Khi tập gym, cơ thể cần tinh bột để tạo năng lượng cho cơ bắp hoạt động. Nếu thiếu tinh bột, người tập dễ cảm thấy mệt, giảm sức bền hoặc khó duy trì cường độ tập, theo chuyên trang sức khỏe Medical News Today (Anh).
Dưới đây là những lý do mà người tập gym nên đưa khoai lang vào chế độ ăn.
Khoai lang chứa tinh bột phức tạp, nghĩa là khoai được tiêu hóa chậm hơn so với các loại tinh bột tinh chế như bánh ngọt. Trong 100 gram khoai lang nấu chín chứa khoảng 20 gram tinh bột phức tạp cùng lượng chất xơ đáng kể. Đây là lý do nhiều người chọn ăn khoai lang trước tập hoặc sau tập để bổ sung năng lượng và phục hồi glycogen cho cơ bắp.
Ngoài ra, ăn đủ tinh bột còn giúp cơ thể hạn chế sử dụng protein trong cơ bắp làm năng lượng. Đây là tình trạng có thể khiến cơ bắp nhỏ lại.
Kali là khoáng chất quan trọng đối với hoạt động của cơ và thần kinh. Khi tập luyện cường độ cao hoặc đổ nhiều mồ hôi, cơ thể sẽ mất một phần điện giải, trong đó có kali.
Khoai lang là nguồn kali khá tốt. Theo dữ liệu từ Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), một củ khoai lang cỡ trung bình, khoảng 110-130 gram, có thể chứa hơn 500 mg kali.
Bổ sung đủ kali giúp duy trì chức năng co cơ và cân bằng điện giải trong cơ thể. Điều này có thể giúp người tập giảm nguy cơ chuột rút và cảm giác mệt mỏi sau vận động kéo dài, chuyên gia dinh dưỡng Kristin Kirkpatrick tại trung tâm y khoa Cleveland Clinic (Mỹ) cho biết.
Khoai lang là thực phẩm khá linh hoạt trong chế độ ăn của người tập gym. Với người muốn tăng cơ, khoai lang giúp bổ sung tinh bột phức tạp cho tập luyện và phục hồi glycogen cho cơ bắp.
Trong khi đó, với người giảm mỡ, lượng chất xơ và khả năng tạo cảm giác no của khoai lang lại trở thành lợi thế giúp kiểm soát lượng calo nạp vào.
Điều quan trọng là tổng thể chế độ ăn chứ không phải chỉ riêng khoai lang. Nếu muốn tăng cơ, người tập vẫn cần bổ sung đủ protein từ các thực phẩm như trứng, thịt, cá, sữa hoặc các loại đậu. Nếu muốn giảm mỡ, cần kiểm soát tổng lượng calo và duy trì vận động đều đặn, theo Medical News Today.
Ung thư đại trực tràng là một trong những loại ung thư phổ biến nhất trên thế giới. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đây là ung thư phổ biến thứ 3 về số ca mắc và đứng thứ 2 về số ca tử vong do ung thư. Điều đáng lo ngại là bệnh ngày càng xuất hiện ở người trẻ, trong khi nhiều yếu tố nguy cơ hoàn toàn có thể phòng tránh nếu thay đổi lối sống.
Theo tiến sĩ William Dahut, Giám đốc khoa học của Hiệp hội Ung thư Mỹ, chế độ ăn nhiều thịt đỏ, đặc biệt là thịt chế biến sẵn như xúc xích, thịt xông khói, thịt nguội... là một trong những nguyên nhân phổ biến làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng. Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) thuộc WHO đã xếp thịt chế biến sẵn vào nhóm tác nhân gây ung thư ở người. Nhiều nghiên cứu cho thấy, tiêu thụ khoảng 50 gram thịt chế biến sẵn mỗi ngày có thể làm tăng khoảng 18% nguy cơ mắc bệnh.
Ngoài ra, chế độ ăn nghèo chất xơ, ít rau xanh, trái cây và ngũ cốc nguyên hạt cũng làm tăng nguy cơ. Theo Quỹ Nghiên cứu Ung thư Thế giới, chất xơ giúp rút ngắn thời gian chất thải lưu lại trong ruột, đồng thời nuôi dưỡng hệ vi khuẩn có lợi, từ đó góp phần bảo vệ niêm mạc đại tràng và giảm nguy cơ hình thành tế bào ung thư.
Béo phì và ít vận động cũng là những yếu tố nguy cơ đã được chứng minh. Tình trạng thừa cân kéo dài có thể thúc đẩy viêm mạn tính, rối loạn chuyển hóa insulin và tạo môi trường thuận lợi cho tế bào ung thư phát triển. Trong khi đó, tập thể dục đều đặn giúp cải thiện chuyển hóa, kiểm soát cân nặng và giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng.
Một nguyên nhân phổ biến khác là hút thuốc lá và uống nhiều rượu bia. Theo WHO, các hóa chất độc hại trong khói thuốc có thể làm tổn thương ADN của tế bào, còn rượu khi được chuyển hóa sẽ tạo ra acetaldehyde - hợp chất có khả năng gây ung thư. Nguy cơ mắc bệnh càng cao nếu 2 thói quen này tồn tại trong nhiều năm.
Bên cạnh các yếu tố lối sống, Hiệp hội Ung thư Mỹ cho biết tuổi tác, tiền sử gia đình có người mắc ung thư đại trực tràng, từng có polyp đại tràng, mắc bệnh viêm ruột mạn tính cũng làm tăng đáng kể nguy cơ mắc bệnh. Những người thuộc nhóm này nên được tầm soát sớm theo hướng dẫn của bác sĩ.
Các chuyên gia nhấn mạnh rằng ung thư đại trực tràng thường tiến triển âm thầm trong nhiều năm trước khi xuất hiện triệu chứng. Vì vậy, duy trì chế độ ăn giàu chất xơ, hạn chế thịt chế biến sẵn, giữ cân nặng hợp lý, tập thể dục thường xuyên, không hút thuốc, hạn chế rượu bia và tầm soát đúng thời điểm là những biện pháp hiệu quả nhất để giảm nguy cơ mắc bệnh. Theo khuyến cáo của WHO và Hiệp hội Ung thư Mỹ, phát hiện sớm không chỉ giúp việc điều trị hiệu quả hơn mà còn làm tăng đáng kể cơ hội sống cho người bệnh.
TS.BS Saurabh Sethi, chuyên khoa Tiêu hóa, tốt nghiệp Đại học Harvard (Mỹ), cho biết một số thực phẩm tốt cho thận và lợi ích của chúng đối với hoạt động của cơ quan này.
Thận là cơ quan quan trọng, hoạt động như hệ thống lọc tự nhiên của cơ thể, giúp loại bỏ độc tố, muối dư thừa và chất thải khỏi máu, đồng thời cân bằng nước và điện giải. Thận còn tham gia kiểm soát huyết áp, hỗ trợ sản xuất hồng cầu, kích hoạt vitamin D để duy trì xương chắc khỏe và giữ cân bằng axit - bazơ, giúp cơ thể hoạt động ổn định. Vì vậy, chế độ ăn uống đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe thận.
Các loại thảo mộc
Theo bác sĩ Sethi, các loại thảo mộc như rau mùi, húng quế tây mùi tây, xạ hương chứa nhiều chất chống oxy hóa, có lợi cho thận. Lá húng quế tây có tác dụng lợi tiểu tự nhiên, giúp tăng sản xuất nước tiểu, hỗ trợ thận đào thải muối dư thừa, độc tố và axit uric. Điều này có thể giúp giảm nguy cơ sỏi thận đồng thời cải thiện chức năng thận tổng thể.
Củ dền
Củ dền chứa nitrat, có thể giúp hạ huyết áp và giảm gánh nặng cho thận. Một số nghiên cứu cho thấy củ dền có tiềm năng hỗ trợ sức khỏe thận nhờ cải thiện chức năng mạch máu, giảm viêm, đẩy lùi stress oxy hóa.
Nước ép củ dền còn giúp làm chậm tăng đường huyết sau ăn và giảm đỉnh đường huyết. Loại nước này cũng được ghi nhận có tác dụng hỗ trợ hạ huyết áp ở cả người khỏe mạnh lẫn người tăng huyết áp, đặc biệt rõ hơn ở người thừa cân. Betalain trong củ dền hoạt động như chất chống oxy hóa tự nhiên, hỗ trợ quá trình thải lọc của cơ thể.
Tuy nhiên, củ dền chứa nhiều oxalat nên người có tiền sử sỏi thận, đặc biệt sỏi canxi oxalat, cần ăn điều độ.
Việt quất
Quả việt quất giàu vitamin, chứa ít kali nên được xem là thực phẩm lành mạnh với thận. Loại quả này có thể giúp giảm stress oxy hóa và viêm ở mô thận - những yếu tố liên quan tổn thương thận.
Hạt mắc ca
Hạt mắc ca chứa ít phốt pho nhưng giàu chất béo lành mạnh, phù hợp làm món ăn nhẹ hỗ trợ bảo vệ chức năng thận. Theo chuyên gia, mắc ca còn giúp cải thiện mỡ máu, thường được khuyến nghị trong chế độ ăn có lợi cho thận.
Nam việt quất
Nước ép nam việt quất là biện pháp hỗ trợ phổ biến cho người mắc nhiễm trùng đường tiết niệu nhờ đặc tính chống oxy hóa. Loại quả này được xem như "kháng sinh tự nhiên", giúp hạn chế sự phát triển của vi khuẩn trong đường tiêu hóa và thận. Chúng còn có tiềm năng hỗ trợ giảm triệu chứng sỏi thận canxi oxalat, phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu.
Anh đào giàu phytochemical - các hợp chất thực vật có lợi hỗ trợ bảo vệ tim, thận. Ăn loại quả này thường xuyên có thể giúp giảm viêm, trong đó có viêm tại thận.
Anh đào ngọt chứa nhiều kali, trong khi loại quả chua có hàm lượng kali thấp hơn. Người cần hạn chế kali nên tham khảo ý kiến chuyên gia dinh dưỡng để điều chỉnh lượng ăn phù hợp.
Ngày 5/5, đại diện Bệnh viện Đa khoa khu vực Hướng Hóa cho biết 9 bệnh nhân này lần lượt nhập viện từ ngày 1/4 đến 3/5. Bệnh nhân nhỏ nhất 17 tuổi, lớn nhất 86 tuổi, ngụ ở các xã miền núi Hướng Phùng, Lìa, Tân Lập, Khe Sanh (huyện Hướng Hóa cũ).
Các bệnh nhân cho biết họ ăn ve sầu chiên với dầu, mỡ, sau đó có biểu hiện đau bụng, sốt, tiêu chảy, nôn, nổi mẩn đỏ, trường hợp nặng khó thở. Bệnh nhân được truyền dịch, uống oresol, sử dụng kháng sinh, thuốc chống sốc phản vệ và men tiêu hóa. Sau điều trị, các bệnh nhân ổn định sức khỏe, xuất viện.
Ông Nguyễn Việt Đức, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa khu vực Hướng Hóa, cho biết ngành y tế địa phương liên tục cảnh báo, khuyến cáo người dân không nên ăn ve sầu. Ở địa phương, vào đầu mùa hè, ve sầu xuất hiện nhiều, người dân thường bắt làm món ăn và nhiều trường hợp bị ngộ độc.
"Mỗi năm bệnh viện tiếp nhận hơn 10 bệnh nhân ngộ độc do ăn ve sầu, chủ yếu xảy ra vào mùa hè", ông Đức cho biết.
Ve sầu không chứa độc tố nhưng sống khá lâu trong môi trường đất nên dễ bị nhiễm vi khuẩn hoặc các loài nấm độc ký sinh. Vì vậy, ve sầu là loại thức ăn có nhiều yếu tố gây dị ứng.
Một số người ăn ve sầu có thể bị nổi mề đay, mẩn ngứa. Trường hợp nặng có thể bị khó thở, nôn mửa, co giật, hôn mê, thậm chí tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.
Để phòng ngừa, người dân không nên ăn ve sầu. Người có cơ địa dị ứng sau khi ăn ve sầu hoặc các loại côn trùng khác xuất hiện các triệu chứng bất thường như mệt mỏi, choáng váng, buồn nôn, mẩn ngứa, đau bụng, rối loạn tiêu hóa, cần đến cơ sở y tế ngay.