của Bộ Tư pháp cũng được phản ánh vận hành chưa ổn định, gây khó khăn trong tra cứu, cập nhật dữ liệu các tổ chức hành nghề đấu giá.
Một nội dung khác được đề xuất là bãi bỏ việc niêm yết đối với tài sản là bất động sản tại UBND cấp xã nơi có tài sản đấu giá, theo quy định tại khoản 1 điều 35 luật Đấu giá tài sản. Thay vì thực hiện niêm yết thì luật chỉ nên yêu cầu các tổ chức hành nghề đấu giá tài sản là bất động sản phải gửi văn bản đính kèm thông báo, quy chế cuộc đấu giá đến UBND cấp xã biết để thực hiện chức trách, nhiệm vụ quản lý nhà nước. Bởi theo nhận định, việc niêm yết ở xã còn có nhiều bất cập. Theo khoản 3 điều 35 luật Đấu giá tài sản, đối với việc niêm yết bất động sản tại UBND cấp xã, tổ chức hành nghề đấu giá có thể lựa chọn một trong hai hình thức: lưu tài liệu, hình ảnh về việc niêm yết hoặc lập văn bản có xác nhận của UBND cấp xã. Hiện nay, "giấy xác nhận niêm yết" được thực hiện theo mẫu ban hành kèm Thông tư số 19 năm 2024 của Bộ Tư pháp.
Tuy nhiên, theo ông Trần Văn Hào, Phó giám đốc Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản TP.HCM, trên thực tế, việc xác nhận niêm yết tại các UBND cấp xã chưa thống nhất. Có nơi xác nhận theo mẫu và trả ngay, nhưng cũng có nơi chỉ xác nhận khi hết thời hạn niêm yết, buộc tổ chức đấu giá phải quay lại nhận giấy, làm tăng chi phí và thời gian, nhất là trong bối cảnh sáp nhập, tổ chức lại đơn vị hành chính.
Ông Hào đề xuất trường hợp vẫn giữ nguyên quy định hiện hành thì đề nghị sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn, hoặc có chế tài phù hợp để việc niêm yết tại UBND cấp xã trở nên thiết thực, hiệu quả, thống nhất; đồng thời tiết kiệm công sức cho tổ chức đấu giá và chi phí cho người có tài sản.
Sở Tư pháp TP.HCM cũng cho rằng thẩm quyền xác nhận việc niêm yết, kết thúc niêm yết hiện chưa thống nhất; có nơi UBND cấp xã thực hiện xác nhận, có nơi trung tâm phục vụ hành chính công thực hiện.
Trong khi đó tại một số địa phương, UBND cấp xã và trung tâm phục vụ hành chính công không cùng địa điểm, cách xa nhau, hoặc tổ chức đấu giá phải lấy số, xếp hàng như thực hiện thủ tục hành chính, gây thêm khó khăn trong quá trình thực hiện.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Hoàn thành rà soát, xây dựng phương án sắp xếp thôn, tổ dân phố trước 10/6

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký ban hành Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 20/5 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố.
Theo chỉ thị, sau khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã năm 2025, số lượng thôn, tổ dân phố bình quân tại mỗi xã, phường tăng lên nhiều, tạo áp lực lớn cho công tác quản lý ở cơ sở.
Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương thực hiện việc sắp xếp lại thôn, tổ dân phố bảo đảm phù hợp với tiêu chí, điều kiện theo quy định của Chính phủ và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, đồng thời phải xem xét đầy đủ các yếu tố lịch sử, văn hóa, phong tục, điều kiện địa lý, quốc phòng, an ninh và sự gắn kết cộng đồng dân cư, nhất là tại miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Quá trình triển khai phải bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để phát sinh điểm nóng, vụ việc phức tạp ở cơ sở; đồng thời giữ gìn khối đoàn kết cộng đồng và củng cố niềm tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước.
Chỉ thị nhấn mạnh việc bố trí, sử dụng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, đúng quy định; thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách để ổn định tư tưởng, quyền lợi cho lực lượng này trong quá trình sắp xếp,...
Thủ tướng cũng yêu cầu đẩy mạnh tuyên truyền, tạo đồng thuận xã hội, bảo đảm người dân được tham gia góp ý, giám sát việc sắp xếp thôn, tổ dân phố theo quy định về dân chủ ở cơ sở.
UBND các tỉnh, thành phố phải hoàn thành rà soát, xây dựng phương án tổng thể sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố trước ngày 10/6.
UBND cấp xã phải hoàn thành đề án sắp xếp thôn, tổ dân phố, lấy ý kiến nhân dân và trình HĐND cấp xã thông qua trước ngày 30/6.
Đáng chú ý, chỉ thị yêu cầu kết thúc hoạt động đối với người hoạt động không chuyên trách cấp xã trước ngày 31/5; đồng thời hoàn thành việc bố trí, sử dụng và giải quyết chế độ, chính sách trước ngày 30/6.
Bộ Nội vụ được giao hoàn thiện đề án và tham mưu Chính phủ ban hành nghị định mới về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố cùng chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách trước ngày 26/5.
Bộ Công an có trách nhiệm phối hợp với địa phương nắm tình hình an ninh trật tự, rà soát số liệu dân cư và hướng dẫn kiện toàn lực lượng bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở phù hợp với việc sắp xếp thôn, tổ dân phố trước ngày 25/5.
Tin Gốc: Dân Trí
Thời Sự
Bài phát biểu 19 lần nhắc về 'hòa bình' của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ở Đối thoại Shangri-La

Tối 29-5, tại Singapore, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có bài phát biểu dẫn đề ở Đối thoại Shangri-La lần thứ 23 - diễn đàn có uy tín và ảnh hưởng lớn đối với các vấn đề hòa bình, an ninh và cấu trúc khu vực.
Bài phát biểu tập trung vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương, quan điểm và đề xuất của Việt Nam trước bối cảnh hiện tại. Xuyên suốt phát biểu là một tinh thần hành động: hòa bình không thể thụ động chờ đợi, mà phải được chủ động kiến tạo; ổn định không thể chỉ dựa vào răn đe, mà phải được nuôi dưỡng bằng luật lệ, đối thoại, tự kiềm chế và lòng tin; còn phát triển không thể đứng ngoài an ninh, mà ngược lại phải là nền tảng cho an ninh bền vững.
Tuổi Trẻ Online trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu với nhiều thông điệp quan trọng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm:
CHỦ ĐỘNG KIẾN TẠO HÒA BÌNH - ỔN ĐỊNH - PHÁT TRIỂN TRONG MỘT THẾ GIỚI NHIỀU BIẾN ĐỘNG
Thưa Ngài Lawrence Wong, Thủ tướng nước chủ nhà Singapore,
Thưa Tiến sĩ Bastian Giegerich, Tổng giám đốc Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS),
Thưa quý vị và các bạn.
Trước hết, tôi trân trọng cảm ơn Chính phủ Singapore và Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế đã dành cho tôi vinh dự phát biểu tại phiên khai mạc của diễn đàn quan trọng này. Trong hơn hai thập kỷ qua, Đối thoại Shangri-La đã trở thành không gian đối thoại hàng đầu về an ninh khu vực, nơi các quốc gia cùng chia sẻ nhận định, lắng nghe nghiêm túc và tìm kiếm những cách tiếp cận có trách nhiệm cho hòa bình, ổn định và phát triển.
Chúng ta gặp nhau vào thời điểm thế giới đứng trước nhiều rủi ro, bất định: kết nối rộng hơn nhưng dễ tổn thương hơn; công nghệ tiến bộ hơn nhưng rủi ro lạm dụng lớn hơn; phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc hơn nhưng cũng dễ bị biến thành công cụ gây sức ép hơn. Trong khi các quốc gia đều nói về hòa bình, ổn định và hợp tác, môi trường chiến lược lại gia tăng nghi kỵ, phân mảnh và cạnh tranh thiếu kiểm soát.
Vì vậy, điều chúng ta cần là thống nhất và triển khai một tầm nhìn chung, tối thiểu và thiết yếu, để bảo đảm hòa bình, lòng tin và phát triển cho nhân loại trong thế kỷ XXI. Đồng thời, nâng cao năng lực ngăn ngừa khủng hoảng từ sớm, từ xa; bởi thực tế cho thấy, nhiều khủng hoảng lớn thường bắt đầu từ những hiểu lầm không được hóa giải, những tín hiệu không được giải mã đúng và những cơ chế phòng ngừa không kích hoạt kịp thời.
Trên tinh thần ấy, tôi muốn chia sẻ chủ đề: Chủ động kiến tạo hòa bình - ổn định - phát triển trong một thế giới nhiều biến động.
Thưa quý vị,
Biến động là trạng thái thường trực của thế giới. Nhưng để biến động dẫn tới xung đột hay trở thành động lực tiến tới hòa bình lại là lựa chọn chiến lược của các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Khi nhìn vào thế giới hôm nay, tôi cho rằng những bất ổn hiện nay phản ánh ba cuộc khủng hoảng nền tảng đang diễn ra đồng thời và tác động lẫn nhau. Đó là: Khủng hoảng trật tự quốc tế, khủng hoảng mô hình phát triển và khủng hoảng lòng tin chiến lược.
Trước hết là khủng hoảng trật tự quốc tế. Trật tự quốc tế không phải là điều bất biến. Một trật tự công bằng có thể điều chỉnh để phản ánh những thay đổi của thế giới. Nhưng mọi sự điều chỉnh cần diễn ra bằng luật lệ, đối thoại, chia sẻ và tự kiềm chế; không thể bằng cưỡng ép, áp đặt, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc tạo "sự đã rồi".
Khủng hoảng trật tự quốc tế bắt đầu khi luật lệ vẫn được nhắc đến, nhưng sức ràng buộc suy giảm; khi cam kết vẫn được tuyên bố, nhưng hành động thực tế lại làm xói mòn chính những cam kết ấy; khi nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế bị diễn giải theo hướng áp đặt chủ quan, được thực thi không nhất quán, hoặc bị đặt sau tư duy ưu tiên sử dụng sức mạnh, "cá lớn nuốt cá bé".
Trong một môi trường như vậy, các quốc gia, nhất là các quốc gia vừa và nhỏ, phải đối mặt với sức ép chọn phe, sự cưỡng ép về kinh tế, công nghệ, tài chính và an ninh; đồng thời những không gian kết nối như biển và đại dương, không gian mạng, chuỗi cung ứng, hạ tầng số, tuyến cáp dữ liệu lại có nguy cơ trở thành không gian cạnh tranh. Những căng thẳng gần đây tại các tuyến hàng hải chiến lược ở Trung Đông cho thấy xung đột tại một điểm nóng có thể nhanh chóng tác động đến thương mại, năng lượng, logistics và đời sống kinh tế - xã hội của nhiều khu vực khác nhau trên phạm vi toàn cầu.
Hai là khủng hoảng mô hình phát triển. Trong nhiều thập kỷ, toàn cầu hóa, thương mại, đầu tư, công nghệ và kết nối chuỗi cung ứng đã tạo ra cơ hội phát triển to lớn cho nhiều quốc gia, trong đó có các nước đang phát triển. Nhưng cũng chính những động lực ấy đang đứng trước nhiều sức ép mới. Tăng trưởng chậm lại. Nợ công và chi phí vốn gia tăng. Biến đổi khí hậu đe dọa sinh kế của hàng trăm triệu người. Công nghệ mới mở ra cơ hội lớn nhưng cũng tạo ra khoảng cách mới. Thương mại, tài chính, thuế quan, năng lượng, lương thực, dữ liệu và công nghệ có nguy cơ bị sử dụng như công cụ gây sức ép.
Đối với rất nhiều quốc gia, phát triển không phải là lựa chọn thứ yếu đặt sau an ninh. Phát triển chính là nền tảng của an ninh bền vững. Nếu quá trình phát triển bị gián đoạn, nếu các nước đang phát triển bị thu hẹp cơ hội vươn lên, thì sự "tròng trành" về kinh tế rất dễ chuyển hóa thành bất ổn về xã hội, chính trị và thậm chí bất định về chiến lược.
Ba là khủng hoảng lòng tin chiến lược. Đây là cuộc khủng hoảng âm thầm nhưng nguy hiểm, vì nó khiến các quốc gia dễ nhìn hành động của nhau qua lăng kính nghi kỵ và bất an. Khi lòng tin suy giảm, một động thái phòng vệ có thể bị diễn giải thành khiêu khích, một khác biệt lợi ích có thể bị đẩy thành đối đầu, một sự cố nhỏ có thể kích hoạt vòng xoáy phản ứng nếu thiếu đối thoại, liên lạc và tự kiềm chế.
Lòng tin chiến lược không phải là xóa bỏ khác biệt hay phủ nhận cạnh tranh. Điều cốt lõi là quản trị khác biệt trong khuôn khổ luật lệ, làm cho cạnh tranh có giới hạn, có trách nhiệm và có thể dự báo. Một trật tự khu vực bền vững không thể được xây dựng trên nỗi sợ thường trực và sự thiếu tin cậy lẫn nhau.
Công nghệ mới đang làm thách thức này phức tạp hơn. Dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, không gian mạng, công nghệ lượng tử, hệ thống tự động và hạ tầng số vừa mở rộng năng lực phát triển cao hơn, vừa có thể khuếch đại nghi kỵ, thao túng thông tin, rút ngắn thời gian ra quyết định và làm tăng nguy cơ tính toán sai lầm. Khi công nghệ vượt quá tốc độ của luật lệ và sự kiểm soát của con người, ổn định chiến lược trở nên mong manh hơn.
Vì vậy, vượt qua khủng hoảng lòng tin đòi hỏi có một khung chiến lược để xây dựng lòng tin chiến lược, gồm kênh liên lạc nhanh khi có sự cố, minh bạch, đối thoại, chia sẻ thông tin thực chất để giảm hiểu lầm, quy tắc ứng xử rõ ràng để ngăn va chạm và chuẩn mực công nghệ đủ mạnh để bảo đảm con người luôn giữ trách nhiệm cuối cùng trong những quyết định có hệ quả an ninh nghiêm trọng.
Ba cuộc khủng hoảng nêu trên đang hội tụ rõ nét tại châu Á - Thái Bình Dương. Đây là trung tâm tăng trưởng năng động của thế giới, nhưng cũng là nơi cạnh tranh chiến lược gay gắt; là không gian của các tuyến hàng hải huyết mạch, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro trên biển; là khu vực hưởng lợi sâu từ toàn cầu hóa, nhưng đang chịu sức ép trực tiếp từ phân mảnh chuỗi cung ứng, biến đổi khí hậu, chuyển đổi công nghệ và cạnh tranh địa kinh tế mới.
Chính vì là nơi hội tụ thách thức, châu Á - Thái Bình Dương cũng phải là nơi khởi phát lời giải. Khu vực này có lợi ích chung trong hòa bình, kết nối và phát triển; có kinh nghiệm hợp tác đa tầng; có ASEAN như một cấu trúc đối thoại và cân bằng; có đủ động lực và quyết tâm không để cạnh tranh trượt thành đối đầu, không để các tuyến kết nối trở thành đường ranh chia cắt, không để an ninh của nước này thành bất an của nước khác.
Từ cách nhìn đó, tôi xin chia sẻ một số định hướng để cùng nhau kiến tạo một châu Á - Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, phát triển, tự cường và có năng lực giảm thiểu rủi ro từ sớm, từ xa.
Thứ nhất, phải làm cho luật lệ và đối thoại trở thành phương tiện hữu hiệu giảm thiểu rủi ro thực sự. Đối thoại Shangri-La là nơi các quốc gia lắng nghe nhau, làm rõ ý định, tìm kiếm điểm chung và kiểm soát khác biệt, nhưng đối thoại không nên dừng ở phát biểu lập trường. Đối thoại phải giúp nhận diện sớm rủi ro, chia sẻ thông tin, duy trì kênh liên lạc khi căng thẳng và ngăn khác biệt trượt thành khủng hoảng.
Trật tự dựa trên luật lệ cũng không thuộc về riêng một nhóm quốc gia nào, mà là nền tảng chung để các nước lớn, vừa và nhỏ cùng tồn tại hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và bình đẳng giữa các quốc gia. Luật lệ chỉ có sức sống khi được thực thi nhất quán và chuyển hóa thành cơ chế cụ thể như cảnh báo sớm, liên lạc khẩn cấp, xử lý sự cố, tự kiềm chế và hợp tác có thể kiểm chứng.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với biển và đại dương. Biển và đại dương là tài nguyên, là không gian kết nối chung, là huyết mạch của thương mại, năng lượng, lương thực và chuỗi cung ứng toàn cầu. Không quốc gia nào được lợi nếu các tuyến kết nối ấy trở thành nơi phô diễn sức mạnh, cưỡng ép hoặc đối đầu.
Đối với Biển Đông, lập trường của Việt Nam là nhất quán, rõ ràng và có nguyên tắc. Việt Nam ủng hộ giải quyết mọi tranh chấp và bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Việt Nam tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các quốc gia khác; đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của mình theo luật pháp quốc tế.
Thứ hai, cần kiến tạo một cấu trúc khu vực mở, bao trùm và lấy ASEAN làm trung tâm. Trong bối cảnh nhiều cơ chế và sáng kiến mới xuất hiện, chúng ta cần xây dựng một cấu trúc có khả năng kết nối lợi ích, giảm nghi kỵ và bổ trợ cho các cơ chế hiện có. Mọi sáng kiến đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển đều đáng được hoan nghênh, nếu minh bạch, tôn trọng luật pháp quốc tế, bổ trợ cho nhau và không làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN và không biến Đông Nam Á thành không gian đối đầu giữa các khối.
Vai trò trung tâm của ASEAN không tự nhiên mà có và cũng không tự duy trì. ASEAN chỉ có thể giữ vai trò đó bằng đoàn kết, tự chủ chiến lược và năng lực kiến tạo chương trình nghị sự chung. Bao trùm phải gắn với hiệu quả, đối thoại phải tạo ra hành động, đồng thuận phải giúp khu vực phản ứng kịp thời trước các vấn đề chung.
Việt Nam ủng hộ và sẵn sàng hợp tác chặt chẽ với Philippines trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2026, cùng các nước thành viên củng cố hòa bình, an ninh, mở rộng các hành lang thịnh vượng, thúc đẩy kết nối, phát triển bao trùm, bền vững và đặt người dân ASEAN ở vị trí trung tâm.
Thứ ba, cần đặt an ninh con người và năng lực chống chịu xã hội vào trung tâm của an ninh bền vững. Bất ổn hôm nay không chỉ đến từ xung đột quân sự mà còn từ những đứt gãy trong đời sống phát triển. Vì vậy, củng cố quốc phòng là nhu cầu chính đáng, nhưng an ninh bền vững không thể chỉ dựa vào sức mạnh quân sự, càng không thể được xây bằng chạy đua vũ trang hoặc bằng cách làm gia tăng bất an phát triển cho nước khác.
Điều chúng ta cần là một nền tảng phát triển có khả năng chống chịu cao trước các cú sốc, chuỗi cung ứng mở và đa dạng, kết nối hạ tầng thông suốt, hợp tác về tài chính, công nghệ và nhân lực; đồng thời thúc đẩy hợp tác thiết thực trong cứu trợ thảm họa, y tế, an ninh nguồn nước, lương thực, năng lượng, an ninh mạng, bảo vệ hạ tầng trọng yếu và tìm kiếm cứu nạn. Một khi hợp tác mang lại sự bảo đảm an toàn, sinh kế và nâng cao đời sống của người dân, lòng tin chiến lược sẽ được củng cố và bồi đắp.
Thứ tư, cần kiến tạo các chuẩn mực trách nhiệm đối với công nghệ mới và công nghiệp quốc phòng. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ lượng tử, hệ thống tự động, công nghệ không gian, an ninh mạng và chuỗi cung ứng công nghệ cao đang định hình lại an ninh quốc tế. Những công nghệ này có thể mở rộng năng lực phát triển, dự báo rủi ro và quản trị, nhưng cũng có thể bị lạm dụng để tấn công mạng, thao túng thông tin, tự động hóa xung đột, giám sát bất hợp pháp hoặc tạo ra các hình thức cưỡng ép mới.
Trong quốc phòng - an ninh, câu hỏi hệ trọng không phải là công nghệ mạnh đến đâu, mà là con người có thể kiểm soát được công nghệ ấy đến mức nào. Vì vậy, chúng ta cần thúc đẩy đối thoại về AI trong quốc phòng - an ninh, bảo đảm trách nhiệm cuối cùng của con người trong các quyết định có hệ quả nghiêm trọng, quy tắc ứng xử trên không gian mạng, bảo vệ cáp biển, hạ tầng dữ liệu trọng yếu, minh bạch đối với các công nghệ tác động đến ổn định chiến lược. Công nghiệp quốc phòng cần phục vụ phòng vệ chính đáng và ổn định khu vực, không trở thành động lực cho chạy đua vũ trang.
Thứ năm, cần củng cố nền tảng xã hội và khả năng chống chịu; bảo vệ không gian thông tin và nâng cao nhận thức. Trong thế giới kết nối số sâu rộng, bất ổn không chỉ đến từ xung đột quân sự, đứt gãy chuỗi cung ứng hay tấn công mạng, mà còn có thể bắt đầu từ sự xói mòn niềm tin trong xã hội. Tin giả, thao túng thông tin, kích động cực đoan, phân cực xã hội và các chiến dịch gây ảnh hưởng có chủ đích có thể làm suy yếu đồng thuận quốc gia, làm méo mó nhận thức công chúng, khoét sâu chia rẽ và khiến khủng hoảng lan nhanh hơn.
Vì vậy, bảo vệ hòa bình trong thời đại mới cũng đòi hỏi phải bảo vệ sự thật, củng cố niềm tin xã hội, nâng cao năng lực truyền thông chiến lược, giáo dục công dân số, thúc đẩy trách nhiệm của các nền tảng công nghệ và hợp tác quốc tế trong chống thông tin sai lệch. Một xã hội có khả năng phân biệt đúng sai, giữ được đồng thuận trước biến động và không bị dẫn dắt bởi sợ hãi, thù hận hay thao túng sẽ là nền tảng quan trọng của an ninh bền vững.
Thứ sáu, cần nâng cao năng lực ngoại giao phòng ngừa, hòa giải và trung gian trong khu vực. Nhiều cuộc khủng hoảng không bùng phát chỉ vì khác biệt lợi ích mà vì các bên thiếu kênh trao đổi đáng tin cậy, thiếu không gian để xuống thang và thiếu cơ chế giúp chuyển đối đầu trở lại đối thoại.
Vì vậy, châu Á - Thái Bình Dương cần coi ngoại giao phòng ngừa là một năng lực chiến lược, không phải là biện pháp tình thế sau khi khủng hoảng đã xảy ra. Chúng ta cần nhiều hơn các kênh tham vấn khác nhau, các cơ chế trung gian linh hoạt, các nhóm tiếp xúc khi có sự cố, các diễn đàn bán chính thức và những sáng kiến xây dựng lòng tin giữa quân đội, an ninh, lực lượng thực thi pháp luật, học giả, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Mục tiêu là tạo ra những "lối thoát ngoại giao" trước khi các bên bị cuốn vào vòng xoáy leo thang dẫn đến nguy cơ xung đột.
Với các đối tác có ảnh hưởng lớn trong và ngoài khu vực, Việt Nam mong muốn gửi một thông điệp chân thành: châu Á - Thái Bình Dương là không gian mở, mọi quốc gia có lợi ích chính đáng đều có thể đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển.
Khu vực hoan nghênh sự hiện diện minh bạch, có trách nhiệm, tôn trọng luật pháp quốc tế, ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN và góp phần giảm căng thẳng.
Điều khu vực mong muốn không phải là sự hiện diện hay vắng mặt thuần túy của bất kỳ nước lớn nào, mà là một cam kết có trách nhiệm. Chúng tôi nhìn nhận cạnh tranh là tất yếu, nhưng cạnh tranh phải được đặt trong giới hạn của luật pháp, minh bạch và tự kiềm chế.
Ba cuộc khủng hoảng của thế giới hôm nay không phải là điều tất yếu mà chúng ta buộc phải chấp nhận. Điều quan trọng là phải nhìn thẳng vào khủng hoảng, nhưng không để khủng hoảng che khuất cơ hội hành động. Khủng hoảng trật tự quốc tế cho thấy luật pháp quốc tế và sự tự kiềm chế cần được củng cố. Khủng hoảng mô hình phát triển cho thấy cần làm mới các động lực tăng trưởng theo hướng bao trùm, bền vững và lấy con người làm trung tâm. Khủng hoảng lòng tin chiến lược đòi hỏi đối thoại, minh bạch, trách nhiệm và những cơ chế hợp tác thực chất hơn.
Những câu trả lời ấy sẽ không tự hình thành. Chúng chỉ có thể trở thành hiện thực nếu các quốc gia cùng nhau duy trì và kiến tạo luật lệ, kết nối lợi ích, củng cố lòng tin và xây dựng các cơ chế giảm thiểu rủi ro có hiệu lực trong thực tế.
Trong một thế giới nhiều biến động, thách thức không chỉ đến từ những bất ổn bên ngoài, mà còn từ việc chúng ta chưa chuẩn bị đủ tốt để quản trị rủi ro. Điều quan trọng là chuyển từ ứng phó bị động sang kiến tạo chủ động; từ nhắc lại nguyên tắc sang vận hành cơ chế; từ quản lý khủng hoảng sau khi xảy ra sang giảm thiểu rủi ro trước khi khủng hoảng bùng phát.
Vì vậy, lựa chọn của châu Á - Thái Bình Dương hôm nay không phải là giữa cạnh tranh hay không cạnh tranh, bởi cạnh tranh là một thực tế của quan hệ quốc tế. Lựa chọn quan trọng hơn là giữa cạnh tranh thiếu kiểm soát và cùng tồn tại có trách nhiệm; giữa chia rẽ và đối thoại; giữa nghi kỵ, cưỡng ép và một trật tự dựa trên luật lệ và lòng tin. Việt Nam tin rằng khu vực của chúng ta có đủ bản lĩnh và lợi ích chung để lựa chọn con đường hòa bình, hợp tác và thịnh vượng.
Việt Nam hiểu rõ giá trị của hòa bình bằng chính lịch sử của mình, hiểu giá trị của phát triển bằng chính hành trình Đổi mới và hội nhập của mình. Từ trải nghiệm ấy, Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng lợi ích quốc gia của chúng tôi gắn bó chặt chẽ với hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực.
Đóng góp cho hòa bình khu vực cũng là bảo vệ lợi ích lâu dài của Việt Nam. Mở rộng hợp tác, giảm thiểu rủi ro và kết nối các lợi ích chính đáng cũng chính là cách Việt Nam thực hiện trách nhiệm của mình đối với cộng đồng quốc tế.
Hòa bình, ổn định và phát triển là mẫu số chung của mọi quốc gia và dân tộc. Nhưng chỉ có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành hành động cụ thể, kiềm chế trước bất đồng, đối thoại khi khác biệt gia tăng, hợp tác khi thách thức vượt qua biên giới, và xây dựng những cơ chế giảm thiểu rủi ro có thể vận hành trong thực tế.
Với tinh thần đó, Việt Nam sẵn sàng cùng các quốc gia trong và ngoài khu vực củng cố luật lệ, bồi đắp lòng tin, thúc đẩy đối thoại, tăng cường hợp tác, giảm thiểu rủi ro và cùng nhau kiến tạo một châu Á - Thái Bình Dương an toàn hơn, tự cường hơn và thịnh vượng hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

