Công ty CP Kinh doanh Thủy hải sản Sài Gòn (mã chứng khoán APT) vừa công bố báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 với mức lỗ kỷ lục 1.153 tỉ đồng, nối dài mức lỗ triền miên hàng chục năm trước đó, nâng tổng lỗ lũy kế lên 2.700 tỉ đồng. Đáng chú ý, trong số nợ hiện hữu của công ty còn có khoản vay nợ 5.833 lượng vàng SJC và đến nay không thể trả nổi.
Tính đến cuối năm 2025, tổng tài sản của APT ở mức 195 tỉ đồng, vốn chủ sở hữu âm hơn 2.600 tỉ đồng. Công ty đang có nợ phải trả 2.800 tỉ đồng, trong đó chủ yếu là nợ gốc và lãi tại Ngân hàng Sacombank. Đây là khoản nợ gốc mà APT từ đầu năm 2009 đã vay từ Ngân hàng Sacombank (trước đây là Ngân hàng Phương Nam) gồm 103 tỉ đồng và 5.833 lượng vàng SJC, có trị giá trị quy đổi 103 tỉ đồng tại thời điểm vay (tương đương 17,66 triệu đồng/lượng).
Báo cáo tài chính nêu rõ, tại thời điểm 31.12.2025, công ty đang ghi nợ khoản lỗ lũy kế 2.708,75 tỉ đồng, gấp 30,78 lần so với vốn điều lệ (88 tỉ đồng). Tổng nợ quá hạn thanh toán lên đến 2.789,39 tỉ đồng, trong đó khoản nợ ngân hàng (cả gốc và lãi) quá hạn hơn 2.749 tỉ đồng. Công ty đã thực hiện đánh giá lại khoản nợ vay 5.833 lượng vàng SJC theo giá niêm yết của ngân hàng cho vay. Số dư nợ gốc của khoản vay vàng được quy đổi ở mức 891 tỉ đồng, tăng 500 tỉ đồng so với năm 2024, tương ứng giá vàng SJC quy đổi tăng từ 84,2 triệu đồng lên 152,8 triệu đồng/lượng. Như vậy, khoản vay vàng hiện APT nợ Sacombank cả lẫn gốc lãi hơn 2.400 tỉ đồng, bên cạnh đó là khoản vay bằng VND gần 300 tỉ đồng. Báo cáo của APT cho biết, công ty không có khả năng thanh toán khoản nợ này.
Kết thúc năm 2025 vừa qua, công ty này đạt doanh thu hơn 265 tỉ đồng, tăng nhẹ so với năm 2024 nhưng vẫn lỗ hơn 1.152 tỉ đồng (chủ yếu do chi phí tài chính quá lớn). Về cơ cấu sở hữu, APT đang có 2 cổ đông chính là Tổng công ty Thương mại Sài Gòn (Satra) – sở hữu 30% và Công ty TNHH Tập đoàn Somo Việt Nam sở hữu 41,1%. Chủ tịch Somo, ông Nguyễn Lâm Vinh Huy đang giữ vị trí chủ tịch của APT.
Ngân hàng Sacombank đã nhiều lần rao bán đấu giá khoản nợ 5.833 lượng vàng SJC nói trên và có thời điểm rao bán giá hơn 1.000 tỉ đồng. Đến tháng 5.2025, khoản nợ này được đại hạ giá khi mức rao bán khởi điểm xuống còn 317 tỉ đồng.
Kinh Tế
Nhà ở cho thuê: "Đầu tư tiền chục, thu tiền lẻ", doanh nghiệp chờ cơ chế gỡ khó

Trong nhiều thập kỷ, sở hữu nhà ở luôn được xem là đích đến của phần lớn người Việt Nam. Tuy nhiên, bối cảnh thị trường đang thay đổi khi giá nhà tăng nhanh hơn nhiều so với thu nhập.
Theo Hiệp hội Bất động sản Việt Nam (VNREA), tỉ lệ sở hữu nhà ở tại Việt Nam hiện khoảng 90%, thuộc nhóm cao nhất thế giới, nhưng chỉ số giá nhà trên thu nhập (PIR) đã lên tới 23,7-30 lần, cao gấp 1,6-2 lần mức trung bình toàn cầu.
Trong 5 năm qua, giá bất động sản tăng khoảng 59%, khiến việc mua nhà ngày càng vượt xa khả năng của nhiều người trẻ, công nhân và lao động thu nhập trung bình.
Từ bối cảnh đó, nhà ở cho thuê đang dần được nhìn nhận không chỉ là giải pháp tạm thời mà là một cấu phần quan trọng của chính sách nhà ở quốc gia.
Trao đổi về vấn đề này, TS. LS. Đoàn Văn Bình - Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Chủ tịch Tập đoàn CEO cho rằng định hướng đưa nhà ở cho thuê trở thành một trụ cột chiến lược là bước đi phù hợp với xu thế phát triển của thị trường cũng như thực tiễn kinh tế - xã hội hiện nay.
Theo ông Bình, trong nhiều năm qua, thị trường bất động sản Việt Nam chủ yếu phát triển theo hướng khuyến khích sở hữu nhà ở. Thành công của một gia đình thường gắn liền với việc sở hữu một căn nhà hoặc một mảnh đất.
Tuy nhiên, bối cảnh hiện nay đã thay đổi khi tốc độ đô thị hóa gia tăng, lực lượng lao động dịch chuyển ngày càng mạnh, trong khi giá nhà ở vượt xa khả năng tiếp cận của phần lớn người dân.
Ông Bình cho rằng nếu trước đây khái niệm "an cư lạc nghiệp" thường được hiểu là phải sở hữu nhà ở thì trong giai đoạn tới cần chuyển dần sang tư duy "an cư là có chỗ ở ổn định".
Theo đó, người dân có thể lựa chọn thuê nhà dài hạn với chất lượng sống tốt, đầy đủ tiện ích và được bảo đảm các quyền lợi về an sinh xã hội mà không nhất thiết phải bỏ ra một khoản tiền quá lớn để sở hữu bất động sản.
Cũng chia sẻ về vấn đề này, TS. KTS. Ngô Trung Hải - Phó Chủ tịch Hội quy hoạch và Phát triển đô thị Việt Nam cho rằng nhà ở cho thuê không phải là một phân khúc hoàn toàn mới hay tách biệt khỏi thị trường bất động sản.
Theo ông, từ căn hộ cao cấp, nhà ở thương mại, studio cho đến các khu nhà trọ bình dân đều đang tồn tại hoạt động cho thuê. Vì vậy, điều quan trọng không phải là xây dựng một hệ thống pháp lý riêng biệt cho nhà ở cho thuê mà là tạo ra cơ chế phát triển phù hợp dựa trên quy luật cung - cầu của thị trường.
"Nhà ở cho thuê cần được nhìn nhận như một cấu phần tự nhiên của thị trường bất động sản", ông Hải nhấn mạnh.
Dù nhu cầu lớn, thực tế thị trường nhà ở cho thuê tại Việt Nam vẫn chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp tham gia đầu tư quy mô lớn.
Theo ông Đoàn Văn Bình, nút thắt lớn nhất nằm ở bài toán tài chính.
Ông dẫn chứng, lợi suất cho thuê nhà ở tại Việt Nam hiện chỉ dao động khoảng 2-4%/năm, thấp hơn đáng kể so với mức 5-7% tại nhiều thị trường trong khu vực. Trong khi đó, lãi suất vay vốn để phát triển dự án phổ biến ở mức 10-12%/năm.
"Đầu tư tiền chục, thu tiền lẻ", ông Bình nhận xét khi phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nhà ở cho thuê.
Theo ông, với mức lợi suất hiện nay, doanh nghiệp gần như không thể xây dựng được bài toán đầu tư khả thi. Ngay cả Tập đoàn CEO cũng đã giao bộ phận tài chính nghiên cứu các mô hình phát triển nhà ở cho thuê sau khi có định hướng mới từ Trung ương, nhưng đến nay vẫn chưa tìm được phương án hiệu quả trong điều kiện hiện tại.
Không chỉ áp lực về vốn, chi phí đầu vào cũng đang gia tăng mạnh.
Theo ông Bình, nếu như cách đây khoảng 10 năm, tiền sử dụng đất chỉ chiếm khoảng 10% tổng giá thành dự án thì tại một số dự án gần đây, tỉ lệ này đã tăng lên khoảng 33%.
Bên cạnh đó, chi phí xây dựng cũng leo thang do giá vật liệu tăng cao, nguồn cung vật liệu thiếu hụt và áp lực cạnh tranh nhân công từ hàng loạt dự án đầu tư công quy mô lớn đang triển khai trên cả nước.
Ở góc độ quy hoạch, TS. KTS. Ngô Trung Hải cho rằng hiện vẫn chưa có nhiều doanh nghiệp thực sự mặn mà với nhà ở cho thuê, dù nhu cầu thị trường là rất lớn.
Theo ông, kinh nghiệm từ Nhật Bản cho thấy Nhà nước có thể trao quyền nhiều hơn cho nhà đầu tư trong các dự án TOD, đồng thời khuyến khích bố trí một tỉ lệ nhất định dành cho nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê.
"Doanh nghiệp hoàn toàn có thể phát triển nhà ở cho thuê và có lợi nhuận nếu có cơ chế phù hợp", ông Hải nhận định.
Từ thực tế trên, các chuyên gia cho rằng để biến nhà ở cho thuê thành một trụ cột của hệ thống nhà ở quốc gia, điều quan trọng nhất là xây dựng được cơ chế đủ hấp dẫn để thu hút doanh nghiệp tham gia.
Theo ông Đoàn Văn Bình, Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo thông qua các chính sách về thể chế, quy hoạch, quỹ đất và tín dụng.
"Không bao cấp nhưng cũng không để thị trường tự điều tiết hoàn toàn. Vai trò của doanh nghiệp là tham gia phát triển nhà ở cho thuê với lợi nhuận vừa phải, vận hành chuyên nghiệp", ông Bình nói.
Vị chuyên gia đề xuất xây dựng cơ chế tín dụng dài hạn dành riêng cho nhà ở cho thuê với thời hạn vay từ 20-25 năm, đồng thời nghiên cứu cơ chế tái cấp vốn dài hạn từ Ngân hàng Nhà nước.
Bên cạnh đó, cần huy động thêm nguồn vốn từ các quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm, các tổ chức đầu tư dài hạn và hoàn thiện hành lang pháp lý cho các quỹ tín thác đầu tư bất động sản (REITs) nhằm tạo nguồn lực tài chính bền vững cho thị trường.
Về đất đai, ông Bình đề xuất nghiên cứu mô hình quỹ đất R4 tương tự Trung Quốc. Theo đó, giá thuê đất dành cho các dự án nhà ở cho thuê có thể chỉ bằng khoảng 20% giá đất ở thương mại, giúp giảm đáng kể chi phí đầu tư ban đầu.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần được hưởng các ưu đãi về thuế và phí, đồng thời có cơ chế bảo vệ cả chủ đầu tư và người thuê thông qua hợp đồng chuẩn, cơ chế điều chỉnh giá thuê minh bạch và bảo đảm các quyền tiếp cận dịch vụ công của người thuê nhà.
Tuy nhiên, để phân khúc này thực sự trở thành một trụ cột của hệ thống nhà ở quốc gia như định hướng của Tổng Bí thư, bài toán về vốn, đất đai, thuế và cơ chế phát triển vẫn cần được tháo gỡ đồng bộ.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Chi cục Quản lý thị trường (QLTT) TP.HCM vừa công bố kết quả kiểm tra theo chuyên đề đối với hoạt động kinh doanh vàng, trang sức trên địa bàn. Theo đó, nhiều tiệm vàng bị xử phạt hành chính, tịch thu vàng khi vi phạm về bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Cụ thể, Đội QLTT số 19 và Đội QLTT số 22 chủ trì tiến hành kiểm tra 12 cơ sở kinh doanh vàng và đã tịch thu hàng hóa không có nhãn, không rõ nguồn gốc, xuất xứ trị giá hơn 300 triệu đồng, tổng số tiền thu nộp ngân sách nhà nước là 700 triệu đồng. Đội QLTT số 5 kiểm tra và xử lý 3 doanh nghiệp (DN) có giá trị hàng hóa vi phạm 135,68 triệu đồng; số tiền xử phạt là 210 triệu đồng. Đội QLTT số 9 kiểm tra, phát hiện và xử lý 9 tổ chức với tổng số tiền phạt vi phạm hành chính 506 triệu đồng, tịch thu tang vật không rõ nguồn gốc, xuất xứ có giá trị 331,355 triệu đồng.
Chi cục QLTT TP.HCM đánh giá việc liên tiếp phát hiện các vụ kinh doanh trang sức không rõ nguồn gốc cho thấy nguy cơ tiềm ẩn đối với người tiêu dùng và sự cần thiết phải siết chặt hơn nữa công tác QLTT. Trong thời gian tới, đơn vị sẽ tiếp tục chỉ đạo các đội tăng cường công tác quản lý địa bàn, kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh vàng. Theo kế hoạch do cơ quan QLTT công bố cuối năm 2025, cơ quan này sẽ thực hiện kiểm tra 180 tiệm vàng trên địa bàn.
Không chỉ QLTT, qua công tác kiểm tra và nắm bắt tình hình, Cục Thuế cũng đã nhận diện những thủ đoạn tinh vi nhằm che giấu doanh thu trong lĩnh vực kinh doanh kim loại quý. Điển hình là hiện tượng cá nhân "thay mặt" tổ chức, cơ sở kinh doanh bán vàng, bạc cho các tổ chức, cá nhân khác, không xuất hóa đơn bán hàng theo quy định. Nhiều nơi yêu cầu dùng tiền mặt khi giao dịch hoặc sử dụng tài khoản cá nhân để thực hiện giao dịch với người mua. Những hành vi này dẫn đến việc kê khai thiếu số lượng bán ra và doanh thu thực tế, gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước. Chính vì vậy, cơ quan thuế các tỉnh thành đẩy mạnh tuyên truyền, ngăn chặn việc lợi dụng tiền mặt, tài khoản cá nhân nhằm che giấu doanh thu, trốn tránh nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước.
Nguồn gốc vàng trang sức là một trong những nguyên nhân khiến các tiệm vàng tạm đóng cửa để đối phó các đợt kiểm tra thắt chặt QLTT của cơ quan chức năng thời gian qua. Bởi nhiều tiệm vàng gặp khó khăn trong việc chứng minh xuất xứ các sản phẩm trang sức, dẫn đến nguy cơ bị xử phạt nặng hoặc tịch thu hàng hóa. Ông Nguyễn Văn Dưng, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ kim hoàn đá quý TP.HCM, lý giải thị trường vàng trang sức mỹ nghệ suốt một thời gian dài gặp khó khăn về nguồn nguyên liệu sản xuất nên hầu hết các đơn vị đã mua vàng trôi nổi trên thị trường và rất khó chứng minh nguồn gốc, xuất xứ cũng như dẫn đến vi phạm về xuất xứ hay hóa đơn chứng từ đối với khách mua vàng. Vì thế, một số đơn vị lựa chọn giải pháp tạm đóng cửa một thời gian, một số đơn vị khác thì không trưng bày sản phẩm trên các quầy tủ. Có những DN đóng cửa nhưng sau đó mở công ty mới để có hóa đơn chứng từ đầy đủ cho sản phẩm đầu vào...
Là địa bàn quy tụ số lượng lớn DN sản xuất kinh doanh vàng, NHNN chi nhánh khu vực 2 (TP.HCM và Đồng Nai) thời gian qua đã có công văn nhắc nhở các DN hoạt động trong lĩnh vực vàng trang sức mỹ nghệ về nguồn gốc xuất xứ. Các DN cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tiêu chuẩn công bố áp dụng và khối lượng sản phẩm do DN thuê gia công; chấp hành các quy định của pháp luật về chế độ kế toán, lập và sử dụng hóa đơn, chứng từ. Trong đó, phải đảm bảo giấy tờ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ vàng nguyên liệu mua vào để sản xuất vàng trang sức mỹ nghệ (hóa đơn, bảng kê, giấy tờ pháp lý khác có liên quan... theo hướng dẫn của cơ quan thuế; cục QLTT...).
Theo nhiều chuyên gia, nguyên nhân sâu xa của tình trạng này chính là thiếu nguyên liệu sản xuất. Trong công văn gửi Chính phủ mới đây, Hiệp hội Kinh doanh vàng VN cho rằng đến nay chưa có văn bản, quy định nào của Chính phủ cũng như ngành chức năng hướng dẫn việc mua, huy động nguồn vàng trong nước để làm nguyên liệu sản xuất, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ, gây lãng phí nguồn lực trong nước. Do không có văn bản quy định, hướng dẫn của Chính phủ, và các cơ quan quản lý nhà nước nên việc thu mua hoặc huy động dưới các hình thức khác nhau (mua, vay, ...) để làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, chế tác vàng trang sức của DN luôn tiềm ẩn rủi ro pháp lý; dẫn đến thời gian vừa qua nhiều DN bị xử phạt hành chính hoặc chuyển cơ quan pháp luật để làm rõ về các hoạt động mua bán, huy động vàng. Do đó, Hiệp hội đề nghị Chính phủ sớm cho ban hành các quy định về huy động, mua bán từ nguồn vàng trong nước để làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, chế tác vàng trang sức.
Đồng thời, Hiệp hội cũng kiến nghị Chính phủ ban hành cơ chế chính sách đột phá, quy định rõ DN sản xuất, xuất khẩu vàng trang sức mỹ nghệ được nhập khẩu vàng nguyên liệu theo khối lượng ký hợp đồng với nhà cung cấp nước ngoài và đăng ký với ngân hàng thương mại nơi DN mở tài khoản giao dịch (tương tự các DN nhập nguyên liệu để sản xuất của các ngành như dệt may, da giày, cơ khí...) khi có nhu cầu nhập nguyên liệu chỉ cần xuất trình bộ chứng từ nhập khẩu với ngân hàng thương mại. DN sẽ đăng ký kế hoạch hằng năm và báo cáo định kỳ về tình hình nhập khẩu vàng nguyên liệu; sử dụng cho sản xuất để bán ra thị trường trong nước và cho xuất khẩu gửi NHNN...
Chỉ khi giải quyết được bài toán khan hiếm vàng nguyên liệu thì giá vàng cũng như các vấn đề nói trên mới giải quyết triệt để được.
Tin Gốc: Thanh Niên

Như Thanh Niên đã đặt vấn đề trong bài viết "Việt Nam thừa hay thiếu sân bay?", theo Quyết định điều chỉnh quy hoạch tổng thể hệ thống cảng hàng không toàn quốc vừa cập nhật, danh mục sân bay từ nay đến năm 2030 đã được nâng từ 30 lên 32 cảng, bao gồm 15 sân bay quốc tế và 17 sân bay nội địa. Tầm nhìn đến năm 2050, mạng lưới này sẽ tiếp tục nới rộng lên thành 34 sân bay.
Cuộc góp mặt của nhiều "tân binh" lại làm dấy lên nghi ngại về hiệu quả khai thác khi mà hàng loạt các cảng hàng không hiện hữu vẫn đang chật vật gồng lỗ. Nỗi lo sân bay ế càng trở nên hiện hữu khi hệ thống hạ tầng giao thông mặt đất đang ghi nhận những bước nhảy vọt lịch sử.
Đến nay, tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông đã cơ bản thông toàn tuyến, rút ngắn thời gian di chuyển bằng đường bộ từ Hà Nội vào miền Trung hay từ TP.HCM đi các tỉnh ĐBSCL, Tây nguyên xuống chỉ còn một nửa. Xu hướng tự lái xe du lịch xuyên Việt cũng đang ngày càng lên ngôi, nhất là vào những dịp cao điểm lễ tết khi giá vé máy bay tăng vọt "chóng mặt".
Từ nay đến 2030, Bộ Xây dựng đã lên kế hoạch xây dựng khoảng 2.000 km đường bộ cao tốc, hoàn thành mục tiêu đến năm 2030 cả nước có 5.000 km đường bộ cao tốc. Đến lúc đó, tỷ lệ người dân lựa chọn xe khách, xe cá nhân di chuyển trong phạm vi 200 km - 500 km sẽ rất phổ biến.
Trong khi đó, siêu dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam cũng đã chính thức khởi động, đang trong giai đoạn dồn lực hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi, chuẩn bị khởi công các đoạn tuyến ưu tiên như Hà Nội - Vinh, TP.HCM - Nha Trang. Nhiều địa phương cũng đã hối hả thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, chuẩn bị khởi công từng đoạn vào tháng 12 năm nay.
Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP.HCM nhìn nhận hàng không chặng ngắn sẽ bị đe dọa nghiêm trọng khi đường sắt vận tốc 350km/giờ xuất hiện.
Ông dẫn chứng câu chuyện từ nước Pháp: Đây là quốc gia đầu tiên trên thế giới chính thức ban hành luật cấm các chuyến bay nội địa chặng ngắn nếu lộ trình đó có thể thay thế bằng tàu hỏa cao tốc với thời gian di chuyển dưới 2,5 tiếng (áp dụng cho các chặng kết nối Paris Orly đến Bordeaux, Nantes, hay Lyon).
"2,5 tiếng di chuyển, tàu chạy với vận tốc 350 km/giờ thì tương đương quãng đường từ 1.000 km trở xuống. Nghĩa là, tàu cao tốc chỉ mất khoảng 1,5 - 3 tiếng để có thể kết nối từ thành phố này tới thành phố khác. Nếu đi máy bay, dù thời gian bay chỉ 1 tiếng, nhưng hành khách phải cộng thêm ít nhất 2 - 3 tiếng cho việc di chuyển ra sân bay ngoại thành, xếp hàng check-in, soi chiếu an ninh và chờ lấy hành lý... Như vậy, khoảng cách dưới 1.000 km thì đường bộ và đường sắt sẽ chiếm ưu thế" - ông Lê Hoàng Châu phân tích.
Cũng theo ông Lê Hoàng Châu, mạng lưới đường sắt cao tốc Bắc - Nam theo quy hoạch không dừng lại ở TP.HCM tầm nhìn 20 - 30 năm tới sẽ tiếp tục kéo dài xuống tận mũi Cà Mau. Lúc này, toàn bộ hành lang kinh tế dọc chiều dài đất nước sẽ được kết nối bằng một mạch máu cơ khí tốc độ cao.
Do đó, xây dựng sân bay phải tính toán quy mô dựa trên hiệu quả thực tế và đặt hiệu quả lên hàng đầu, chứ không thể chạy đua theo phong trào, tỉnh nào cũng phải cố xây một sân bay quốc tế thật to. Nếu khoảng cách quá gần, giao thông kết nối mặt đất quá thuận tiện mà địa phương nào cũng đòi xây sân bay quy mô lớn, lưỡng dụng hoặc quốc tế, thì dù nguồn vốn nào cũng là một sự lãng phí tài lực quốc gia.
Việc quy hoạch sân bay cần phải phân loại rất rõ ràng theo đặc thù địa lý và nhiệm vụ chiến lược: Ở những vùng núi cao, hiểm trở, địa hình chia cắt mạnh như Điện Biên, Lai Châu, Hà Giang... thì sân bay quy mô vừa phải sẽ phá vỡ thế cô lập, phục vụ dân sinh, cứu hộ cứu nạn và thúc đẩy kinh tế địa phương.
"Ngoài ra cần lưu ý các điểm mang tính an ninh quốc phòng như vùng biển đảo Trường Sa, Hoàng Sa, hoặc một số vị trí dọc dải miền Trung. Đây là những hạ tầng không tính toán hiệu quả chỉ bằng lỗ/lãi thương mại, mà phải tính toán tầm bay thế nào để sẵn sàng cho các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng" - Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP.HCM lưu ý.
TS Huỳnh Thế Du (Trường Chính sách công và quản lý Fulbright VN) thừa nhận đúng là trong tương lai, hiệu quả của một số sân bay sẽ chịu áp lực lớn khi mạng lưới cao tốc Bắc - Nam ngày càng hoàn thiện, xa hơn là đường sắt cao tốc.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy khi hạ tầng đường bộ và đường sắt đủ tốt, các chặng bay ngắn dưới 300 - 500 km thường giảm mạnh vì người dân ưu tiên chi phí thấp hơn và thuận tiện hơn. Điều này có nghĩa hàng không nội địa sẽ không còn “một mình một sân khấu” như giai đoạn trước.
Bên cạnh đó, xu hướng xanh hóa cũng là áp lực thật sự. Châu Âu, đặc biệt là Pháp, đã bắt đầu hạn chế các chuyến bay ngắn có thể thay thế bằng đường sắt nhằm giảm phát thải carbon. Việt Nam trước mắt có thể chưa đi nhanh đến mức đó, nhưng về dài hạn chắc chắn sẽ chịu tác động từ xu hướng phát triển xanh toàn cầu.
Tuy vậy, ông Huỳnh Thế Du khẳng định điều này không đồng nghĩa mạng lưới sân bay trở nên dư thừa. Vai trò của sân bay sẽ chuyển dịch: Giảm phụ thuộc vào các chặng bay ngắn đại trà, tăng vai trò trung chuyển quốc tế, du lịch chất lượng cao, logistics hàng không và kết nối vùng sâu vùng xa mà đường sắt hay cao tốc khó thay thế hoàn toàn.
"Vì vậy, vấn đề là phải phân tầng và định vị đúng chức năng từng sân bay. Không thể tỉnh nào cũng kỳ vọng thành trung tâm trung chuyển lớn. Một số sân bay sẽ hoạt động như cửa ngõ du lịch; một số phục vụ logistics, cứu hộ, quốc phòng; một số chỉ cần quy mô nhỏ để đón đầu công nghệ máy bay điện, taxi bay trong tương lai. Nếu quy hoạch linh hoạt và gắn với chiến lược phát triển vùng, sân bay nhỏ vẫn có ý nghĩa" - TS Huỳnh Thế Du nêu quan điểm.
Trước lo ngại tàu cao tốc sẽ "vét sạch" khách của máy bay, chuyên gia hàng không - du lịch Lương Hoài Nam cho rằng: Đường sắt tốc độ cao trước hết là một sự bổ sung, và ở một góc độ nào đó, nó cũng là một phương tiện cạnh tranh với hàng không, đặc biệt là ở các khoảng cách từ 500 km trở lên. Tuy nhiên, nếu nhìn rộng ra thế giới, từ Nhật Bản, châu Âu cho đến Mỹ, chưa từng có nơi nào mà giá vé đường sắt tốc độ cao lại rẻ hơn vé của các hãng hàng không giá rẻ.
Vì vậy, dù đường sắt tốc độ cao mang lại cho người tiêu dùng thêm một sự lựa chọn chất lượng, nhưng nếu coi đó là một "mối nguy cơ" có thể thay thế hoàn toàn cho hàng không, đặc biệt là hàng không giá rẻ, thì hoàn toàn không phải. Đường sắt cao tốc không rẻ đến mức có thể triệt tiêu máy bay.
Cũng theo TS Lương Hoài Nam, hiện nay, đường bay nội địa kết nối Hà Nội và TP.HCM đang xếp thứ 4 trên thế giới về số lượng chuyến bay và ghế cung ứng. Quy mô mạng bay này lớn một cách "khủng khiếp".
"Hãy thử hình dung, ngay cả khi trục đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam đi vào vận hành và có những đoàn tàu chạy suốt (non-stop) giữa Hà Nội và TP.HCM, thì một ngày đường sắt cũng chỉ có thể cung ứng thêm một số lượng chuyến tàu nhất định. Nếu đặt số ghế của vài chuyến tàu đó vào tổng thể dung lượng thị trường khổng lồ của cả hai phương tiện, chúng ta sẽ thấy sự gia tăng về tổng cung này thực chất là không đáng kể, không thấm tháp vào đâu so với năng lực vận chuyển hiện tại của ngành hàng không. Do đó, tiếp tục phát triển hạ tầng hàng không đủ sức cạnh tranh vẫn là định hướng đúng đắn" - ông Nam nhấn mạnh.
Tin Gốc: Thanh Niên

