Phía sau kết quả tưởng như bế tắc đó là một tiến trình ngoại giao kéo dài hơn 20 giờ, với những khoảnh khắc tiến rất gần đến thỏa thuận trước khi sụp đổ. Những gì diễn ra trong “vùng đàm phán khép kín” tại thủ đô Pakistan cho thấy rõ mức độ phức tạp, thiếu tin tưởng và những ranh giới đỏ khó dung hòa giữa hai đối thủ lâu năm.
Ngày 11-4, thủ đô Islamabad của Pakistan bước vào tình trạng an ninh nghiêm ngặt trước thềm đàm phán. Hơn 10.000 nhân viên an ninh được triển khai, các tuyến đường bị phong tỏa, trong khi khách sạn Serena – nơi diễn ra cuộc gặp – được dọn trống hoàn toàn và biến thành một khu vực kiểm soát chặt chẽ.
Theo Hãng tin Reuters, hai phái đoàn đến nơi theo cách thức kín đáo: phía Iran hạ cánh vào đêm muộn, còn phía Mỹ đến vào ngày hôm sau.
Bên trong khách sạn Serena, không gian được chia thành ba khu riêng biệt: khu của Mỹ, khu của Iran và khu trung gian dành cho các cuộc gặp có sự tham gia của phía Pakistan. Điện thoại bị cấm trong phòng họp chính, buộc các quan chức phải ra ngoài để liên lạc về nước.
Ngay từ đầu, cuộc đàm phán đã mang tính đối đầu giữa hai cách tiếp cận: phía Mỹ theo đuổi “hòa bình thông qua sức mạnh”, trong khi Iran nhấn mạnh bằng mọi giá sẽ “kháng cự trong danh dự”.
Tehran đặt ra các điều kiện rõ ràng: triển vọng hòa bình chỉ có thể xảy ra nếu vấn đề ngừng bắn tại Lebanon được giải quyết và các tài sản bị đóng băng của Iran ở nước ngoài được giải phóng.
Trong khi đó, Washington tập trung vào các mục tiêu cốt lõi như chấm dứt chương trình hạt nhân của Iran và mở lại eo biển Hormuz – tuyến vận chuyển năng lượng quan trọng toàn cầu.
Dù tồn tại khác biệt sâu sắc, chỉ vài giờ sau khi hai bên đến nơi, các cuộc tiếp xúc trực tiếp vẫn được khởi động. Đây được xem là bước “tan băng” quan trọng sau nhiều năm đối thoại gián tiếp của hai nước.
Các cuộc đàm phán kéo dài 21 giờ đồng hồ, được mô tả là “liên tục nhưng không đồng đều”. Phiên đầu tiên diễn ra nhanh chóng, sau đó là những khoảng nghỉ ngắn, nhưng trao đổi vẫn tiếp tục không chính thức.
Nhiều vòng đàm phán nối tiếp, các bản dự thảo được trao đổi, lập trường được nhắc lại trong khi các đoàn liên tục liên lạc về nước để xin chỉ đạo.
Theo các nguồn tin, tiến triển đạt được theo từng phần nhỏ. Bốn nguồn tin cho biết có thời điểm các cuộc đối thoại tiến gần đến một thỏa thuận khung, nhưng cuối cùng đổ vỡ do bất đồng về chương trình hạt nhân, eo biển Hormuz và lượng tài sản mà Iran muốn tiếp cận.
Hai nguồn tin cấp cao từ Iran mô tả bầu không khí “nặng nề và thiếu thiện chí”, cho biết dù Pakistan cố gắng làm dịu tình hình, cả hai bên đều không thể hiện ý muốn giảm căng thẳng. Có thời điểm các bên rời phòng, tranh cãi lớn tiếng, trước khi quay lại tiếp tục đàm phán.
Theo các nguồn tin, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi đã lớn tiếng khi các bên thảo luận về những cam kết đảm bảo hậu chiến: “Làm sao chúng tôi có thể tin các ông khi trong cuộc gặp ở Geneva trước đó, các ông nói Mỹ sẽ không tấn công trong khi ngoại giao vẫn đang diễn ra?”.
Thực tế, Mỹ và Israel đã tổ chức tấn công vào Iran chỉ hai ngày sau khi diễn ra vòng đàm phán tại Geneva hôm 26-2.
Đến sáng sớm ngày 12-4 theo giờ địa phương, bầu không khí có phần cải thiện và đã có đề xuất kéo dài đàm phán sang ngày thứ hai, và phía Iran sẵn sàng ở lại. Tuy nhiên, phía Mỹ quyết định kết thúc cuộc gặp, khiến tiến trình dừng lại đột ngột.
Khi công bố kết quả, Phó tổng thống Mỹ JD Vance thừa nhận hai bên “đã có những trao đổi thực chất” nhưng chưa đạt được thỏa thuận. Mỹ cho biết đã đưa ra “đề xuất cuối cùng và tốt nhất”, trong khi Iran cho rằng lập trường của Washington là quá mức và thiếu thiện chí.
Dù vậy, cả hai phía đều không xem đây là kết thúc. Tiến trình đối thoại vẫn được tiếp tục, trong khi Iran nhấn mạnh đây là “một quá trình” và đã đặt nền móng cho các cuộc trao đổi trong tương lai.
Do đó, dù cánh cửa đàm phán đã đóng lại, nhưng nó vẫn chưa hề bị khóa.
Trong cuộc trao đổi với các phóng viên ngày 29/6, người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov tuyên bố những diễn biến dọc toàn bộ chiến tuyến rất khả quan và củng cố niềm tin rằng Nga sẽ đạt được mục tiêu trong chiến dịch quân sự tại Ukraine.
"Hôm qua, Tổng thống Putin đã liệt kê tất cả các hướng mà quân đội của chúng ta đang tiến công, nêu tên cụ thể các khu vực. Chăc chắn đà tiến công này rất đáng chú ý. Và tất nhiên, điều đó cho chúng ta niềm tin rằng chúng ta sẽ đạt được mục tiêu của mình”, người phát ngôn Điện Kremlin nhấn mạnh.
Ông Peskov chỉ ra rằng, "khi nêu tên các hướng cụ thể, nơi một vùng đệm an ninh đang được thiết lập sau cuộc xâm nhập của các lực lượng vũ trang Kiev vào vùng Kursk, Tổng thống Putin đã nói rằng Ukraine sẽ phải trả giá cho cuộc xâm nhập này, trả giá bằng lãnh thổ sẽ nằm trong vùng đệm”.
"Do vậy, hôm qua một số tuyên bố quan trọng đã được đưa ra, phản ánh một cách rõ ràng và quyết đoán, chứng minh đà tiến công tích cực (của Nga) trên chiến tuyến”, ông Peskov nhắc lại tuyên bố trước đó của Tổng thống Nga.
Theo ông Peskov, lập trường của Nga về việc giải quyết vấn đề Ukraine đã được công bố rộng rãi và vẫn nhất quán. Trong khi đó, đà tiến công trên mặt trận “cũng khá rõ ràng”.
Tổng thống Putin ngày 28/6 tuyên bố thông qua chiến dịch xâm nhập vào vùng Kursk của Nga, chính quyền Kiev đã buộc Moscow phải thiết lập một vùng đệm an ninh. Do vậy, theo ông Putin, Ukraine sẽ phải trả giá cho hành động gây hấn này bằng việc mất đi các vùng lãnh thổ.
"Chính quyền Ukraine sẽ phải trả giá cho hành động của mình tại khu vực Kursk bằng việc mất đi những vùng lãnh thổ mà chúng tôi cần để tạo ra một vùng đệm an ninh dọc theo biên giới”, ông Putin nêu rõ.
Tổng thống Putin tuyên bố quân đội Nga đang hành động tích cực và quyết đoán để thiết lập một vùng đệm an ninh ở tỉnh Sumy của Ukraine, nơi giáp với tỉnh Kursk của Nga.
"Quân đội đang hành động tích cực và quyết đoán theo hướng này, tiến quân với tốc độ nhanh chóng”, ông Putin cho biết thêm.
Hiện tại, ông Putin cho biết Nga không có kế hoạch chính trị tổng thể nào cho vùng Sumy, nơi lực lượng vũ trang Nga đang tiến quân để thiết lập vùng đệm an ninh. Mục tiêu của lực lượng vũ trang Nga tại các khu vực Sumy và Volchansk là thiết lập vùng an ninh dọc biên giới Nga.
“Mục tiêu của quân đội Nga tại các khu vực này là thiết lập vùng an ninh dọc biên giới của chúng ta. Mục tiêu này được đặt ra sau cuộc xâm nhập của Ukraine vào vùng Kursk và các cuộc tấn công đang diễn ra ở các khu vực biên giới của chúng ta”, ông Putin nói thêm.
Theo Tổng thống Putin, quân đội Nga đang thực hiện nhiệm vụ và sẽ tiếp tục làm mọi điều cần thiết để đạt được mục tiêu của chiến dịch quân sự tại Ukraine.
Vào tháng 8/2024, khi Ukraine tiến hành cuộc đột kích chưa từng có vào tỉnh Kursk của Nga và leo thang xung đột, một số cư dân ở Kursk đã bị cưỡng ép phải di dời đến thành phố Sumy của Ukraine.
Chiến dịch Kursk được Ukraine thực hiện nhằm buộc Nga rút quân về bảo vệ vùng biên giới, từ đó làm chậm bước tiến của Moscow ở mặt trận Donbass, miền Đông Ukraine, đồng thời tạo quân bài mặc cả cho Kiev trên bàn đàm phán.
Kiev nhanh chóng kiểm soát khoảng 1.300km2 ở Kursk, nhưng sau đó, Nga đã giành lại hầu hết lãnh thổ.
Với sự hỗ trợ của quân đội Triều Tiên, Nga sau đó tuyên bố đã đẩy lùi lực lượng Ukraine trở lại biên giới và gây thiệt hại nặng nề cho Kiev.
Việc giành lại hầu hết lãnh thổ Kursk và mở rộng kiểm soát lãnh thổ ở Ukraine mang lại cho Nga lợi thế lớn trong các cuộc đàm phán do Mỹ làm trung gian.
Tuy nhiên, Ukraine vẫn tiếp tục đẩy mạnh chiến lược tấn công tầm xa vào nhiều mục tiêu trong lãnh thổ Nga, trong đó có các cơ sở dầu khí.
Trong thông điệp mới nhất ngày 9-4, lãnh tụ tối cao Iran Mojtaba Khamenei khẳng định nước Cộng hòa Hồi giáo này không tìm kiếm chiến tranh với Mỹ và Israel, nhưng sẽ quyết tâm bảo vệ các quyền lợi của mình.
“Chúng tôi không tìm kiếm chiến tranh và cũng không mong muốn điều đó. Nhưng chúng tôi sẽ không từ bỏ các quyền hợp pháp của mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Về điểm này, chúng tôi coi toàn bộ mặt trận kháng chiến là một thể thống nhất”, ông Khamenei phát biểu.
Ngoài ra, ông Khamenei cho biết sẽ đưa việc quản lý eo biển Hormuz “bước sang một giai đoạn mới”, theo Đài CNN.
Trong thời gian gần đây, tình hình sức khỏe của tân lãnh tụ tối cao Iran gây chú ý dư luận bởi thông tin ông đã bị thương nặng.
Tehran cũng kêu gọi các nước láng giềng phía nam cảnh giác với những “lời hứa giả dối”, đồng thời nói rằng Iran vẫn đang chờ đợi “một phản hồi phù hợp” từ họ để chứng minh thiện chí và tình anh em.
Ngày 9-4, Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Bagher Ghalibaf cảnh báo “thời gian đang cạn dần”, đồng thời khẳng định Lebanon là “một phần không thể tách rời của lệnh ngừng bắn”.
“Lebanon và toàn bộ Trục kháng chiến, với tư cách là các đồng minh của Iran, là một phần không thể tách rời của lệnh ngừng bắn”, ông Ghalibaf viết trên mạng xã hội X, cũng như cảnh báo mọi hành động vi phạm lệnh ngừng bắn sẽ phải trả giá đắt.
Ở phía ngược lại, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu ngày 9-4 một lần nữa khẳng định không có lệnh ngừng bắn nào với lực lượng Hezbollah tại Lebanon.
“Tôi muốn nói với quý vị: không có lệnh ngừng bắn ở Lebanon. Chúng tôi đang tiếp tục tấn công Hezbollah bằng sức mạnh, và sẽ không dừng lại cho đến khi khôi phục được an ninh cho các bạn”, nhà lãnh đạo Israel phát biểu.
Ngày 9-4, Bộ trưởng Quốc phòng Pakistan Khawaja Asif đã gọi Israel là thế lực “độc ác và tai ương đối với nhân loại”, đồng thời cáo buộc quốc gia Do Thái này đang thực hiện “hành vi diệt chủng” tại Lebanon khi các cuộc đàm phán hòa bình đang diễn ra.
“Những thường dân vô tội đang bị Israel sát hại, trước tiên là Gaza, đến Iran và giờ là Lebanon, tình trạng đổ máu vẫn tiếp diễn không ngừng”, ông Khawaja Asif viết trên mạng xã hội.
Ngày 9-4, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) tuyên bố Iran “không phóng bất kỳ tên lửa nào vào bất kỳ quốc gia nào trong thời gian ngừng bắn cho đến thời điểm hiện tại”.
Tuyên bố này được đưa ra sau khi truyền thông đưa tin rằng một máy bay không người lái đã gây thiệt hại tại một cơ sở của quân đội Kuwait, theo Hãng tin Fars.
“Nếu những thông tin được truyền thông đăng tải là đúng, thì chắc chắn đó là hành động của kẻ thù theo chủ nghĩa Do Thái hoặc của Mỹ”, IRGC khẳng định.
Bên cạnh đó, IRGC lưu ý các lực lượng vũ trang Iran “sẽ công khai thông báo” nếu họ “tấn công bất kỳ mục tiêu nào”.
Ngày 10-4 theo giờ địa phương, quân đội Israel cho biết Hezbollah đã phóng một tên lửa vào nước này, kích hoạt còi báo động không kích tại nhiều khu vực trên cả nước, bao gồm cả Tel Aviv.
Trước đó, quân đội Israel đã ban hành cảnh báo với người dân tại các khu vực phía nam thủ đô Beirut về các cuộc không kích sắp diễn ra, cũng như kêu gọi họ nhanh chóng sơ tán.
Ở phía ngược lại, lực lượng Hezbollah xác nhận đã nhắm vào các cơ sở hạ tầng quân sự của Israel tại thành phố Haifa vào đêm muộn 9-4 giờ địa phương.
Cuộc không kích này diễn ra sau đợt không kích dữ dội nhất của Israel nhằm vào Lebanon hôm 8-4, khiến ít nhất 300 người thiệt mạng.
Bộ trưởng Quốc phòng (Bộ trưởng Chiến tranh) Pete Hegseth đã lên kế hoạch gây sốc cho các lãnh đạo quân sự NATO tại Brussels vào tháng trước với thông báo cắt giảm sâu hơn lực lượng Mỹ tại châu Âu. Tuy nhiên, đề xuất này đã bị bác bỏ sau khi vấp phải sự phản đối từ Ngoại trưởng Marco Rubio, người đồng thời là Cố vấn An ninh Quốc gia của Tổng thống Donald Trump, và các quan chức cấp cao khác.
Theo Wall Street Journal, ông Hegseth dự định tuyên bố Mỹ sẽ cắt giảm thêm quân số tại châu Âu, vượt ra ngoài việc hủy bỏ triển khai một lữ đoàn thiết giáp đến Ba Lan và rút một lữ đoàn bộ binh khỏi Romania. Tuy nhiên, thay vì đưa ra thông báo gây chấn động, Bộ trưởng Hegseth chỉ cho biết Mỹ sẽ tiến hành xem xét lại các hoạt động của lực lượng ở châu Âu, một quá trình có thể kéo dài tới 6 tháng.
Sự việc này cho thấy sự chia rẽ trong chính quyền Mỹ về tốc độ và phạm vi của việc cắt giảm quân số tại châu Âu. Trong khi Tổng thống Trump thường xuyên chỉ trích các nước NATO không chi đủ cho quốc phòng, thì những đề xuất cứng rắn của Bộ trưởng Hegseth đã khiến các đồng minh và một số nghị sĩ Mỹ lo ngại về những thiệt hại lâu dài cho liên minh và nguy cơ "khuyến khích" Nga.
Người phát ngôn Lầu Năm Góc, ông Sean Parnell, cho biết, Bộ trưởng Hegseth đã đảm bảo thông điệp của mình phù hợp với các mục tiêu của Tổng thống Trump và không muốn can thiệp vào phạm vi quyết định của Nhà Trắng.
Số lượng binh sĩ Mỹ và chi tiêu quốc phòng của các đồng minh dự kiến sẽ là tâm điểm khi Tổng thống Trump gặp gỡ các nhà lãnh đạo NATO tại Ankara (Thổ Nhĩ Kỳ) vào tuần tới. Các quan chức NATO hy vọng hội nghị thượng đỉnh này sẽ thể hiện sự đoàn kết với Mỹ và ủng hộ Ukraine, nhưng lo ngại căng thẳng với ông Trump có thể làm lu mờ mục tiêu đó.
Thậm chí, các quan chức NATO đang xem xét hủy bỏ kế hoạch tổ chức một hội nghị thượng đỉnh khác vào năm tới tại Albania, một diễn biến đã được Reuters đưa tin trước đó.
Tổng thống Trump đã tái khẳng định quan điểm của mình trên mạng xã hội vào ngày 2/7: “Mỹ chi nhiều tiền cho NATO hơn bất kỳ quốc gia nào khác, vượt xa tất cả, để bảo vệ họ mà không thu được bất kỳ lợi ích nào từ việc đó”, ông nói.
Thông điệp cứng rắn của ông Hegseth
Chiến lược quốc phòng của Lầu Năm Góc được ban hành vào tháng 1 đã báo hiệu việc Mỹ sẽ giảm sự hiện diện quân sự ở châu Âu để tập trung vào khu vực Tây Thái Bình Dương và Tây bán cầu. Mục tiêu là giao cho các quốc gia châu Âu trách nhiệm chính trong việc phòng thủ thông thường của lục địa.
Vào tháng 5, Bộ trưởng Hegseth đã đột ngột hủy bỏ kế hoạch luân chuyển một lữ đoàn thiết giáp từ Fort Hood, Texas đến Ba Lan. Quyết định này đã vấp phải sự chỉ trích gay gắt từ các nghị sĩ lưỡng đảng và các quan chức Ba Lan vì thiếu sự tham vấn. Thậm chí, Tổng thống Trump cũng bất ngờ và đã gọi điện cho ông Hegseth để hỏi tại sao lại "đối xử tệ bạc" với một đồng minh quan trọng như vậy.
Sau đó, ông Trump tuyên bố sẽ điều 5.000 binh sĩ đến Ba Lan, nhưng cho đến nay chưa có thêm binh sĩ nào được triển khai.
Viễn cảnh cắt giảm quân số của Mỹ ở châu Âu vẫn đang hiện hữu. Bộ trưởng Hegseth và trợ lý chính sách hàng đầu Elbridge Colby, người được biết đến với quan điểm ưu tiên hạn chế các nghĩa vụ của Mỹ bên ngoài châu Á, đã đặc biệt quyết đoán trong việc thu hẹp lực lượng Mỹ đóng tại châu Âu.
Cuộc chiến với Iran đã mang đến cơ hội mới để xem xét lại các cam kết về quân số. Trong khi Anh cung cấp căn cứ cho máy bay ném bom tầm xa của Mỹ tấn công Iran, Tây Ban Nha lại từ chối. Sau khi Thủ tướng Đức chỉ trích chiến lược Iran của chính quyền Mỹ, ông Trump đã đe dọa rút quân khỏi Đức.
Những động thái này đã khiến các nghị sĩ Quốc hội lo ngại. Họ đã đưa các điều khoản vào dự thảo luật chi tiêu quân sự, cấm Bộ Quốc phòng giảm quân số xuống dưới 76.000 ở châu Âu mà không có sự xem xét rủi ro từ Bộ Tư lệnh châu Âu của Mỹ và Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân.
Trong bài phát biểu công bố kế hoạch dự tính tái bố trí lực lượng, Bộ trưởng Hegseth đã nhắm thẳng vào châu Âu: “Đừng nhầm lẫn - đây sẽ là một cân nhắc thực sự. Mọi kế hoạch sẽ nhằm đảm bảo rằng NATO đang tiến nhanh và không thể đảo ngược hướng tới việc châu Âu đảm nhận trách nhiệm chính trong việc bảo vệ châu Âu".