“Nhiều người nói rằng ‘đó là những thứ Iran sẽ nhận được’, nhưng theo điều khoản chi tiết trong thỏa thuận, họ sẽ không nhận được bất kỳ thứ gì nếu quốc gia họ không thay đổi toàn diện”, Phó tổng thống Mỹ JD Vance nói với Fox News ngày 16/6, đề cập đến quỹ tái thiết 300 tỷ USD dành cho Iran.
Ông Vance cho biết thêm nếu Iran thay đổi được như vậy, đó sẽ là thắng lợi lớn cho mọi người, cho cả khu vực, còn nếu Tehran không làm được, điều đó cũng không ảnh hưởng gì tới Mỹ.
“Iran sẽ được hưởng lợi nếu họ thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, nhưng đó không phải tiền từ Mỹ, mà có thể là từ Qatar, UAE hoặc Arab Saudi”, ông Vance nói, thêm rằng “Mỹ sẽ không chuyển cho Iran một đồng nào”.
Phó tổng thống Mỹ không nói rõ Iran cần “thay đổi toàn diện” như thế nào, nhưng cho rằng khi điều đó xảy ra, các nước vùng Vịnh có thể muốn đầu tư vào Iran và xây dựng một nhà máy điện.
“Quan điểm của Mỹ là được thôi, mọi người có thể làm như vậy, miễn là Iran cư xử đúng mực. Nếu Iran không cư xử đúng mực, họ sẽ không nhận được bất kỳ lợi ích nào từ thỏa thuận”, ông Vance nhấn mạnh.
Theo nguồn tin giới chức Mỹ, quỹ tái thiết cho Iran sẽ do các nước vùng Vịnh chi trả, không có sự đóng góp nào từ Washington. Tổng thống Mỹ Donald Trump trước đó cũng tuyên bố thông tin nước này sẽ trả cho Iran 300 tỷ USD tái thiết là “tin giả do phe Dân chủ tung ra”.
Mỹ – Iran đã nhất trí về thỏa thuận hòa bình, lập tức chấm dứt các hành động quân sự. Lễ ký kết văn kiện hoàn chỉnh dự kiến diễn ra tại Thụy Sĩ ngày 19/6. Các điều khoản cụ thể của thỏa thuận chưa được công bố, nhưng Bộ Ngoại giao Iran cho biết Mỹ cam kết bồi thường thiệt hại chiến tranh và giải phóng tài sản bị đóng băng của Tehran ở nước ngoài.
Tin Gốc: Vnexpress

Chiến sự giữa Mỹ - Israel với Iran bùng phát cuối tháng 2 cho thấy các nước vùng Vịnh cũng như thế giới vẫn phụ thuộc đáng kể vào eo biển Hormuz để duy trì dòng chảy năng lượng. Một số quốc gia như Arab Saudi, Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) hay Iraq trước đó đã xây dựng một số đường ống để chuyển hướng xuất khẩu khỏi Hormuz, nhưng vẫn còn hạn chế về công suất.
Thổ Nhĩ Kỳ đang coi cuộc khủng hoảng hiện tại là cơ hội cho nước này vẽ lại bản đồ năng lượng Trung Đông. Với lợi thế là điểm giao cắt của nhiều tuyến đường ống dầu khí, Ankara đang đề xuất các bên xây dựng thêm hạ tầng kết nối qua Thổ Nhĩ Kỳ để thoát phụ thuộc Hormuz.
"Các bạn không thể xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) qua Hormuz. Hãy nghĩ đến việc chuyển một phần khí đốt sang Thổ Nhĩ Kỳ và châu Âu bằng đường ống", Bộ trưởng Năng lượng Thổ Nhĩ Kỳ Alparslan Bayraktar nói với hãng thông tấn Anadolu. "Chúng tôi đang mở ra tuyến xuất khẩu thay thế cho các bạn".
Vượt biển Caspi
Bộ trưởng Bayraktar đang thúc đẩy một dự án đã được thảo luận từ lâu là Đường ống khí đốt xuyên Caspi, đưa khí đốt từ Turkmenistan qua biển Caspi tới Azerbaijan và sang châu Âu.
Turkmenistan là nhà xuất khẩu khí đốt lớn, cung cấp khoảng 80 tỷ m3 mỗi năm. Thổ Nhĩ Kỳ đã nhập một phần khí đốt từ Turkmenistan thông qua Iran bằng các thỏa thuận hoán đổi. Theo thỏa thuận, Turkmenistan bơm khí đốt vào đường ống ở đông bắc Iran để nước này tiêu thụ nội bộ cho các tỉnh phía bắc. Đổi lại, Iran trích lượng khí đốt tương đương từ các mỏ ở tây bắc để bơm vào đường ống Thổ Nhĩ Kỳ tại biên giới.
"Nhưng giải pháp đúng đắn, một trong những phương án lý tưởng nhất, là để lượng khí đốt này đi thẳng qua biển Caspi, Azerbaijan và Gruzia rồi đến Thổ Nhĩ Kỳ", ông Bayraktar nói.
Umud Shokri, chuyên gia năng lượng tại Đại học George Mason, Mỹ cho rằng dự án đường ống xuyên Caspi đang có triển vọng tốt hơn trước, nhưng vẫn bị hạn chế bởi các vấn đề khu vực chưa được giải quyết. Azerbaijan và Turkmenistan cần phê chuẩn Công ước 2018 về quy chế pháp lý của biển Caspi, đặt ra các quy tắc cho đường ống dưới biển.
"Hiệu quả kinh tế rõ ràng kém hơn nhiều. Các ước tính thận trọng cũng cho thấy dự án xây dựng đoạn ống ngầm có thể tốn 2 tỷ USD, trong khi để đạt công suất thương mại 20-30 tỷ m3 mỗi năm cần đầu tư thêm vào khai thác, nén khí và mở rộng hạ tầng phía hạ nguồn", ông Shokri nói.
Ông Shokri thêm rằng dự án còn đối mặt với hạn chế về nhu cầu, khi thị trường châu Âu ngày càng đa dạng hóa nguồn cung LNG. Nếu không có các hợp đồng mua dài hạn và mức giá cạnh tranh, việc huy động vốn sẽ rất khó khăn.
Dự án Qatar
Giới chức Thổ Nhĩ Kỳ và Qatar đã công khai thể hiện từ năm 2009 rằng họ muốn xây dựng một đường ống kết nối từ mỏ khí đốt North Dome qua Arab Saudi, Jordan, Syria đến Thổ Nhĩ Kỳ. Ý tưởng này khi đó vấp phải sự phản đối từ chính quyền tổng thống Syria Bashar al-Assad.
Sau khi chính quyền ông Assad bị lật đổ hồi tháng 12/2024, Thổ Nhĩ Kỳ muốn khôi phục ý tưởng, nhưng Qatar hồi tháng 1/2025 cho biết họ chưa cân nhắc về dự án, bởi mô hình xuất khẩu LNG bằng đường biển đến lúc đó vẫn phù hợp hơn, có tính linh hoạt cao.
"Dự án đường ống này khả thi về kỹ thuật, nhưng mong manh về kinh tế và chính trị", Justin Dargin, chuyên gia tại Hội đồng Trung Đông về Các vấn đề Toàn cầu, nói. "Chi phí ước tính cho dự án trước đây khoảng 10-12 tỷ USD, nhưng nếu xét đến rủi ro an ninh, lạm phát và bất ổn chính trị lúc này, con số thực tế có thể lên đến 15 tỷ USD hoặc hơn".
Nhưng kể từ khi chiến sự nổ ra, cuộc khủng hoảng ở eo biển Hormuz đang làm tăng sức hấp dẫn chiến lược của dự án Qatar. Thách thức lớn nhất ở đây là làm thế nào để đảm bảo an toàn cho tuyến đường ống dài khoảng 1.500 km, đi qua nhiều quốc gia, trước nguy cơ bị tấn công phá hoại từ nhiều thế lực.
Dự án này đòi hỏi sự đồng thuận bền vững giữa Arab Saudi, Jordan, Syria và Thổ Nhĩ Kỳ, và đây là điều kiện cực kỳ khó đạt được trong bối cảnh hiện nay, theo ông Dargin.
Các mỏ dầu Syria
Một đề xuất dễ thực hiện hơn từ Ankara là kết nối các mỏ dầu ở Syria vào đường ống Iraq - Thổ Nhĩ Kỳ, vốn vẫn còn nhiều công suất dư thừa. Hiện nay, Syria chỉ sản xuất khoảng 100.000-120.000 thùng dầu một ngày, thấp hơn nhiều so với mức gần 400.000 thùng một ngày trước khi nội chiến nổ ra năm 2011.
Wael Alzayat, giám đốc điều hành Hội đồng Doanh nghiệp Mỹ - Syria, cho biết cả Syria và Thổ Nhĩ Kỳ đều ủng hộ dự án, nhưng vẫn còn nhiều trở ngại.
"Một số khu vực vẫn do các nhóm dân quân như Lực lượng Dân chủ Syria nắm giữ, chưa bàn giao cho chính quyền Syria", ông nói. Ngoài ra, tàn dư của tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo tự xưng có thể gây mất an ninh.
Theo ông Alzayat, Syria sẽ cần vài tỷ USD để khôi phục và phát triển các mỏ dầu sau nhiều năm nội chiến. Nhưng vì Damascus đang thiếu tiền, họ có thể phải cần hỗ trợ từ bên ngoài. Sau khi có vốn và nâng được sản lượng, việc nối vào hệ thống đường ống sẽ không quá phức tạp.
Mở rộng đường ống Iraq - Thổ Nhĩ Kỳ
Thổ Nhĩ Kỳ cũng nhiều lần đề xuất kéo dài đường ống Iraq - Thổ Nhĩ Kỳ từ Kirkuk xuống Basrah. Tuy nhiên, dự án này vẫn chưa tiến triển do Iraq chưa đạt được đồng thuận chính trị.
Salam Jabbar Shahab, chuyên gia năng lượng Iraq, cho biết sau khủng hoảng tại eo biển Hormuz, Baghdad đang có động lực mạnh hơn để thúc đẩy dự án. Lý do là Iraq cần xuất khẩu khoảng 6,3 tỷ USD dầu mỏ mỗi tháng để trang trải ngân sách, trong đó có trả lương cho công chức. Riêng trong tháng 3, Iraq ước tính đã mất hơn 5,5 tỷ USD từ xuất khẩu dầu do ảnh hưởng của chiến sự Iran.
"Iraq cần đảm bảo xuất khẩu khoảng 3,5 triệu thùng dầu một ngày để có đủ nguồn chi trả cho bộ máy chính phủ", ông Shahab nói. "Hiện tại, nước này chỉ xuất khẩu khoảng 200.000 thùng một ngày qua tuyến đường ống Kirkuk - Ceyhan".
Nếu xây dựng đường ống từ Basrah, Iraq sẽ có thêm một hướng xuất khẩu mới cho dầu từ khu vực miền nam sang thị trường châu Âu và châu Á, không phải phụ thuộc vào eo biển Hormuz.
"Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất là tìm đủ tiền và đảm bảo an ninh để triển khai cũng như vận hành dự án", ông Shahab tiếp tục. "Iraq không có đủ nguồn tài chính để xây dựng đường ống này cũng như các cơ sở đi kèm để bơm dầu. Dự án ước tính cần tới hàng tỷ USD và có thể buộc phải vay từ các tổ chức quốc tế".
Ngoài ra, đường ống cũng đối mặt với rủi ro an ninh nghiêm trọng do đi qua nhiều khu vực, dễ trở thành mục tiêu của các nhóm vũ trang, đồng thời có thể bị kéo vào toan tính chính trị trong bối cảnh Iraq còn chia rẽ.
Tin Gốc: Vnexpress

Để tổng hợp những bản đồ phản ánh trái đất về đêm, các nhà nghiên cứu NASA phân tích dữ liệu đến từ chương trình có tên "Black Marble" (tạm dịch: Viên bi đen của vũ trụ), theo Đài CBS News.
Chương trình này sử dụng cảm biến chuyên dụng để ghi lại hình ảnh trái đất vào ban đêm trong điều kiện ánh sáng yếu. Dữ liệu được thu thập từ 3 vệ tinh khác nhau trong giai đoạn từ năm 2014 – 2022.
Trước khi tổng hợp, các nhà nghiên cứu hình dung sẽ phát hiện "sự gia tăng dần theo từng năm về lượng ánh sáng nhân tạo trong đêm".
Tuy nhiên, cuối cùng họ lại đứng trước một kết quả thực tế mà theo đó những mô hình biến đổi độ sáng trở nên phức tạp hơn nhiều.
"Quá trình phân tích cho phép khắc họa một thế giới liên tục biến động với những đợt bùng nổ và suy giảm công nghiệp, hoạt động xây dựng, tình trạng mất điện, cũng như sự chuyển dịch theo thời gian đến từ việc cải tạo liên quan đến chính sách", NASA cho biết.
Đội ngũ các nhà nghiên cứu phát hiện mỗi vị trí được cảm biến theo dõi qua nhiều năm đã trải qua các đợt chuyển đổi rõ rệt trong suốt 9 năm dữ liệu được thu thập.
Trong khoảng thời gian đó, cường độ phát sáng tăng 34%, trong khi hiện tượng giảm sáng bù trừ mức tăng đó khoảng 18%.
Cả xu hướng tăng sáng lẫn giảm sáng đều "gia tăng đáng kể trong thập niên qua", theo báo cáo đăng trên chuyên san Nature.
Tất cả những chuyển động này phản ánh mức độ biến động ngày càng tăng của hoạt động con người về đêm. Các thông tin thu thập được đã mang đến cơ hội hiểu sâu hơn về quá trình đô thị tiến hóa, chuyển dịch năng lượng, những ảnh hưởng chính sách và hậu quả đối với sinh thái đến từ sự thay đổi nhanh chóng trong môi trường ánh sáng ban đêm
Ở Mỹ, các thành phố Bờ Tây sáng hơn do dân số gia tăng. Ở Bờ Đông, ánh sáng yếu hơn, mà theo các nhà nghiên cứu đến từ việc sử dụng bóng đèn tiết kiệm năng lượng và sự tái cấu trúc kinh tế trên bình diện rộng hơn.
Trên thế giới, ban đêm trở nên sáng hơn ở Trung Quốc và miền bắc Ấn Độ, do quá trình phát triển đô thị được mở rộng. Xuyên suốt châu Âu, các nhà nghiên cứu ghi nhận một xu hướng tối đi, nhiều khả năng do áp dụng những biện pháp tiết kiệm năng lượng tại các địa phương.
Đặc biệt họ ghi nhận một đợt giảm mạnh vào năm 2022 sau khi Nga phát động chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine và gây khủng hoảng năng lượng ở khu vực.
Tin Gốc: Thanh Niên

“Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất bác bỏ mọi thông tin đang lan truyền liên quan đến chuyến thăm của Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu tới UAE, hoặc bất kỳ đoàn quân sự Israel nào hiện diện trên lãnh thổ UAE”, Bộ Ngoại giao UAE nêu rõ trong bài viết trên mạng X.
Cũng theo tuyên bố trên, UAE muốn nhấn mạnh rằng quan hệ của nước này với Israel hoàn toàn minh bạch và được thiết lập trong khuôn khổ rõ ràng do Hiệp định Abraham quy định, nghĩa là không được tiến hành thông qua các kênh bí mật.
Hiệp định Abraham là các thỏa thuận được ký trong nhiệm kỳ trước của Tổng thống Mỹ Donald Trump, theo đó UAE và Bahrain bình thường hóa quan hệ với Israel. Mở rộng Hiệp định Abraham để bao gồm các quốc gia Ả rập khác, là một trong những mục tiêu đối ngoại hàng đầu của chính quyền Tổng thống Trump.
"Mọi tuyên bố liên quan đến các chuyến thăm không được thông báo hoặc các thỏa thuận không được tiết lộ đều hoàn toàn vô căn cứ trừ khi được các cơ quan có thẩm quyền liên quan ở UAE chính thức công bố", tuyên bố nhấn mạnh thêm.
Trước đó, Văn phòng Thủ tướng Israel cho biết ông Netanyahu đã đến UAE trong thời gian bùng nổ chiến tranh với Iran và gặp gỡ Tổng thống Zayed.
Văn phòng của ông Netanyahu cho hay cuộc gặp này đã dẫn đến một "bước đột phá lịch sử" trong quan hệ giữa hai nước.
Tuy nhiên, phía Israel không nêu rõ chuyến đi diễn ra khi nào và cũng không giải thích chi tiết về bước đột phá nói trên.
Trong khi đó, một nguồn tin thân cận với cuộc gặp cho biết, cả hai nhà lãnh đạo đã gặp nhau tại Al-Ain, một thành phố ốc đảo gần biên giới Oman, vào ngày 26/3 và cuộc gặp kéo dài vài giờ.
Nguồn tin còn cho hay, Giám đốc Cơ quan tình báo Mossad Dedi Barnea đã có ít nhất hai chuyến thăm UAE trong suốt thời gian xảy ra chiến sự với Iran để phối hợp các hành động quân sự.
Trong bài đăng trên mạng xã hội Facebook, ông Ziv Agmon - cựu Chánh văn phòng của Thủ tướng Netanyahu cho hay, ông đã tháp tùng Thủ tướng Israel trong chuyến đi này và nhà lãnh đạo này đã được đón tiếp tại Abu Dhabi với nghi thức hoàng gia.
Sau khi thông tin về chuyến thăm được công bố, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi đăng trên mạng X một cảnh báo rằng Tehran sẽ buộc những bên bắt tay với Israel phải chịu trách nhiệm.
UAE là một trung tâm kinh doanh và tài chính khu vực và là một trong những đồng minh quan trọng nhất của Washington.
Các cuộc tấn công của Iran vào các quốc gia Vùng Vịnh nhằm đáp trả các cuộc tấn công của Mỹ và Israel, trong đó nhắm vào UAE nhiều hơn các nước láng giềng, gây thiệt hại cho cơ sở hạ tầng dân sự và các cơ sở năng lượng của nước này.
Không giống như một số quốc gia Vùng Vịnh khác, UAE có đường ống dẫn dầu cho phép nước này chuyển hướng một phần xuất khẩu dầu mỏ vòng qua eo biển Hormuz bị phong tỏa, giúp nước này có khả năng chống chịu tốt hơn trước sự gián đoạn kéo dài.
Nhưng cuộc chiến có nguy cơ gây tổn hại nghiêm trọng đến vai trò của UAE như một trung tâm kinh tế toàn cầu, nơi mang lại an ninh và sự ổn định trong khu vực.
Tin Gốc: Dân Trí

