Sáng 15/4, TAND TP HCM xét kháng cáo kêu oan của bà Lan (49 tuổi, chủ kênh YouTube Lan Đinh) đối với bản án 1 năm 9 tháng tù về tội Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, theo khoản 1 Điều 331 Bộ luật Hình sự.
Trong phần thủ tục, bị cáo đề nghị hoãn phiên tòa để mời luật sư nhưng HĐXX không chấp nhận. Lý do là từ sau khi tòa xử sơ thẩm đến nay, bị cáo có đủ thời gian nhưng không mời luật sư; tính chất vụ án này không thuộc bắt buộc phải có luật sư.
Trình bày kháng cáo sau đó, bà Lan cho rằng bản án sơ thẩm chưa phản ánh đúng hành vi của mình. Bị cáo thừa nhận 6 video liên quan đời sống riêng tư của vợ chồng bà Hằng do chính mình dùng điện thoại quay tại nhà ở Gò Vấp, lưu trong máy, nhưng khẳng định không phải người phát tán lên mạng.
Theo lời Lan, trước thời điểm các video xuất hiện, bà bị mất điện thoại; hai ngày sau, thành phố ban hành lệnh phong tỏa vì dịch Covid-19 nên không thể trình báo. Vài hôm sau, các nội dung này bị đăng tải liên tục trong 8 ngày.
Giải thích việc video được đăng từ tài khoản mang tên mình, bị cáo cho rằng do trong điện thoại có sẵn tài khoản cá nhân.
Trả lời HĐXX về nguồn gốc nội dung trong 6 video, Lan nói không lấy từ đâu mà do tự nghĩ ra, “không cần biết đúng hay sai”, rồi tự quay và trình bày. Từ đó, bị cáo đề nghị HĐXX trả hồ sơ để điều tra lại toàn bộ vụ án.
Nêu quan điểm tại tòa, đại diện VKS xác định tài liệu trong hồ sơ, lời khai trước đó của bị cáo, cùng kết quả thẩm vấn tại tòa có đủ cơ sở xác định việc truy tố, xét xử là đúng pháp luật, không oan sai; đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tòa: Bị cáo đăng 6 video xúc phạm nghiêm trọng vợ chồng bà Phương Hằng
Sau khi nghị án, HĐXX xác định bản án sơ thẩm tuyên phạt bà Lan 1 năm 9 tháng tù là đúng người, đúng tội; căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, đối chiếu với lời khai của những người liên quan cùng tài liệu, vật chứng thu giữ.
Hồ sơ thể hiện bị cáo từng khai mất điện thoại vào năm 2021, song ở bản cung khác lại thừa nhận đã dùng điện thoại quay video, sau đó chuyển sang máy tính để đăng tải lên mạng nhằm thu hút tương tác.
Từ các căn cứ này, HĐXX xác định bị cáo đã đăng tải 6 video, xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín của bà Nguyễn Phương Hằng và ông Huỳnh Uy Dũng.
Tại phiên phúc thẩm, bà Lan không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ mới. HĐXX đồng thời chỉ ra bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng cấp sơ thẩm lại nhận định là “phạm tội lần đầu” là chưa chính xác, cần rút kinh nghiệm; vì vậy cấp phúc thẩm điều chỉnh việc áp dụng tình tiết này cho đúng quy định.
Từ đó, tòa phúc thẩm bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Phán quyết này này có hiệu lực pháp luật ngay.
Theo bản án, năm 2021, bị cáo Lan tự ghi hình 6 video và phát tán trên tài khoản YouTube “Lan Đinh”, đề cập đến đời tư của bà Hằng trong quá khứ và những thông tin không có thật, chưa kiểm chứng về gia đình bà Hằng… Trong đó, video phát ngày 13/7/2021 với hơn 53.000 lượt xem có tựa đề “bà Nguyễn Phương Hằng không sợ ai chỉ sợ Đinh Lan” có nội dung không đúng sự thật rằng “ông Dũng bị quản thúc nên không xuất hiện trong livestream của vợ”.
Các video này bị xác định “chứa nội dung bịa đặt, sai sự thật, xúc phạm nghiêm trọng uy tín, danh dự, nhân phẩm của bà Nguyễn Phương Hằng và ông Huỳnh Uy Dũng; đồng thời đưa lên không gian mạng các thông tin thuộc bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư, trái quy định pháp luật”.
Hành vi của bà Lan vi phạm điểm a, b khoản 3 Điều 16; điểm d khoản 1 Điều 17 Luật An ninh mạng 2018 và điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị định 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng.
Tại Hà Nội, Văn phòng Bộ Công an vừa chủ trì, phối hợp với Cục Truyền thông Công an nhân dân tổ chức tọa đàm chính sách về một số văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Công an chủ trì xây dựng trong năm 2026.
Tại tọa đàm, Thượng tá Phạm Việt Công, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông, và Thượng tá Ngô Đức Thắng, Phó Cục trưởng Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp, đã trao đổi, làm rõ một số điểm mới dự kiến trong dự thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi, dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi và hai dự thảo nghị định quy định chi tiết Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ.
Đối với lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông đường bộ, Cục Cảnh sát giao thông đang tham mưu Bộ Công an báo cáo Chính phủ sửa đổi Nghị định 151/2024/NĐ-CP và Nghị định 168/2024/NĐ-CP.
Nội dung sửa đổi tập trung vào hoàn thiện cơ sở dữ liệu về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; đăng ký, quản lý phương tiện giao thông thông minh; quản lý thiết bị phát tín hiệu của xe ưu tiên; cấp phép cho doanh nghiệp lữ hành quốc tế sử dụng phương tiện vào Việt Nam.
Theo Bộ Công an, hai nội dung có tác động trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp là đăng ký, sử dụng phương tiện giao thông thông minh và thủ tục cấp phép cho khách du lịch nước ngoài mang phương tiện vào Việt Nam.
Cơ quan soạn thảo đề xuất cắt giảm thời gian giải quyết thủ tục cấp phép hoạt động của phương tiện giao thông thông minh từ 7 ngày xuống 5 ngày; giảm thời gian chấp thuận cho doanh nghiệp lữ hành quốc tế tổ chức đưa phương tiện cơ giới nước ngoài vào Việt Nam du lịch từ 5 ngày xuống 3 ngày.
Việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ cũng được định hướng thực hiện trên môi trường điện tử, từng bước thay thế giấy tờ bản giấy.
Với Nghị định 168/2024/NĐ-CP, cơ quan soạn thảo tập trung hoàn thiện cơ chế quản lý phương tiện kinh doanh vận tải, trong đó có quy định về dữ liệu giám sát hành trình và camera giám sát trên khoang hành khách, khoang lái. Dự thảo cũng làm rõ hơn một số hành vi vi phạm còn có cách hiểu khác nhau, đồng thời rà soát thẩm quyền xử phạt của các cơ quan chức năng cho phù hợp với mô hình tổ chức mới.
Liên quan dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, Thượng tá Ngô Đức Thắng cho biết Bộ Công an đã nghiên cứu, rà soát đề xuất bổ sung biện pháp “tạm ngừng xuất cảnh” và “ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước” để cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức cố tình không chấp hành.
Theo đại diện Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp, một số văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đã có quy định về các biện pháp này. Việc nghiên cứu bổ sung vào dự thảo luật nhằm bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, nhất là trường hợp người vi phạm có nguy cơ rời khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Bộ Công an cho biết các nội dung trong hồ sơ xây dựng chính sách mới mang tính nguyên tắc, định hướng. Trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các bộ, ngành, đối tượng chịu tác động và ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan để quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và điều kiện áp dụng.
Đối với dự thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi, Thượng tá Ngô Đức Thắng cho biết sau hơn 8 năm thi hành Bộ luật Hình sự 2015, thực tiễn đã bộc lộ một số khó khăn, vướng mắc, nhất là về tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật và quá trình áp dụng của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Việc sửa đổi Bộ luật Hình sự lần này nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với các luật chuyên ngành có liên quan; đồng thời xây dựng quy định rõ ràng, khả thi, dễ áp dụng và hạn chế cách hiểu, áp dụng không thống nhất.
Thông tư 45/2023/TT-BCA ngày 29-9-2023 quy định về cung cấp thông tin của lực lượng Công an nhân dân trên môi trường mạng, việc cung cấp thông tin của cơ quan công an được thực hiện qua các kênh như:
Điều 4. Kênh cung cấp thông tin của Bộ Công an trên môi trường mạng
1. Cổng thông tin điện tử Bộ Công an.
2. Căn cứ điều kiện cụ thể, bộ trưởng Bộ Công an quyết định triển khai các kênh cung cấp thông tin sau đây trên môi trường mạng cho tổ chức, cá nhân:
a) Cổng dữ liệu cấp bộ.
b) Mạng xã hội.
c) Thư điện tử (email).
d) Ứng dụng trên thiết bị di động.
đ) Tổng đài điện thoại.
3. Các kênh cung cấp thông tin của Bộ Công an trên môi trường mạng phải bảo đảm cung cấp thông tin đồng bộ, thống nhất với thông tin trên cổng thông tin điện tử Bộ Công an.
4. Kênh cung cấp thông tin của Bộ Công an trên môi trường mạng phải đáp ứng yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định số 42/2022/NĐ-CP.
Điều 5. Thông tin của Bộ Công an cung cấp trên môi trường mạng
1. Thông tin của Bộ Công an cung cấp trên môi trường mạng bao gồm những nội dung quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 42/2022/NĐ-CP và các nội dung sau:
a) Thông tin chỉ đạo, điều hành, hoạt động của lãnh đạo Bộ Công an.
b) Tình hình, kết quả các mặt công tác công an. Nội dung phát ngôn và thông tin cung cấp cho báo chí của người phát ngôn Bộ Công an, người được ủy quyền phát ngôn của Bộ Công an về các vấn đề liên quan đến công tác công an mà dư luận xã hội quan tâm.
c) Thông tin về các vụ án, vụ việc đang được cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Bộ Công an, công an cấp tỉnh điều tra, xác minh mà xét thấy việc cung cấp thông tin trên môi trường mạng là cần thiết cho quá trình điều tra, xác minh và công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự.
d) Nội dung Bộ Công an trả lời kiến nghị của cử tri.
đ) Lịch tiếp công dân của lãnh đạo Bộ Công an.
e) Thông tin đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin sai lệch về Đảng, nhà nước, ngành công an và công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật.
g) Điểm tin Interpol.
h) Thông tin về đối tượng truy nã, truy tìm.
i) Thông tin về các tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố, tài trợ khủng bố.
k) Các thông tin chuyên đề: cảnh báo tội phạm; hướng dẫn tố giác tội phạm; xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng pháp luật; các điển hình tiên tiến, hình ảnh đẹp, gương người tốt, việc tốt, gương dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ công an và các chuyên đề tuyên truyền khác phù hợp thực tiễn công tác.
l) Thông tin về các dịch vụ công trực tuyến Bộ Công an đang triển khai thực hiện.
m) Các thông tin khác do lãnh đạo Bộ Công an hoặc chánh Văn phòng Bộ Công an quyết định.
2. Thông tin của Bộ Công an cung cấp trên môi trường mạng phải được cập nhật kịp thời trong trường hợp có sự thay đổi.
Như vậy, ngoài việc theo dõi trên báo chí, anh/chị có thể theo dõi trên các kênh thông tin của Bộ Công an trên môi trường mạng như quy định đã dẫn trên.
Ngày 22/8/2004, Shinya Wada, 68 tuổi, bất ngờ đến đồn cảnh sát tự thú về việc sát hại Chikako Ishikawa, nữ giáo viên mất tích từ năm 1978.
Sự việc khiến dư luận Nhật Bản chấn động bởi suốt hơn 20 năm, gia đình Chikako vẫn luôn tin rằng cô bị bắt cóc và chưa bao giờ từ bỏ hy vọng tìm thấy người thân.
Theo hồ sơ vụ án, Chikako Ishikawa quê ở tỉnh Hokkaido. Sau khi chuyển tới Tokyo sinh sống, cô làm giáo viên dạy nhạc tại một trường tiểu học. Shinya Wada chính là nhân viên bảo vệ tại ngôi trường này.
Theo lời khai của Shinya, khoảng 16h30 ngày 14/8/1978, trong lúc tuần tra quanh khu dạy học, ông ta xảy ra va chạm và cãi vã với Chikako. Khi nữ giáo viên hét lớn, Shinya hoảng sợ, lao tới bịt miệng rồi bóp cổ khiến nạn nhân tử vong.
Sau khi gây án, lợi dụng lúc vợ vắng nhà, ông ta mang thi thể về căn nhà riêng ở phường Adachi rồi chôn dưới sàn tầng một.
Từ lời thú tội, cảnh sát lập tức khám xét căn nhà cũ của Shinya. Dưới chiếc bàn sưởi kotatsu trong căn phòng tầng một, lực lượng chức năng phát hiện 1 hài cốt được quấn trong tấm bạt, chôn sâu hơn 1m dưới nền nhà. Ngoài ra, cảnh sát còn tìm thấy nhiều đồ dùng cá nhân của Chikako như ví, thẻ rút tiền, mỹ phẩm và quần áo.
Kết quả giám định ADN xác nhận bộ hài cốt chính là nữ giáo viên mất tích. Điều khiến dư luận phẫn nộ hơn cả là lý do Shinya ra đầu thú không xuất phát từ sự ăn năn.
Theo lời khai, sau khi chôn thi thể dưới nền nhà, ông ta gần như "quên mất" sự việc trong nhiều năm. Sau khi phạm tội, Shinya vẫn tiếp tục đi làm, sinh hoạt bình thường và sống ngay trong căn nhà có thi thể nạn nhân bên dưới suốt hàng chục năm.
Đến năm 1994, căn nhà của Shinya nằm trong diện giải tỏa để phục vụ dự án mở đường, ông ta mới nhớ đến việc thi thể vẫn còn bị chôn dưới nền nhà. Đến khi dự án bắt đầu triển khai vào năm 2004, lo sợ tội ác bị phát hiện, Shinya quyết định tự thú.
Vào thời điểm đó, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội giết người ở Nhật Bản chỉ là 15 năm. Điều đó đồng nghĩa Shinya không thể bị truy tố hình sự dù đã thừa nhận hành vi sát hại Chikako.
Theo tạp chí Shukan Bunshun, gia đình nữ giáo viên không chấp nhận việc hung thủ thoát khỏi trách nhiệm nên đã khởi kiện dân sự, yêu cầu bồi thường khoảng 180 triệu yên. Người thân của Chikako cho biết mục đích vụ kiện không phải vì tiền mà để buộc hung thủ phải chịu trách nhiệm cho tội ác của mình.
Phiên tòa dân sự sau đó gây tranh cãi lớn vì liên quan đến quy định thời hiệu bồi thường tại Nhật Bản. Tòa án quận Tokyo ban đầu cho rằng thời hiệu đối với hành vi giết người đã hết, nhưng vẫn yêu cầu Shinya bồi thường 3,3 triệu yên vì hành vi vứt xác.
Tuy nhiên, ở phiên phúc thẩm, Tòa án cấp cao Tokyo xác định Shinya đã cố tình che giấu cái chết của nạn nhân suốt nhiều năm nên tuyên buộc ông ta bồi thường 42,25 triệu yên. Shinya tiếp tục kháng cáo lên Tòa án Tối cao nhưng bị bác đơn.
Thẩm phán nhận định việc hung thủ che giấu cái chết của nạn nhân suốt hơn 20 năm rồi lại được miễn nghĩa vụ bồi thường là điều "vô cùng bất công".
Sau vụ án này, Nhật Bản đã thay đổi quy định liên quan thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội giết người. Năm 2004, thời hiệu được nâng từ 15 năm lên 25 năm. Đến năm 2010, Nhật Bản chính thức bãi bỏ thời hiệu đối với các tội giết người và những tội danh dẫn đến chết người.