Mạng lưới Hợp tác nghiên cứu giảng dạy tiếng Anh (TERECONET) phối hợp cùng Trường ĐH Sư phạm, ĐH Đà Nẵng tuần qua tổ chức tọa đàm “Tương lai của tiếng Anh ở Việt Nam: Câu chuyện giáo dục, chính sách và thời đại”, thu hút đông đảo giáo viên, giảng viên, nhà nghiên cứu và nhà quản lý giáo dục trên cả nước. Tọa đàm có sự tham dự của các diễn giả chuyên nghiên cứu, đào tạo các lĩnh vực liên quan tới tiếng Anh.
Phát biểu dẫn đề, tiến sĩ Trần Thanh Vũ, sáng lập và điều hành TERECONET, chia sẻ hoạt động giảng dạy tiếng Anh ở Việt Nam đang nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Về phía chính sách, Thủ tướng hồi cuối năm ngoái đã phê duyệt Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045” (Đề án), hình thành cơ sở để các tỉnh, thành soạn đề án riêng của địa phương và thí điểm triển khai từ năm học tới.
Thị trường dạy và học tiếng Anh cũng sôi động khi có ít nhất hàng ngàn trung tâm ngoại ngữ, trong đó có tiếng Anh, hoạt động trên cả nước. Thống kê từ TP.HCM cho thấy có 1.961 trung tâm ngoại ngữ, tin học tính tới tháng 8.2025, trong khi con số này ở Hà Nội là 584 cơ sở tính tới tháng 10.2025. “Bên cạnh đó, còn rất nhiều cơ sở dạy tiếng Anh độc lập, cũng như đông đảo thầy cô dạy ở nhà nhưng không đăng ký chính thức”, thầy Vũ chia sẻ.
“Tiếng Anh từ vị thế một kỹ năng hiếm có nay đã thành kỹ năng cần thiết”, thầy Vũ nói.
Thực tế này đặt ra vấn đề đầu tiên với tiếng Anh là nên đào tạo các ngành liên quan ra sao, nhất là ngôn ngữ Anh, sư phạm Anh trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) tác động mạnh mẽ đến dạy và học cũng như thị trường lao động hiện nay?
Tiến sĩ Lê Quang Thảo, giảng viên Trường ĐH Văn Lang (TP.HCM), cho biết ngành ngôn ngữ Anh ở các trường hiện không còn chỉ dạy ngôn ngữ thuần túy, thay vào đó coi đây là một trong những khối kiến thức trong chương trình đào tạo. Vì thế, mô hình phổ biến là “2+2”, tức 2 năm đầu đào tạo kỹ năng ngôn ngữ, 2 năm sau đào tạo theo định hướng ngành nghề cụ thể chẳng hạn như thương mại, du lịch, sư phạm, biên-phiên dịch…
Đây cũng là nét đặc trưng trong đào tạo tiếng Anh tại Việt Nam so với các nước, nơi giảng đường gắn chặt với thị trường. “Nếu chỉ có kỹ năng tiếng Anh thuần túy, dù ‘10.0 IELTS’ các bạn vẫn không thể tồn tại, phát triển sự nghiệp trong thế kỷ 21”, PGS-TS Lê Văn Canh, nhà nghiên cứu độc lập hiện công tác tại Hà Nội, lưu ý.
Tuy nhiên, việc đào tạo đang đối diện với nhiều thách thức, như làm sao giúp sinh viên đủ khả năng cạnh tranh với nguồn nhân lực học ngành khác nhưng thông thạo tiếng Anh, cách xác định yếu tố bản ngữ khi ngôn ngữ Anh của mỗi nước nói tiếng Anh lại có sự khác biệt, hay áp lực đổi mới toàn diện chương trình dưới tác động của AI – nhất là với nhóm sư phạm.
“Không còn cách nào khác” ngoài việc tích hợp ngay AI vào chương trình đào tạo bằng sự cẩn trọng, đó là khẳng định của PGS-TS Võ Văn Minh, Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm, ĐH Đà Nẵng. Tuy nhiên, thầy Minh nhấn mạnh chúng ta không nên chỉ dành hết sự chú ý vào việc đào tạo thế hệ mới, mà quan trọng hơn cả chính là nhóm các thầy cô đang trực tiếp đứng lớp ở các trường phổ thông.
“Sứ mệnh của giáo viên, không chỉ ở môn tiếng Anh mà còn ở các môn học khác, phải thay đổi dưới những tác động cũng như cả tác hại từ AI”, PGS-TS Phạm Thị Hồng Nhung, Hiệu trưởng Trường ĐH Ngoại ngữ, ĐH Huế, chia sẻ thêm.
Vấn đề thứ hai được các diễn giả đặt ra là sự tăng trưởng của nhóm giáo viên chuyển ngành, tức những người từ ngành khác chuyển qua dạy tiếng Anh sau khi du học về, từng học các chương trình đào tạo bằng tiếng Anh tại Việt Nam, hoặc chỉ đơn thuần là có trình độ tiếng Anh tốt. Phải chăng nên có phương án quản lý và cung cấp các hỗ trợ tương thích với nhóm này để đảm bảo chất lượng giảng dạy lẫn lợi ích người học?
“Xét về đào tạo chính quy, nhóm này không có chứng chỉ sư phạm theo quy định nên không thể coi các bạn là giáo viên. Tuy nhiên, nếu xét về mặt căn tính (identity), nhiều người dạy khi thực hiện công việc sư phạm lại không khác gì giáo viên chính quy”, thầy Vũ thông tin sau khi phỏng vấn một vài nhân vật nhóm này trong khuôn khổ một dự án nghiên cứu đang được tiến hành bởi TERECONET.
Vấn đề thứ ba được các diễn giả thảo luận là làm sao để giữ gìn tiếng Việt nói riêng, bản sắc Việt nói chung khi đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai? Liệu trong tương lai học sinh giỏi tiếng Anh nhưng tiếng Việt lại mai một, hay các bạn có thể phát triển đồng đều cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh? “Đây là câu chuyện không hề đơn giản bởi khi ngôn ngữ mẹ đẻ mất đi, bản sắc của dân tộc cũng dần bị mai một”, PGS Lê Văn Canh nhận định.
Tuy nhiên, theo PGS Phạm Thị Hồng Nhung, điều này đã được Chương trình giáo dục phổ thông 2018 (chương trình mới) lường trước, thể hiện rõ nét qua việc bổ sung môn giáo dục địa phương song song với các môn quen thuộc như lịch sử, địa lý. Bản thân môn tiếng Anh từ lớp 1 đến lớp 12 cũng đặt ra yêu cầu là học sinh phải hiểu và nắm rõ tiếng Việt chứ không chỉ chạy theo mỗi tiếng Anh.
“Phần đáng quan ngại nhất chính là triển khai thực tế như thế nào”, cô Nhung nói.
Ngoài ra, môi trường dạy và học ngoại ngữ có thể chuyển từ monolingualism (sử dụng đơn ngữ) sang bilingualism (sử dụng song ngữ), với mục đích tạo ra immersion bilingual user (người dùng song ngữ thành thạo – PV), thầy Canh đề xuất.
Vấn đề cuối cùng là hỷ lạc (wellbeing) của thầy cô, vì đây là đội ngũ chịu nhiều áp lực nhất và cũng quyết định thành bại các mục tiêu mà Đề án đặt ra. “Chúng ta phải làm sao để giáo viên thấy yêu nghề, yêu trò và yêu chính mình. Từ đó, thầy cô mới có động lực tự học, trau dồi chuyên môn, nhất là những giáo viên bộ môn không phải tiếng Anh nhưng phải dạy học bằng tiếng Anh trong tương lai”, thầy Canh chia sẻ.
Các chuyên gia nhấn mạnh đây là khía cạnh cần nghiêm túc quan tâm. Bởi trước đây trong quá trình triển khai Đề án Ngoại ngữ Quốc gia, thực tế từng ghi nhận nhiều thầy cô chịu ảnh hưởng tiêu cực về tâm lý và thể chất, thậm chí gặp sang chấn.
“Nhu cầu dạy và học tiếng Anh chắc chắn sẽ không bao giờ mất đi nhưng điều khó nhất là các thầy cô phải tự đổi mới mình để không bị học trò bỏ rơi. Và trong viễn cảnh tương lai, nơi các giáo viên bộ môn đều có thể dạy học bằng tiếng Anh và học trò không còn nhu cầu học tiếng Anh từ giáo viên tiếng Anh nữa, chúng ta cũng cần suy nghĩ xem mình sẽ ở đâu?”, PGS Lê Văn Canh gợi mở.
Tại lễ trao học bổng “Học không bao giờ cùng” của Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam tổ chức mới đây ở Cần Thơ, chia sẻ của một nữ sinh người dân tộc đến từ tỉnh Lâm Đồng khiến nhiều người không khỏi xúc động.
Đó là em Trương Cil Diễm (dân tộc K’Ho), học sinh lớp 12, Trường THCS-THPT Tà Nung, xã Cam Ly, tỉnh Lâm Đồng. Em Cil Diễm là một trong 310 cá nhân được nhận học bổng trong năm nay.
Cil Diễm cho biết , cha mẹ chia tay lúc em còn rất nhỏ. Một mình mẹ gánh vác, nuôi dưỡng 3 người con khôn lớn. Để có tiền lo cho cuộc sống gia đình và cho con ăn học, mẹ em phải làm thuê đủ nghề với thu nhập ít ỏi, trang trải nhiều khoản chi tiêu trong gia đình. Tuổi thơ của em gắn liền với những thiếu thốn và nhiều nỗi lo toan.
"Mẹ chưa từng than vãn, chỉ luôn nhắc chúng em phải cố gắng học, chỉ có học mới giúp các con có tương lai tốt hơn", em Cil Diễm nhớ lại và nhấn mạnh chính những lời giản dị của mẹ đã trở thành động lực lớn nhất trong cuộc đời em.
Theo em Cil Diễm, không phải ai sinh ra cũng có điều kiện thuận lợi để theo đuổi ước mơ. Có những người được "chấp cho đôi cánh" để bay cao, bay xa, còn những người như em phải cố gắng bằng tất cả nghị lực. Với nữ sinh, hoàn cảnh khó khăn có thể làm cho con đường đi đến ước mơ trở nên dài hơn, gập ghềnh hơn, nhưng không thể ngăn cản thực hiện ước mơ đó nếu mình đủ quyết tâm.
"Mỗi khi thấy mệt mỏi hay muốn bỏ cuộc, em lại nghĩ đến mẹ và tự nhủ mình không được bỏ cuộc. Mẹ đã phải rất vất vả, dầm mưa dãi nắng kiếm từng đồng nuôi các con ăn học bao nhiêu năm qua. Vì vậy, ngoài thời gian học ở trường, em còn tranh thủ học thêm ở nhà, tìm tòi tài liệu và rèn luyện kiến thức", Cil Diễm tâm sự.
Trong quá trình học tập, Cil Diễm luôn nhận được sự yêu thương, quan tâm động viên, khích lệ, dạy dỗ của thầy cô, hội khuyến học các cấp ở địa phương. Chính những suất học bổng, lời động viên chân thành đã giúp em giảm bớt khó khăn, tiếp thêm niềm tin để em tiếp bước trên con đường học tập.
Đáp lại những tình cảm và sự kỳ vọng đó, em Cil Diễm không ngừng nỗ lực trong học tập. Trong nhiều năm liền, em đạt danh hiệu học sinh giỏi, xuất sắc của trường.
Được nhận học bổng "Học không bao giờ cùng" của Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam, em Cil Diễm cho biết đây không chỉ có giá trị về vật chất mà còn chứa đựng tình yêu thương, niềm tin và kỳ vọng của những tấm lòng hảo tâm. Em và gia đình sẽ luôn ghi nhớ nghĩa tình cao đẹp này.
Từ câu chuyện của bản thân, em Cil Diễm thấm thía rằng, trong cuộc sống vẫn còn rất nhiều tấm lòng nhân ái luôn sẵn sàng sẻ chia với những người có hoàn cảnh khó khăn. Em nhấn mạnh, chính sự yêu thương ấy đã tiếp thêm sức mạnh để những học sinh như em vươn lên trong cuộc sống và vững tin bước tiếp trong tương lai.
Năm 2020, nhân kỷ niệm 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2020), Hội Khuyến học Việt Nam có sáng kiến tổ chức Lễ trao học bổng "Học không bao giờ cùng" lần thứ nhất cho các em học sinh và người lớn có thành tích xuất sắc trong học tập của 20 tỉnh, thành phía Bắc.
Lễ trao học bổng lần thứ 2/2022 đã vinh danh 210 tấm gương tiêu biểu đến từ 20 tỉnh, thành khu vực phía Nam; lần thứ 3/2023 đã trao cho 250 tấm gương tiêu biểu đến từ các tỉnh, thành miền Trung, Tây Nguyên; lần thứ 4/2024 có 373 tấm gương tiêu biểu đến từ các bộ, ngành và 22 tỉnh, thành khu vực phía Bắc nhận học bổng; lần thứ 5/2025 biểu dương 250 tấm gương tiêu biểu của 6 tỉnh, thành khu vực Bắc Trung bộ, miền Trung; lần thứ 6/2026 biểu dương 310 tấm gương tiêu biểu đến từ 9 tỉnh, thành phía Nam và một số bộ, ngành Trung ương.
10 chuyên đề ôn tập môn lịch sử thuộc chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao năm 2026 do giáo viên Nguyễn Viết Đăng Du, Trường THPT Lê Quý Đôn (P.Xuân Hòa), hướng dẫn sẽ phát ở chuyên mục giáo dục trên các nền tảng: thanhnien.vn, fanpage Facebook và kênh YouTube của Báo Thanh Niên.
https://www.youtube.com/watch?v=S4LBFQ2Gqqk
Trong chuyên đề 2 - ASEAN: Những chặng đường lịch sử - giáo viên tóm tắt những kiến thức cơ bản về quá trình hình thành và phát triển của tổ chức ASEAN; Quá trình hình thành và phát triển của Cộng đồng ASEAN.
Trước đó, vào ngày 22.4, Báo Thanh Niên đã phát sóng chuyên đề 1 - Trật tự thế giới trong và sau chiến tranh lạnh, cung cấp tóm tắt những kiến thức cơ bản về tổ chức Liên Hiệp Quốc; trật tự thế giới trong chiến tranh lạnh;xu thế và những biểu hiện của trật tự thế giới sau khi chiến tranh lạnh kết thúc.
Từ 20.4 đến 23.5, vào các khung giờ cố định (16 giờ 30, 18 giờ 30 và 20 giờ 30) thứ hai đến thứ bảy hàng tuần, Báo Thanh Niên lần lượt phát sóng trực tiếp 88 chuyên đề Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao tại các địa chỉ thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Báo Thanh Niên.
88 chuyên đề ôn tập kiến thức do các giáo viên giàu kinh nghiệm tại TP.HCM xây dựng, gồm: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, chuyên Trần Đại Nghĩa, Bùi Thị Xuân, Lê Quý Đôn, Marie Curie, Nguyễn Hiền, quốc tế Á Châu… Qua mỗi chuyên đề ôn thi trực tuyến, giáo viên sẽ giúp học sinh tiết kiệm thời gian, tận dụng lợi thế của công nghệ để hứng thú với việc học, tích lũy kiến thức cho kỳ thi quan trọng sắp đến.
Sau các khung giờ nói trên, các chuyên đề vẫn xuất hiện trên các nền tảng thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Thanh Niên. Học sinh sử dụng bất kỳ thiết bị (điện thoại thông minh, máy tính cá nhân hay máy tính cố định) và chỉ cần kết nối internet đều có thể tiếp cận nội dung hệ thống kiến thức của 9 môn thi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026.
Học sinh có thể truy cập vào các nền tảng của Báo Thanh Niên hoặc quét mã QR từ lịch phát sóng để xem trực tiếp chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT năm 2026 vào đúng khung giờ hoặc xem lại 88 chuyên đề ôn thi tốt nghiệp THPT đã phát.
Lịch phát sóng tuần từ 20 đến 25.4 các chuyên đề ôn thi tốt nghiệp năm 2026
Hôm nay (6.4), ĐH Quốc gia TP.HCM đã triển khai các phương án chấm thi đánh giá năng lực đợt 1. Hoạt động chấm thi kéo dài trong khoảng 10 ngày và dự kiến công bố điểm thi trong ngày 17.4.
Theo quy định của Hội đồng thi đánh giá năng lực ĐH Quốc gia TP.HCM, bài thi của thí sinh tại các điểm thi được vận chuyển về phòng chấm thi ngay sau buổi thi. Để đảm bảo an toàn và đúng quy định cho công tác chấm thi, địa điểm chấm thi (phòng chấm thi) được bố trí ở khu vực được bảo vệ 24/24 giờ và có camera giám sát 24/24 giờ cả bên trong và bên ngoài phòng chấm.
Quy trình chấm thi tuân thủ nghiêm các quy định của ĐH Quốc gia TP.HCM. Trước đó, ĐH này đã thành lập Tổ giám sát trong đó có cán bộ An ninh (PA03) và cán bộ đoàn kiểm tra của ĐH Quốc gia TP.HCM để giám sát tất cả các hoạt động trong thời gian chấm thi.
Các hoạt động chấm thi gồm: giao nhận và phân lô bài thi trắc nghiệm; kiểm tra số lượng phiếu trả lời trắc nghiệm và quét bài thi trắc nghiệm; đánh số phách bài thi theo từng lô; nhận dạng và xử lý dữ liệu bài thi trắc nghiệm; kiểm dò bài thi ngẫu nhiên; niêm phong bài thi và đĩa chứa dữ liệu; thực hiện chấm điểm (chấm điểm thô và quy đổi điểm); ráp phách điểm bài thi thí sinh; xuất danh sách điểm thi của thí sinh.
Mỗi bước trong công tác chấm thi được phân công cho một tổ/nhóm nghiệp vụ thuộc ban chấm thi phụ trách. Tất cả các dữ liệu liên quan đến công tác chấm thi phải được lưu dưới dạng USB hoặc đĩa CD và gửi đến chủ tịch hội đồng thi, ban chấm thi, khi đó ban chấm thi mới được mở niêm phong đĩa CD chứa đáp án để tiến hành chấm điểm. Sau khi chủ tịch hội đồng thi duyệt kết quả, điểm thi sẽ được công bố trên cổng thông tin của kỳ thi.
Bài thi đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia TP.HCM có 120 câu hỏi, với tổng điểm tối đa toàn bài là 1.200. Trong đó, điểm tối đa từng thành phần của bài thi được thể hiện trên phiếu điểm gồm: tiếng Việt 300 điểm, tiếng Anh 300 điểm; toán học 300 điểm và tư duy khoa học 300 điểm.
Tuy nhiên, kết quả thi đánh giá năng lực được xác định bằng phương pháp trắc nghiệm hiện đại theo lý thuyết ứng đáp câu hỏi (Item Response Theory - IRT). Điểm của từng câu hỏi có trọng số khác nhau tùy thuộc vào độ khó của câu hỏi.
Theo quy định, độ khó của các câu hỏi trong đề thi được phân thành 3 mức độ và được phân bố theo tỷ lệ: mức độ 1 chiếm 30%, mức độ 2 chiếm 40%, mức độ 3 chiếm 30%.
Hôm qua (5.4), 133.489 thí sinh đã tham dự đợt 1 kỳ thi đánh giá năng lực do ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức (đạt tỷ lệ 98,33% so với số thí sinh đăng ký dự thi). Kỳ thi đồng thời diễn ra tại 15 tỉnh, thành phố tính theo đơn vị hành chính sau sáp nhập, gồm: Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng, TP.HCM, Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang, Cần Thơ và Cà Mau.
Năm 2025, kỳ thi đánh giá năng lực ĐH Quốc gia TP.HCM thu hút khoảng 152.000 thí sinh với hơn 223.000 lượt đăng ký dự thi tại 55 điểm thi thuộc 25 tỉnh, thành phố. 111 cơ sở giáo dục ĐH-CĐ sử dụng kết quả kỳ thi để xét tuyển. Riêng trong hệ thống ĐH Quốc gia TP.HCM, phương thức này chiếm hơn 56% tổng chỉ tiêu tuyển sinh.