Ngày 15/6, đại diện Bệnh viện Nhi đồng Thành phố cho biết bệnh nhi nhập viện trong tình trạng hạn chế vận động vùng háng trái sau cú té nhẹ khi tập đi xe đạp. Điều khiến ca bệnh khó nhận diện là bé không có dị tật ngón chân cái – dấu hiệu kinh điển xuất hiện ở hơn 90% người mắc hội chứng người hóa đá (Fibrodysplasia Ossificans Progressiva – FOP), bệnh di truyền cực hiếm khiến cơ, dây chằng và mô mềm dần bị hóa xương.
Vì thiếu dấu hiệu này, bệnh nhi từng được theo dõi với chẩn đoán chưa rõ nguyên nhân, thậm chí lên kế hoạch phẫu thuật giải phóng cứng khớp háng nhằm cải thiện vận động. Tuy nhiên, sau khi được chuyển đến Bệnh viện Nhi đồng Thành phố và đánh giá lại toàn diện, các bác sĩ nhận thấy cuộc mổ chưa thật sự cần thiết, thậm chí có thể khiến bệnh tiến triển nặng hơn.
Kết quả chụp cắt lớp vi tính vùng khung chậu cho thấy mô hóa xương nằm cạnh mấu chuyển lớn xương đùi trái nhưng không liên quan trực tiếp đến cấu trúc xương bên dưới. Hình ảnh này gợi ý nhóm bệnh lý hiếm gặp gây hóa xương mô mềm.
Do biểu hiện lâm sàng không điển hình, êkíp quyết định thực hiện xét nghiệm giải trình tự gene. Kết quả cho thấy bệnh nhi mang biến thể gây bệnh trên gene ACVR1, giúp xác định chẩn đoán hội chứng người hóa đá – căn bệnh có tỷ lệ mắc khoảng một trên hai triệu người trên thế giới.
Sau khi xác định bệnh, các bác sĩ quyết định không phẫu thuật như kế hoạch trước đó. Những can thiệp gây tổn thương mô mềm như mổ, sinh thiết hay tiêm bắp ở bệnh nhân FOP có thể kích hoạt phản ứng viêm, thúc đẩy quá trình hóa xương diễn ra nhanh hơn.
Hiện, hướng điều trị tập trung vào kiểm soát các đợt bùng phát bằng corticosteroid ngắn ngày hoặc thuốc kháng viêm không steroid, đồng thời duy trì chức năng vận động và hạn chế nguy cơ chấn thương. Bệnh nhi cũng được tầm soát thính lực do nguy cơ nghe kém liên quan đến tổn thương vùng tai giữa.
Hội chứng người hóa đá hiện chưa có phương pháp điều trị triệt để. Trẻ có biểu hiện sưng mô mềm tái diễn, khối xơ cứng dưới da, cứng khớp tiến triển, đặc biệt sau chấn thương dù nhẹ, cần được nghĩ đến bệnh lý này, kể cả khi không có dị tật ngón chân cái.
Khi nghi ngờ mắc bệnh, phụ huynh cần tránh các can thiệp không cần thiết như tiêm bắp, sinh thiết, xoa bóp mạnh hoặc kéo giãn khớp quá mức. Việc chẩn đoán sớm có thể giúp hạn chế biến chứng, tránh những can thiệp nguy cơ cao và bảo tồn khả năng vận động cho trẻ.
Tin Gốc: Vnexpress

TS.BS Mai Bá Tiến Dũng, Trưởng khoa Nam học, Bệnh viện Bình Dân, tại hội thảo tập huấn chuẩn châu Âu về nam khoa ngày 5/6, cho biết thực tế lâm sàng gần đây ghi nhận số ca ung thư cơ quan sinh dục nam đến viện muộn ở mức đáng lo ngại.
Riêng ung thư dương vật, mỗi tuần bệnh viện phẫu thuật khoảng 5-6 ca. Tuy nhiên, đa số người bệnh nhập viện khi đã ở giai đoạn muộn (T3), rất hiếm trường hợp phát hiện sớm (T1). Trong khi đó, đến giai đoạn T3, cơ hội điều trị bảo tồn hầu như không còn, nhiều trường hợp bắt buộc phải cắt đoạn dương vật.
Theo bác sĩ Dũng, ung thư dương vật thường xuất hiện ở nam giới từ 40 tuổi trở lên, song gần đây ghi nhận xu hướng trẻ hóa rõ rệt. Bệnh viện từng tiếp nhận bệnh nhân mới 25 tuổi, nhiều trường hợp khoảng 28 tuổi đã phải phẫu thuật cắt đoạn do phát hiện muộn.
Mới đây, một nam bệnh nhân 28 tuổi sau điều trị ổn định và không tái phát đã tìm đến bác sĩ với mong muốn được tạo hình lại dương vật để có thể đứng tiểu tiện và cải thiện chất lượng sống. Các bác sĩ sau đó sử dụng vạt da cơ ở cánh tay quay để tái tạo cơ quan sinh dục cho người bệnh.
Dễ nhầm với sùi mào gà
Ung thư dương vật diễn tiến âm thầm, không phát triển ồ ạt. Ban đầu, người bệnh chỉ xuất hiện một nốt sẩn nhỏ ở vùng quy đầu hoặc dưới da quy đầu. Sau khoảng 6 tháng đến một năm, tổn thương lan rộng dần thành khối sùi lớn giống bông cải, dễ chảy máu. Nhiều trường hợp bị nhầm với sùi mào gà, dẫn đến điều trị không đúng cách và bỏ lỡ "thời gian vàng".
"Sùi mào gà thường có chân khu trú rõ, trong khi tổn thương ung thư bám rộng, dễ chảy máu hơn", bác sĩ Dũng giải thích.
Ung thư tinh hoàn cũng có diễn tiến âm thầm tương tự. Trung bình mỗi tuần, Bệnh viện Bình Dân phẫu thuật 2-3 ca bệnh. Giai đoạn đầu thường không đau, người bệnh chỉ vô tình phát hiện khối cứng nhỏ trong tinh hoàn khi tắm hoặc đến khi tinh hoàn sưng lớn mới đi khám.
Do đó, bác sĩ khuyến cáo nam giới nên chủ động tự kiểm tra cơ quan sinh dục mỗi ngày khi tắm rửa, lộn da quy đầu để vệ sinh và quan sát các bất thường như nốt sùi, vết loét hoặc khối cứng. Với tinh hoàn, cần tự sờ nắn hai bên để phát hiện sớm khối u.
"Bác sĩ tốt nhất của mỗi người chính là bản thân mình", bác sĩ Dũng nói, cho biết các gói khám sức khỏe định kỳ hiện chưa bao gồm danh mục tầm soát chuyên sâu cho hai bệnh lý này.
Giữ khả năng làm cha cho bệnh nhân ung thư
Không chỉ đe dọa tính mạng, ung thư cơ quan sinh dục nam còn ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh sản. Theo bác sĩ Dũng, hóa trị và xạ trị - hai phương pháp điều trị quan trọng - có thể gây tổn thương nghiêm trọng tế bào sinh tinh, khiến người bệnh mất khả năng sản xuất tinh trùng. Vì vậy, bảo tồn khả năng sinh sản trước điều trị đang được xem là chiến lược bắt buộc và mang tính nhân văn.
Đối với trẻ dưới 15 tuổi, xu hướng hiện nay là lưu giữ tế bào mầm trong mô tinh hoàn để bảo tồn khả năng sinh sản. Trong trường hợp buộc phải xạ trị, bác sĩ ưu tiên kỹ thuật xạ trị khu trú hoặc di chuyển tinh hoàn ra ngoài vùng tia xạ nhằm giảm tổn thương hệ sinh tinh.
Với nam giới trưởng thành còn khả năng xuất tinh, giải pháp tối ưu là trữ đông tinh trùng trước điều trị để phục vụ thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) sau này. Những trường hợp không thể xuất tinh do ung thư tinh hoàn hoặc ung thư cơ quan sinh dục có thể được phân lập tinh trùng trực tiếp từ mô tinh hoàn để lưu trữ.
Tuy nhiên, tỷ lệ tinh trùng hồi phục sau rã đông không đạt tuyệt đối. Theo bác sĩ Dũng, mức hồi phục 60-65% đã được xem là thành công. Hiện kỹ thuật trữ đông vi giọt (micro-droplet) được đánh giá là hướng đi triển vọng giúp ổn định chất lượng tinh trùng tốt hơn.
Thời gian tới, ngành niệu khoa Việt Nam dự kiến hợp tác với Hội Tiết niệu châu Âu nhằm triển khai các chương trình tầm soát, nghiên cứu và thống kê quy mô lớn đối với nhóm bệnh lý này.
Tin Gốc: Vnexpress

"Mở mắt ra, tôi đều phải khoác lên mình chiếc áo giáp của một người thành đạt", Liên, ở TP HCM nói, ngón tay vân vê mép ly cà phê đã nguội. "Tôi phải chứng minh cho gia đình và xã hội thấy rằng quyết định chuyển giới của mình không phải là một bi kịch. Tôi không cho phép mình gục ngã, vì chỉ cần một chút chệch choạc, người ta sẽ chép miệng:''Đấy, tại đổi giới tính nên mới khổ thế'''.
Áp lực phải trở thành một "người chuyển giới hoàn hảo" - không được ốm đau, không được thất bại - đang âm thầm bào mòn Liên. Khi những cơn đau đầu nhói buốt kéo dài và triệu chứng suy nhược ập đến, cô từ chối đến bệnh viện. Liên sợ cảm giác ngồi ở phòng chờ, tay cầm sổ khám bệnh, thót tim chờ y tá gọi to cái tên khai sinh là nam giới của mình trước hàng chục ánh mắt tò mò.
Cô chọn cách mua thuốc giảm đau, tự giam mình trong phòng và chịu đựng một mình, cho đến khi được chẩn đoán mắc chứng rối loạn lo âu và trầm cảm nhẹ.
Trải nghiệm của Liên không phải là cá biệt. Trong cộng đồng người chuyển giới tại Việt Nam, hội chứng căng thẳng thiểu số (minority stress), một dạng áp lực tâm lý mạn tính sinh ra từ việc phải liên tục cảnh giác, che giấu hoặc gồng mình chống lại các định kiến xã hội, đang trở thành một căn bệnh vô hình.
Đình Tâm (32 tuổi, tên thường gọi trong cộng đồng là Melanie Ngo) cũng từng tin rằng phần khó khăn nhất của cuộc đời đã nằm lại phía sau. Nhưng khi Tâm bắt đầu xây dựng tổ ấm với người bạn đời, một rào cản mới, "lạnh lẽo và cứng nhắc hơn cả dao kéo, lại hiện ra: Những tờ giấy hành chính".
"Tâm lý phải sống tốt hơn người bình thường gấp đôi, gấp ba lần để không bị phán xét là thứ vắt kiệt sức lực của tôi mỗi ngày". Tâm chia sẻ. "Chỉ cần mình có một quyết định sai lầm trong hôn nhân hay công việc, người ta không đánh giá năng lực của mình, họ lập tức quy chụp nó vào bản dạng giới của mình".
Nỗi nghẹn ngào lớn nhất của Tâm hiện tại là giấc mơ làm phụ huynh. Vào thời điểm bắt đầu tiêm hormone nhiều năm trước, khát vọng duy nhất của Tâm là được sống sót và được là chính mình. Tâm không được ai tư vấn, cũng không có đủ tài chính và tâm trí để nghĩ xa đến việc trữ đông trứng hay tinh trùng. Giờ đây, khi muốn có con, Tâm nhận ra cái giá phải trả là quá đắt, không chỉ về mặt y khoa mà còn là sự dò xét của xã hội.
"Mọi người hiếm khi chỉ trích thẳng mặt. Nhưng những cái nhíu mày của nhân viên ngân hàng khi nhìn ảnh CCCD, hay những câu hỏi xoáy sâu mang tính tò mò của nhân viên y tế khi đi khám phụ khoa... chúng giống như những mũi kim đâm mỗi ngày", Tâm bộc bạch.
Theo pháp luật hiện hành, dù Điều 37 Bộ luật Dân sự 2015 đã chính thức thừa nhận quyền chuyển đổi giới tính, nhưng vì dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính vẫn chưa được Quốc hội thông qua, hàng nghìn người như Tâm đang bị kẹt lại trong một "vùng xám" pháp lý. Họ không thể thay đổi giới tính trên thẻ căn cước. Hậu quả là, trên giấy tờ, gia đình của Tâm vẫn là một khái niệm treo lơ lửng, không được pháp luật công nhận và bảo vệ toàn vẹn.
Thay vì tiếp tục vùng vẫy trong sự bất lực, Tâm và chồng quyết định lùi kế hoạch có con, dồn toàn lực vào sự nghiệp để tạo ra một vùng an toàn vững chắc hơn về tài chính. "Chúng tôi sẽ đợi. Bởi vì suy cho cùng, một đứa trẻ cần tình thương, sự giáo dục và một nền tảng an toàn, chứ không phải một gia đình ‘đúng mẫu’ chỉ để làm hài lòng những định kiến của xã hội", Tâm nói.
Thạc sĩ Tâm lý lâm sàng Vương Nguyễn Toàn Thiện, Phó Trưởng Bộ môn phụ trách Ngành Tâm lý học, Trường Đại học Hùng Vương TP HCM, cho biết mỗi người trong cộng đồng LGBT đều mang những nỗi lo riêng, nhưng áp lực thiểu số (minority stress) là tình trạng phổ biến nhất - một dạng căng thẳng mạn tính tích lũy từ môi trường xã hội, không phải từ bản thân việc là người chuyển giới.
Biểu hiện thường gặp là sự cảnh giác quá mức, khiến bản thân luôn trong trạng thái gồng mình; lo âu khi ra ngoài, sợ bị đánh giá về ngoại hình hay giọng nói. Họ có xu hướng rút lui khỏi trường học, nơi làm việc, đặc biệt là các cơ sở y tế.
Một số rơi vào cảm giác cô lập, mất động lực, rối loạn giấc ngủ, kiệt sức tinh thần nhưng không tìm kiếm sự giúp đỡ, và ở những trường hợp nặng hơn, có thể dẫn đến lạm dụng chất hoặc ý nghĩ tự hại.
Các nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng những triệu chứng này liên quan mạnh mẽ đến trải nghiệm bị kỳ thị, thiếu hệ thống hỗ trợ xã hội và rào cản pháp lý. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2022) xác định sự kỳ thị và rào cản tiếp cận dịch vụ y tế là những yếu tố nguy cơ cốt lõi làm tổn hại sức khỏe tâm thần của nhóm LGBTQ+.
Chuyên gia lưu ý thêm chứng bức bối giới (Gender Dysphoria) - sự không khớp giữa giới tính sinh học và bản dạng giới - tự bản thân đã là một nguồn đau khổ tâm lý được ghi nhận về mặt lâm sàng. Kỳ thị xã hội không phải nguyên nhân duy nhất, mà là yếu tố làm trầm trọng thêm tình trạng vốn đã phức tạp này.
Tương tự anh Huỳnh Minh Thảo, nhà hoạt động thúc đẩy quyền LGBTQ+ tại Việt Nam, nhận định rằng áp lực phải che giấu và chống trả gần như là trạng thái mặc định của cộng đồng LGBT, và khi kéo dài, nó trở thành áp lực mạn tính nguy hiểm.
"Họ nghĩ rằng phải đủ mạnh mẽ, đủ giàu có, đủ quyền lực thì mới an toàn. Nhiều người cố dùng sự thành đạt làm 'áo giáp' để xã hội bớt khắt khe. Nhưng đây là một cái bẫy mòn mỏi", anh Thảo phân tích.
Điều đáng lo hơn là khi cần hỗ trợ tâm lý nhất, thường là giai đoạn hậu phẫu thuật, người chuyển giới lại có xu hướng tìm đến tư vấn truyền miệng trong cộng đồng thay vì các cơ sở y tế chính thống, vì sợ bị kỳ thị hoặc đã từng có trải nghiệm tiêu cực khi đến viện. Điều này làm tăng nguy cơ tự điều chỉnh liều hormone không đúng cách, dẫn đến biến chứng y tế nghiêm trọng.
Năm 2022, Bộ Y tế ban hành Công văn 4132/BYT-PC, yêu cầu nhân viên y tế tôn trọng người bệnh, không kỳ thị hay từ chối khám chữa bệnh vì xu hướng tính dục hay bản dạng giới. Đây là một tín hiệu chính sách tích cực, đặt nền tảng pháp lý để chuyển từ cách tiếp cận phán xét sang mô hình chăm sóc dựa trên phẩm giá con người.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa văn bản và thực tế vẫn còn lớn. Tại Hà Nội và TP HCM, một số trung tâm y tế đã cung cấp dịch vụ tư vấn tâm lý và sức khỏe tình dục cho cộng đồng LGBT, song dịch vụ điều trị nội tiết tố có tính khẳng định giới, chăm sóc hậu phẫu chuyên biệt và hỗ trợ pháp lý tích hợp vẫn còn rất hạn chế và chưa đồng đều giữa các địa phương.
Ông Thiện chỉ ra thực trạng Việt Nam đang thiếu nguồn nhân lực được đào tạo bài bản về chăm sóc sức khỏe tâm thần có tính khẳng định và tôn trọng bản dạng giới. Bên cạnh đó là các rào cản cộng hưởng: gia đình chưa chấp nhận, áp lực xã hội khiến người bệnh che giấu vấn đề tâm lý, chi phí trị liệu còn cao, thiếu không gian bảo mật và an toàn.
"Việc không được đáp ứng nhu cầu hỗ trợ về sức khỏe tâm thần càng khiến cuộc khủng hoảng của người chuyển giới tồi tệ hơn", anh Thảo nhấn mạnh.
Cách tiếp cận hiện đại trong sức khỏe tâm thần, theo Hiệp hội Chuyên môn Thế giới về Sức khỏe Chuyển giới (WPATH, Tiêu chuẩn Chăm sóc phiên bản 8, 2022), không tập trung vào việc "thay đổi" bản dạng giới của một cá nhân, mà hướng đến việc giảm các yếu tố gây stress kéo dài và cải thiện chất lượng sống toàn diện.
Để thu hẹp khoảng cách đó, các chuyên gia kiến nghị một số giải pháp cụ thể như đưa kiến thức về LGBTQ+ vào chương trình đào tạo bác sĩ, chuyên gia tâm lý và nhân viên y tế; xây dựng hướng dẫn chuyên môn rõ ràng cho chăm sóc sức khỏe tâm thần nhóm đa dạng giới, kèm cơ chế giám sát thực thi tại bệnh viện; phát triển mô hình hỗ trợ đa ngành kết hợp giữa tâm lý, nội tiết, công tác xã hội và pháp lý; mở rộng dịch vụ chi phí thấp hoặc hỗ trợ cộng đồng cho nhóm yếu thế.
Cơ quan nhà nước cũng cần đẩy nhanh lộ trình lập pháp để Luật Chuyển đổi giới tính có thể đi vào thực thi, chấm dứt khoảng trống pháp lý hiện tại.
Trong lúc đó, những người như Tâm, Liên phải vật lộn tìm ra cách sống sót. "Người chuyển giới cũng là con người, biết yêu thương và khát khao tổ ấm. Chỉ cần thật lòng muốn xây dựng cuộc sống, không có lý do gì phải thấy bản thân không xứng đáng", Tâm tự động viên.
Còn Liên, thay vì tiếp tục gồng mình chịu đựng sự cô độc, cô đang dần cởi bỏ lớp "áo giáp" hoàn hảo để tìm đến các nhóm hỗ trợ tâm lý cộng đồng, học cách trân trọng bản thân.
Tin Gốc: Vnexpress

ThS.BS Phan Thị Thanh Thủy, Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Y học cổ truyền TP HCM, cho biết câu nói "đông ăn củ cải, hạ ăn gừng" không đơn thuần là kinh nghiệm dân gian mà phản ánh nguyên tắc dưỡng sinh quan trọng của Đông y: ăn uống cần thuận theo sự vận hành của âm dương và khí hậu từng mùa.
Theo học thuyết "thiên nhân tương ứng", cơ thể con người luôn chịu tác động trực tiếp từ thời tiết. Vì vậy, chế độ ăn uống cũng cần thay đổi để thích nghi với môi trường, giúp cân bằng khí huyết và hạn chế bệnh tật.
Điều gì khiến gừng hợp với mùa nóng?
Nhiều người cho rằng ăn gừng vào mùa nóng dễ "bốc hỏa", song theo Đông y, mùa hè lại là thời điểm phù hợp để dùng loại gia vị này với lượng vừa phải.
Bác sĩ Thủy giải thích mùa hạ là thời kỳ dương khí của thiên nhiên phát triển mạnh, cơ thể đổ nhiều mồ hôi, lỗ chân lông mở khiến dương khí dễ hao hụt. Trong khi đó, bên trong cơ thể, nhất là hệ tiêu hóa (Tỳ Vị theo Đông y), lại tương đối suy yếu.
Thói quen phổ biến hiện nay như uống nước đá, ăn nhiều thực phẩm lạnh, dùng đồ sống lạnh hoặc ở lâu trong phòng điều hòa càng khiến tình trạng này rõ hơn, dễ gây đầy bụng, khó tiêu, buồn nôn hoặc cảm lạnh mùa hè.
Theo Đông y, gừng có vị cay, tính ấm, tác dụng ôn trung, tán hàn, hành khí và hòa vị. Vì vậy, dùng gừng trong mùa nóng không phải để "tăng nhiệt" mà nhằm bảo vệ dương khí bên trong, hỗ trợ tiêu hóa và điều hòa khí cơ.
Một số món ăn đơn giản như cháo gừng, canh hành gừng hoặc trà gừng ấm sau bữa ăn có thể giúp giảm cảm giác đầy bụng, lạnh bụng, hỗ trợ tiêu hóa và hạn chế rối loạn do ăn uống lạnh.
Tuy nhiên, ăn gừng cần đúng cách. Mỗi ngày chỉ nên dùng khoảng 3-5 lát gừng tươi, tương đương khoảng 10 g, thêm vào món ăn hoặc pha trà. Dùng quá nhiều có thể gây nóng trong, khô miệng, táo bón hoặc bốc hỏa. Gừng tươi có tác dụng ôn trung, tán hàn tốt nhất. Không dùng gừng đã hỏng hoặc mọc mầm vì có thể sinh chất không tốt cho sức khỏe.
Buổi sáng được xem là thời điểm phù hợp nhất để dùng gừng vì đây là lúc dương khí bắt đầu tăng, giúp làm ấm hệ tiêu hóa. Ngược lại, nên hạn chế ăn gừng vào buổi tối do tính cay ấm có thể gây khó ngủ hoặc sinh nhiệt.
Những người đang sốt cao, viêm họng đỏ rát, loét miệng, nổi mụn nhọt hoặc có biểu hiện "âm hư hỏa vượng" như khô họng, đổ mồ hôi trộm nên hạn chế dùng gừng vì có thể khiến tình trạng nặng hơn. Người viêm loét dạ dày cấp, trào ngược nặng hoặc bệnh gan mật cũng nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng thường xuyên.
Củ cải giúp gì cho cơ thể mùa lạnh?
Nếu mùa hè cần "giữ ấm bên trong" bằng gừng thì mùa đông lại là thời điểm thích hợp để ăn củ cải trắng nhằm hỗ trợ tiêu hóa.
Theo bác sĩ Thủy, mùa đông là giai đoạn âm khí thịnh, cơ thể có xu hướng thu liễm, ít vận động hơn trong khi nhu cầu năng lượng tăng lên. Nhiều người thường ăn nhiều thịt, món béo hoặc thực phẩm giàu đạm, dễ dẫn đến đầy bụng, tích trệ và khó tiêu.
Trong Đông y, củ cải trắng có vị ngọt hơi cay, tính mát, tác dụng hành khí, tiêu thực, hóa đàm và giáng khí. Loại củ này được xem như thực phẩm phù hợp để cân bằng chế độ ăn nhiều đạm và dầu mỡ trong mùa lạnh.
Các món như cháo củ cải, canh củ cải hầm thịt dê hoặc củ cải nấu hải đới thường được dùng trong dược thiện để hỗ trợ tiêu hóa, giảm đầy hơi, tức ngực hoặc nhiều đờm.
Theo chuyên gia, ý nghĩa lớn nhất của nguyên tắc "đông ăn củ cải, hạ ăn gừng" nằm ở việc điều chỉnh thực phẩm theo thời tiết và trạng thái cơ thể. Mùa hè cần bảo vệ hệ tiêu hóa khỏi lạnh bên trong, mùa đông cần tránh tích trệ do ăn uống quá nhiều.
"Dưỡng sinh bắt đầu từ bữa ăn hàng ngày, những thực phẩm quen thuộc như gừng hay củ cải nếu dùng đúng thời điểm, đúng cách có thể trở thành 'vị thuốc' đơn giản hỗ trợ chăm sóc sức khỏe" bác sĩ nói.
Tin Gốc: Vnexpress

