Trong nhiều năm, SIM rác không chỉ gây phiền toái mà còn trở thành điểm khởi phát cho các hành vi lừa đảo, mạo danh. Việc đưa VNeID vào xác thực thuê bao phản ánh một cách tiếp cận mới, nơi danh tính số dần trở thành nền tảng cốt lõi, thay vì chỉ dừng lại ở việc quản lý dịch vụ như trước.
Khi mỗi số điện thoại gắn với một công dân đã được xác minh trong cơ sở dữ liệu quốc gia, độ tin cậy của các giao dịch số được nâng lên rõ rệt.
Không ít người từng nhận những cuộc gọi lạ hoặc tin nhắn quảng cáo vào mọi lúc, thậm chí có trường hợp bị mạo danh cơ quan chức năng hoặc ngân hàng. Phần lớn các tình huống này đều xuất phát từ những thuê bao không xác định rõ danh tính, khiến việc truy vết và xử lý trở nên khó khăn.
Thực tế quy định về đăng ký thông tin thuê bao đã được áp dụng từ sớm. Tuy nhiên trong một thời gian dài, việc thực hiện chủ yếu dựa trên đối chiếu giấy tờ và nhập liệu thủ công.
Trong quá trình đăng ký, thông tin vẫn có thể bị khai báo sai, trùng lặp hoặc sử dụng giấy tờ của người khác. Đã từng ghi nhận những trường hợp một cá nhân đứng tên cho hàng chục, thậm chí hàng trăm SIM mà không kiểm soát được mục đích sử dụng.
SIM rác không chỉ là câu chuyện của ngành viễn thông. Nó phản ánh một lỗ hổng lớn hơn liên quan đến danh tính trong môi trường số. Khi danh tính chưa được xác thực chặt chẽ, mọi dịch vụ dựa trên đó, từ liên lạc đến giao dịch tài chính, đều tiềm ẩn rủi ro. Đây cũng là lý do vì sao việc siết chặt quản lý thuê bao không còn dừng ở kỹ thuật, mà dần trở thành một phần trong chiến lược xây dựng hạ tầng định danh số.
Từ thực trạng trên, việc đưa VNeID vào xác thực thuê bao cho thấy sự chuyển hướng rõ rệt, từ kiểm soát thông tin sang xác thực danh tính. Thay vì chỉ đối chiếu giấy tờ như trước, dữ liệu thuê bao có thể được liên kết trực tiếp với cơ sở dữ liệu dân cư, nơi thông tin cá nhân đã được kiểm chứng.
Cách làm này giúp thu hẹp đáng kể khả năng giả mạo, khi mỗi số điện thoại được gắn với một danh tính cụ thể và phải đi qua lớp xác thực chặt chẽ hơn. Quan trọng hơn, số điện thoại không còn là thông tin rời rạc, mà trở thành một phần của danh tính số, tạo nền tảng tin cậy hơn cho các dịch vụ số.
Khi nền tảng này được thiết lập, nhiều dịch vụ có thể tận dụng để đơn giản hóa quy trình xác minh. Từ đăng ký tài khoản, xác thực giao dịch đến sử dụng dịch vụ công, người dùng có thể sử dụng một danh tính duy nhất thay vì lặp lại nhiều bước kiểm tra như trước. Đây cũng là tiền đề để các hệ sinh thái số phát triển theo hướng liền mạch và an toàn hơn.
Việc xác thực SIM qua VNeID có thể xem là một bước đi mang tính nền tảng trong hành trình xây dựng xã hội định danh số. Khi danh tính cá nhân được xác thực và liên kết xuyên suốt, nhiều dịch vụ số có thể vận hành trên một hệ thống chung, từ viễn thông, tài chính đến dịch vụ công, với độ tin cậy cao hơn.
Tuy nhiên đi cùng với đó là những yêu cầu lớn hơn về bảo mật và quản lý dữ liệu. Khi thông tin được tập trung và liên kết, nguy cơ bị khai thác sai mục đích cũng cần được kiểm soát chặt chẽ.
Dù còn những thách thức, việc gắn danh tính thật với dịch vụ số vẫn là xu hướng tất yếu, và xác thực thuê bao qua VNeID có thể xem là bước đệm để tiến tới một môi trường số minh bạch và an toàn hơn.
Cụ thể, Điều 8 của Thông tư (điều khoản này có hiệu lực từ 15/6) quy định, người dùng khi thay đổi thiết bị đầu cuối (điện thoại) sẽ phải thực hiện lại xác thực sinh trắc học ảnh khuôn mặt.
Cụ thể, trong thời gian tối đa 2 giờ kể từ thời điểm người dùng có hoạt động thay đổi thiết bị so với thiết bị đã gắn số thuê bao sử dụng dịch vụ viễn thông trước đó, doanh nghiệp viễn thông có nghĩa vụ triển khai biện pháp rà soát, phát hiện và tạm dừng cung cấp dịch vụ viễn thông chiều đi (gọi điện thoại, gửi tin nhắn SMS đến số thuê bao di động khác).
Đồng thời, doanh nghiệp cũng có nghĩa vụ thông báo yêu cầu người dùng phải thực hiện lại xác thực sinh trắc học ảnh khuôn mặt.
Trong vòng 30 ngày kể từ ngày tạm dừng cung cấp dịch vụ viễn thông chiều đi, người dùng phải hoàn thành thực hiện lại xác thực sinh trắc học ảnh khuôn mặt.
Sau thời hạn này nếu người dùng không thực hiện xác thực sinh trắc học, doanh nghiệp viễn thông có nghĩa vụ tạm dừng cung cấp dịch vụ viễn thông hai chiều (khóa 2 chiều), đồng thời thông báo cho người dùng được biết họ sẽ bị thanh lý hợp đồng, chấm dứt cung cấp dịch vụ viễn thông nếu không thực hiện.
Nhà mạng có trách nhiệm thanh lý hợp đồng, chấm dứt cung cấp dịch vụ viễn thông sau 5 ngày kể từ ngày tạm dừng cung cấp dịch vụ viễn thông hai chiều nếu cá nhân, tổ chức không thực hiện xác thực lại sinh trắc học.
Liên quan đến xác thực thuê bao di động, thông tư quy định rõ, các đơn vị viễn thông có trách nhiệm bảo đảm mọi thuê bao di động phải có đầy đủ 4 trường thông tin định danh gồm: Họ và tên; ngày, tháng, năm sinh; số định danh cá nhân; sinh trắc học khuôn mặt.
Toàn bộ dữ liệu này bắt buộc phải trùng khớp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do Bộ Công an quản lý.
Đến hiện tại không ít người dùng chưa thực hiện xác thực theo quy định đã bị khoá cuộc gọi chiều đi.
Trong khi đó, các nhà mạng liên tục gửi thông báo tới người dùng chưa xác thực, thành lập các điểm xác thực lưu động, đến tận nhà hỗ trợ người yếu thế, vùng sâu vùng xa để không làm ảnh hưởng đến liên lạc của người dùng.
Tại Diễn đàn Cấp cao Chuyển đổi số Việt Nam - Châu Á 2026 (Vietnam - Asia DX Summit 2026) khai mạc ngày 28.5 tại Hà Nội, các chuyên gia hàng đầu trên cả nước đánh giá thời gian qua, những giải pháp quản trị dựa trên dữ liệu (Data-driven) đã mang lại kết quả thực tế ban đầu tại một số địa phương như hệ thống camera AI tại TP.Huế hay trung tâm dữ liệu xanh tại Khánh Hòa. Tuy nhiên, tiến trình này nhìn chung đang bị cản trở bởi hiện tượng phân mảnh dữ liệu sâu sắc. Các "ốc đảo dữ liệu" (Data Silos) biệt lập giữa ngành và địa phương đang làm giảm hiệu quả liên thông thông tin trên quy mô quốc gia.
Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia cũng cảnh báo về tình trạng "số hóa hình thức" và "công nghệ hóa hời hợt". Theo đó, không ít doanh nghiệp và tổ chức chi ngân sách lớn cho các phần mềm đắt tiền nhưng giữ nguyên quy trình làm việc thủ công cũ kỹ, dẫn đến lãng phí tài nguyên và xung đột thói quen vận hành nội bộ.
Để khắc phục triệt để bài toán này, ông Ngô Thanh Hiền, Giám đốc Công nghệ (CTO) IBM Vietnam, đề xuất giải pháp xây dựng các mô hình dữ liệu liên thông mở cấp quốc gia. Mô hình này đã chứng minh tính hiệu quả từ hệ thống hóa đơn điện tử của Tổng cục Thuế Việt Nam khi xử lý bảo mật hơn 20,3 tỉ hóa đơn cho hàng trăm ngàn doanh nghiệp, hoặc mô hình mã định danh công dân liên thông của Ấn Độ. Ngoài ra, việc phổ cập khung chuẩn kỹ năng số quốc gia (DSS) 3 lớp cũng là giải pháp cần thiết để toàn dân và doanh nghiệp hấp thụ công nghệ một cách thực chất.
Một thực trạng khác được phơi bày tại diễn đàn liên quan đến làn sóng bùng nổ trí tuệ nhân tạo (AI). Dự báo giai đoạn 2026 - 2034, mảng AI doanh nghiệp tại Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) lên tới 31%/năm, với 78% dân số trực tuyến có sử dụng công cụ AI. Tuy nhiên, có đến 74% doanh nghiệp ứng dụng AI mới dừng lại ở mức cơ bản và đang lệ thuộc hoàn toàn vào hạ tầng quốc tế, từ việc thuê GPU ngoài lãnh thổ đến gọi API từ các tập đoàn Big Tech Mỹ.
Sự bùng nổ của trung tâm dữ liệu siêu quy mô cũng đang tạo áp lực dòng điện cực đại lên lưới điện quốc gia, do tốc độ tiêu thụ điện thương phẩm chạy nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP. Việc thiếu quy hoạch đồng bộ, đầu tư rời rạc giữa các sở ngành không chỉ gây lãng phí, mà còn mở ra rủi ro bảo mật lớn nếu không ưu tiên an ninh mạng ngay từ khâu thiết kế kiến trúc lõi.
Để giải quyết bài toán tự chủ dữ liệu, ông Đặng Triều Dương, đại diện FPT Smart Cloud, cho biết đơn vị đã đầu tư 200 triệu USD xây dựng tổ hợp nhà máy AI (FPT AI Factory) với hơn 1.000 GPU chuyên dụng, cam kết vận hành hoàn toàn trong nước để cung cấp giải pháp đám mây chủ quyền. Ông Dương nhấn mạnh nếu lớp móng hạ tầng không thuộc về Việt Nam, các tầng công nghệ ứng dụng phía trên sẽ rất dễ bị tổn thương trước các biến động địa chính trị và an ninh mạng.
Thế giới công nghệ đang bước vào "điểm gãy" khi AI dịch chuyển từ hình thái trợ lý hỗ trợ sang các hệ thống tự hành (Agentic AI), thúc đẩy sự bùng nổ của mô hình "doanh nghiệp một người" (One-Person Company - OPC). Xu hướng này đòi hỏi doanh nghiệp phải nhanh chóng chuyển đổi sang khung quản trị quyết định, đồng bộ dữ liệu nội bộ và thị trường thông qua các công cụ phân tích tự động.
Tuy nhiên, sự xuất hiện của AI tự hành cũng kéo theo rủi ro bùng nổ "nợ kỹ thuật". Việc AI tạo mã nguồn tự động với tốc độ nhanh sẽ sinh ra số lượng mã code khổng lồ, thiếu cấu trúc mà con người không thể hiểu hoặc bảo trì. Điều này đe dọa trực tiếp đến tính an toàn của hệ thống lõi doanh nghiệp, nơi một lỗi nhỏ trong mã nguồn có thể gây thiệt hại hàng triệu USD.
Trước thách thức này, các tổ chức được khuyến nghị áp dụng các bộ khung kiến trúc quản trị tách biệt quyết định ra khỏi vùng mờ của mã nguồn, đồng thời áp dụng tư duy giám sát theo thời gian thực. Trách nhiệm của ngành công nghiệp số là phải đơn giản hóa các công nghệ phức tạp thành những giải pháp dạng "cắm và chạy" (Plug & Play) với chi phí tối thiểu, đưa AI đến gần hơn với hàng triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng hộ kinh doanh cá thể tại Việt Nam.
Chiều tối 18-4, ông Thái Đăng Khoa - Bí thư phường Phú Lợi, TP Cần Thơ - cho biết Đảng ủy, UBND phường Phú Lợi vừa ký kết thỏa thuận hợp tác với FPT Polytechnic Cần Thơ trong việc ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Theo ông Khoa, đây là mô hình mới được triển khai cho sinh viên tham gia trực tiếp vào các dự án chuyển số cho địa phương - cách làm được xem là cụ thể hóa Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị và kế hoạch 43 của Thành ủy Cần Thơ.
Theo cách làm này, sinh viên không chỉ học lý thuyết mà còn trực tiếp tham gia hỗ trợ hộ kinh doanh đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử, xây dựng kênh truyền thông số, thậm chí tham gia các dự án ứng dụng công nghệ trong quản lý hành chính.
"Thay vì học xong mới đi làm, chúng tôi được làm ngay từ khi còn học. Những gì học trên lớp đều áp dụng được ngoài đời, giúp ích cho người dân nên chúng tôi cảm thấy rất vui", bạn Hằng, một sinh viên chia sẻ.
Theo ông Khoa, mô hình mà phường đang triển khai mang lại lợi ích kép. Với sinh viên, đó là cơ hội tích lũy kinh nghiệm thực tế, xây dựng năng lực nghề nghiệp từ sớm.
"Còn với địa phương, đây là nguồn lực hỗ trợ thiết thực trong việc nâng cao năng lực số cho cộng đồng, đặc biệt các hộ kinh doanh nhỏ, mang lại hiệu quả thiết thực", ông Khoa nói .
Phường Phú Lợi hiện có hơn 8.000 cơ sở kinh doanh và trên 1.000 doanh nghiệp, do vậy rất thuận lợi để triển khai các hoạt động chuyển đổi số, từ bán hàng online đến xây dựng thương hiệu số.
"Quan trọng hơn, mô hình này cho thấy một điều: chuyển đổi số chỉ thực sự hiệu quả khi đi vào đời sống, khi người dân và doanh nghiệp nhỏ được tham gia và hưởng lợi trực tiếp. Từ những bước đi nhỏ ở cấp phường, câu chuyện chuyển đổi số đang dần trở nên gần gũi hơn - không còn là khái niệm xa vời", ông Khoa chia sẻ.