Reuters đưa tin phi thuyền Orion chở 4 phi hành gia thuộc sứ mệnh Artemis 2 của NASA đã đi vào vùng ảnh hưởng trọng lực của mặt trăng vào rạng sáng 6.4 (giờ Mỹ).
Phi hành đoàn Artemis 2 sẽ được đánh thức vào khoảng 10 giờ 50 sáng 6.4 giờ miền Đông (21 giờ 50 cùng ngày, giờ VN). Đến 19 giờ 5 phút, phi thuyền sẽ đạt vị trí xa nhất của hành trình, cách trái đất 406.772 km, vượt xa kỷ lục do phi hành đoàn Apollo 13 nắm giữ trong 56 năm qua.
Khi đó, phi thuyền sẽ bay quanh phía xa của mặt trăng, giúp các phi hành gia chiêm ngưỡng cung trăng từ độ cao khoảng 6.437 km phía trên mặt tối của chị Hằng.
Khi bay qua phía xa của mặt trăng, tàu sẽ bị mất liên lạc trong thời gian ngắn khi mặt trăng che mất tín hiệu vô tuyến và laser giúp tàu kết nối với Mạng lưới Không gian sâu của NASA. Đây là mạng lưới toàn cầu gồm các ăngten liên lạc vô tuyến khổng lồ mà NASA sử dụng để liên lạc với phi hành đoàn.
Toàn bộ thời gian tàu Orion bay lướt qua mặt trăng kéo dài khoảng 6 giờ. Trong đó, các phi hành gia sẽ sử dụng máy ảnh chuyên nghiệp để chụp những bức ảnh chi tiết qua cửa sổ của tàu Orion về hình bóng mặt trăng, cho thấy một góc nhìn hiếm hoi và có giá trị khoa học về ánh sáng mặt trời lọc qua các rìa của mặt trăng.
Phi đoàn cũng sẽ có cơ hội chụp ảnh một khoảnh khắc hiếm hoi khi trái đất mọc lên từ đường chân trời mặt trăng khi tàu vũ trụ của họ nổi lên từ phía bên kia.
Một nhóm gồm hàng chục nhà khoa học mặt trăng được bố trí tại Phòng Đánh giá khoa học tại Trung tâm Vũ trụ Johnson của NASA ở thành phố Houston sẽ ghi chép lại khi các phi hành gia mô tả cảnh tượng họ nhìn thấy trong thời gian thực.
Sứ mệnh Artemis 2 kéo dài gần 10 ngày, là chuyến bay có người lái đầu tiên trong chương trình Artemis. Chương trình trị giá hàng tỉ USD này được thiết lập nhằm mục đích đưa các phi hành gia trở lại bề mặt mặt trăng vào năm 2028 và thiết lập sự hiện diện lâu dài của Mỹ ở đó trong tương lai. NASA nhắm đến xây dựng một căn cứ trên mặt trăng để làm nơi thử nghiệm cho các sứ mệnh tiềm năng trong tương lai đến sao Hỏa.
Thế Giới
Hơn 1.000 nhân viên cứu hộ khắp thế giới khẩn trương đến Venezuela tham gia cứu người

Theo Cơ quan Điều phối các vấn đề nhân đạo của Liên hợp quốc (OCHA), ưu tiên hàng đầu hiện nay là nhanh chóng đưa các đội cứu hộ đến khu vực bị ảnh hưởng.
"Động đất là một trong những thảm họa tàn khốc nhất có thể xảy ra với bất kỳ quốc gia nào. Tuy nhiên những gì chúng ta đang chứng kiến lúc này cũng là sự huy động quốc tế ở mức tốt nhất. Toàn bộ hệ thống nhân đạo đang hành động rất nhanh và trên quy mô lớn", người phát ngôn OCHA Jens Laerke nói với các phóng viên tại Geneva (Thụy Sĩ) ngày 26-6, Hãng tin AFP thông tin.
Hai trận động đất có độ lớn 7,5 và 7,2 xảy ra hôm 24-6 đã khiến ít nhất 589 người thiệt mạng, số liệu cập nhật đến tối 26-6.
Theo OCHA, tổng cộng 25 đội cứu hộ đang được triển khai, gồm 17 đội tìm kiếm cứu nạn cấp quốc gia và các đội ứng phó y tế khẩn cấp, với khoảng 1.000 nhân viên cứu hộ.
Các đội từ Chile, Colombia, El Salvador, Ý, Mexico, Thụy Sĩ và Mỹ đã có mặt tại Venezuela. Trong khi đó, các đội từ Anh, Cộng hòa Czech, Ecuador, Pháp, Đức, Jordan, Hà Lan, Qatar, Tây Ban Nha cùng một số quốc gia khác cũng đang được huy động.
Các cơ quan của Liên hợp quốc và các tổ chức nhân đạo tiếp tục kêu gọi cộng đồng quốc tế hành động khẩn cấp để tình trạng khẩn cấp hiện nay ở Venezuela không trở thành một thảm kịch nhân đạo nghiêm trọng hơn.
Ủy ban Thường trực liên cơ quan (IASC) - diễn đàn quy tụ lãnh đạo các tổ chức nhân đạo của Liên hợp quốc và ngoài Liên hợp quốc - nhấn mạnh cần tạo điều kiện để các lực lượng cứu trợ nhanh chóng và không bị cản trở tiếp cận những người bị ảnh hưởng.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho biết các nhu cầu cấp thiết hiện nay gồm xử lý thương vong hàng loạt và chăm sóc chấn thương, đặc biệt tại những khu vực có nhiều công trình bị sập.
"Ưu tiên cao nhất là cứu được càng nhiều người càng tốt, đồng thời khẩn cấp cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế cứu sống cho những người bị thương" - ông Ciro Ugarte, Giám đốc phụ trách tình trạng khẩn cấp của Tổ chức Y tế liên Mỹ (PAHO), văn phòng khu vực châu Mỹ của WHO, cho biết từ thủ đô Washington.
Đặc biệt, 72 giờ đầu tiên là giai đoạn then chốt để cứu người.
Theo ông Ugarte, các bệnh viện đang điều trị nhiều ca gãy xương, chấn thương đầu, bỏng và các loại chấn thương khác do nhà cửa đổ sập. Đồng thời cảnh báo số người thiệt mạng và bị thương sẽ còn "tăng đáng kể" trong những ngày tới.
Ông Ugarte cho biết động đất đã giáng đòn mạnh vào hệ thống y tế vốn mong manh của Venezuela, song hơn 15 bộ y tế trong khu vực đã cam kết hỗ trợ và sẵn sàng cử các đội chuyên môn.
PAHO đang lập bản đồ các cơ sở y tế bị ảnh hưởng và đã xác định hơn 90 bệnh viện chịu rung chấn ở mức trên 6 và 7 theo thang cường độ Modified Mercalli (thang đo mức độ rung lắc và thiệt hại do động đất).
Cơ quan này đang ưu tiên đánh giá mức độ an toàn kết cấu của các cơ sở y tế, năng lực của khoa cấp cứu, phòng mổ, số giường bệnh nội trú cũng như nguồn cung máu và oxy.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thế Giới
Phát biểu lịch sử của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trước Quốc hội Sri Lanka

Ngày 8-5, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên đến Sri Lanka, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã phát biểu tại Quốc hội Sri Lanka. Sự kiện, theo chia sẻ của Chủ tịch Quốc hội Sri Lanka Jagath Wickramaratne, có ý nghĩa lịch sử, truyền cảm hứng không chỉ cho Quốc hội và các nghị sĩ Sri Lanka mà còn chứa đựng nhiều chia sẻ về kinh nghiệm quý cho đất nước này.
Tuổi Trẻ Online trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Quốc hội Sri Lanka.
Thưa Ngài Chủ tịch Quốc hội, Tiến sĩ Jagath Wickramaratne,
Thưa các vị nghị sĩ Quốc hội Sri Lanka,
Thưa toàn thể quý vị và các bạn,
Hôm nay, tôi rất vinh dự được phát biểu trước Quốc hội Sri Lanka, cơ quan lập pháp tối cao, nơi đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của Nhân dân Sri Lanka. Thay mặt Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam, tôi xin gửi tới Ngài Chủ tịch Quốc hội, các vị nghị sĩ và toàn thể Nhân dân Sri Lanka lời chào trân trọng, lời chúc sức khỏe và tình hữu nghị chân thành nhất.
Tôi trân trọng cảm ơn Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka đã dành cho Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sự đón tiếp trọng thị, nồng ấm và thắm tình hữu nghị.
Tôi chúc mừng những nỗ lực và kết quả quan trọng mà Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka đã đạt được trong củng cố ổn định, phục hồi và phát triển đất nước. Việt Nam tin tưởng rằng, với truyền thống văn minh lâu đời, vị trí chiến lược tại Ấn Độ Dương, bản lĩnh của Nhân dân và quyết tâm của các nhà lãnh đạo, Sri Lanka sẽ tiếp tục vững bước trên con đường xây dựng một quốc gia hòa bình, ổn định, thịnh vượng và hạnh phúc.
Thưa quý vị và các bạn,
Sri Lanka có vị trí rất đặc biệt trong ký ức lịch sử và tình cảm của Nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ba lần dừng chân tại Sri Lanka trong suốt những năm tháng hoạt động cách mạng. Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Colombo được khánh thành năm 2013 và trở thành biểu tượng xúc động của tình cảm mà Nhân dân Sri Lanka dành cho Việt Nam.
Đối với Nhân dân Việt Nam, đó không chỉ là những dấu chân của một lãnh tụ trên hành trình đi tìm độc lập cho dân tộc mình. Đó còn là sự gặp gỡ tự nhiên giữa các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình, nhân văn và công lý.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì". Tư tưởng ấy có sự đồng điệu sâu sắc với khát vọng của Nhân dân Sri Lanka về một đất nước độc lập, hòa bình, ổn định và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân.
Việt Nam và Sri Lanka tuy cách xa về địa lý, nhưng rất gần gũi về lịch sử, văn hóa và khát vọng phát triển. Hai dân tộc chúng ta đều có truyền thống lâu đời, giàu bản sắc, đề cao tinh thần nhân ái, khoan dung và hòa hợp. Phật giáo và các giá trị văn hóa phương Đông đã góp phần nuôi dưỡng trong mỗi dân tộc tình yêu hòa bình, lòng nhân ái và ý thức cộng đồng.
Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21-7-1970, quan hệ Việt Nam - Sri Lanka đã trải qua hơn nửa thế kỷ vun đắp. Năm ngoái, hai nước kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao; Tổng thống Anura Kumara Dissanayake đã thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam và tham dự Đại lễ Vesak Liên hợp quốc tại TP.HCM.
Những sự kiện đó cho thấy quan hệ hai nước không chỉ được xây dựng bằng văn kiện ngoại giao, mà còn bằng sự hiểu biết, sự tin cậy và tình cảm chân thành giữa Nhân dân hai nước.
Hôm nay, tại Quốc hội Sri Lanka, tôi muốn chia sẻ với quý vị về hành trình phát triển của Việt Nam, đặc biệt là công cuộc Đổi mới gần 40 năm qua.
Gần 40 năm trước, khi bắt đầu công cuộc Đổi mới năm 1986, Việt Nam đứng trước muôn vàn khó khăn. Đất nước vừa trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, nền kinh tế trì trệ, đời sống Nhân dân thiếu thốn, nguồn lực phát triển rất hạn hẹp. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã lựa chọn Đổi mới.
Đổi mới trước hết là đổi mới tư duy. Chúng tôi nhận thức rằng để phát triển đất nước, phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng thực tiễn, mạnh dạn thay đổi những cơ chế không còn phù hợp, khơi dậy sức sáng tạo của Nhân dân, phát huy vai trò của doanh nghiệp, mở cửa hội nhập với thế giới và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, Việt Nam từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy các thành phần kinh tế; bảo đảm vai trò quản lý, định hướng và kiến tạo phát triển của Nhà nước; đồng thời tôn trọng quy luật thị trường, khuyến khích cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Trong nông nghiệp, Việt Nam trao quyền nhiều hơn cho người nông dân, khơi thông năng lực sản xuất, bảo đảm an ninh lương thực, từng bước chuyển từ tình trạng thiếu ăn sang tự chủ lương thực và trở thành một trong những quốc gia có vai trò quan trọng trong xuất khẩu nông sản.
Trong công nghiệp và dịch vụ, Việt Nam mở cửa thu hút đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, hình thành các khu công nghiệp, khu kinh tế, thúc đẩy thương mại và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.
Về đối ngoại, Việt Nam kiên trì đường lối độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Từ thực tiễn ấy, Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng, thể hiện qua các con số thống kê về kinh tế, xã hội (từ chỗ thiếu lương thực và nằm trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, nằm trong số 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới với quy mô GDP năm 2025 đạt mức 514 tỉ USD, GDP đầu người trên 5.000 USD/năm; là một trong 15 quốc gia có quy mô thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài hàng đầu thế giới, tham gia trên 20 hiệp định thương mại tự do, kết nối với hơn 60 nền kinh tế quan trọng trên thế giới...).
Tuy nhiên chúng tôi cũng nhận thức sâu sắc rằng Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức: Năng suất lao động cần tiếp tục nâng cao; chất lượng tăng trưởng phải được cải thiện; biến đổi khí hậu, già hóa dân số, cạnh tranh chiến lược, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng và những biến động của thương mại toàn cầu đặt ra nhiều yêu cầu mới. Những kết quả đã đạt được không làm chúng tôi tự mãn; trái lại, càng phát triển, Việt Nam càng hiểu rằng phát triển là hành trình liên tục đổi mới, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện và vươn lên.
Từ hành trình đó, Việt Nam rút ra một số kinh nghiệm mà chúng tôi cho rằng có thể có giá trị tham khảo đối với các quốc gia đang phát triển.
Thứ nhất, kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; thu hút đầu tư quốc tế, phát triển thương mại phải đi đôi với nâng cao năng lực nội sinh.
Độc lập, tự chủ là nền tảng để mỗi quốc gia bảo vệ lợi ích chính đáng của mình và lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện của mình. Nhưng tự chủ không có nghĩa là khép kín. Tự chủ là có đủ bản lĩnh, năng lực và niềm tin để hợp tác với tất cả các đối tác trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và cùng có lợi.
Việt Nam luôn coi nội lực là quyết định, nhưng ngoại lực là quan trọng. Nội lực là con người, thể chế, văn hoá, truyền thống, khát vọng và sức sáng tạo của Nhân dân. Ngoại lực là tri thức, thị trường, công nghệ, đầu tư, kinh nghiệm quản trị và hợp tác quốc tế. Sức mạnh của phát triển nằm ở khả năng kết hợp hài hòa giữa hai nguồn lực đó.
Hội nhập quốc tế mở ra cánh cửa rất lớn, nhưng năng lực nội sinh vẫn mang tính quyết định. Thu hút đầu tư nước ngoài là cần thiết, nhưng không đủ. Phát triển bền vững đòi hỏi phải nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước, chất lượng nguồn nhân lực, công nghiệp hỗ trợ, năng lực quản trị, đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Việt Nam đang nỗ lực chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động và tài nguyên sang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chất lượng nguồn nhân lực.
Thứ hai, phát huy vai trò của pháp luật, Quốc hội và quản trị quốc gia trong kiến tạo phát triển; đổi mới phải bắt đầu từ đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế.
Phát triển bền vững cần một nền tảng pháp lý ổn định, minh bạch, công bằng và có khả năng thích ứng với thay đổi. Nếu Chính phủ mở đường bằng chính sách, thì Quốc hội bảo đảm con đường ấy được soi sáng bởi pháp luật, trách nhiệm giải trình và ý chí của Nhân dân.
Ở Việt Nam, Quốc hội có vai trò rất quan trọng trong thể chế hóa đường lối phát triển, ban hành pháp luật, quyết định các vấn đề lớn của đất nước, giám sát hoạt động của Nhà nước và phản ánh nguyện vọng của Nhân dân. Hôm nay phát biểu trước Quốc hội Sri Lanka, tôi càng thấy rõ hơn vai trò của các cơ quan lập pháp trong việc tạo dựng niềm tin, thúc đẩy cải cách và bảo đảm phát triển bao trùm.
Một chính sách đúng có thể tạo ra chuyển biến trong một lĩnh vực. Nhưng một tư duy phát triển đúng có thể mở ra con đường cho cả quốc gia. Đổi mới ở Việt Nam không chỉ là thay đổi một số chính sách kinh tế, mà là thay đổi cách nhìn về phát triển, về vai trò của Nhà nước, thị trường, người dân và doanh nghiệp.
Chúng tôi vừa làm vừa tổng kết, vừa thí điểm vừa nhân rộng, không nóng vội, không cực đoan, nhưng kiên trì đổi mới. Bài học của Việt Nam là phải xuất phát từ thực tiễn đất nước mình, tôn trọng quy luật khách quan, đồng thời biết học hỏi kinh nghiệm quốc tế một cách chọn lọc, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Thứ ba, lấy người dân làm trung tâm, mục tiêu và động lực của phát triển.
Phát triển không chỉ là tăng trưởng GDP. Phát triển phải được đo bằng cuộc sống tốt hơn của người dân, bằng cơ hội học tập của trẻ em, bằng việc làm ổn định của người lao động, bằng sự an toàn của cộng đồng và bằng niềm tin của Nhân dân.
Với quan điểm "dân là gốc", Việt Nam luôn gắn tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, phát triển nông thôn và nâng cao chất lượng sống. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà còn là chủ thể sáng tạo, người tham gia và người làm chủ tiến trình phát triển.
Một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh trong một giai đoạn, nhưng một quốc gia chỉ phát triển bền vững khi người dân cảm thấy họ là người thụ hưởng, người tham gia và người làm chủ của tiến trình phát triển ấy.
Thứ tư, coi nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nền tảng quan trọng của ổn định và phát triển.
Đối với nhiều quốc gia đang phát triển, nông nghiệp không chỉ là một ngành kinh tế. Nông nghiệp còn gắn với an ninh lương thực, sinh kế của hàng triệu người dân, ổn định xã hội, văn hóa cộng đồng và khả năng chống chịu trước khủng hoảng.
Việt Nam bắt đầu nhiều bước đổi mới từ nông nghiệp và nông thôn. Từ kinh nghiệm của mình, chúng tôi nhận thấy rằng bảo đảm sinh kế của nông dân, phát triển hạ tầng nông thôn, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp, chế biến sâu, giảm thất thoát sau thu hoạch, xây dựng thương hiệu và thích ứng với biến đổi khí hậu là những trụ cột rất quan trọng của phát triển bền vững.
Thế giới đang thay đổi rất nhanh. Khoa học - công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng, biến đổi khí hậu, dịch chuyển chuỗi cung ứng và cạnh tranh chiến lược đang tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức cho mọi quốc gia.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Để thực hiện mục tiêu đó, Việt Nam đang thúc đẩy mạnh mẽ cải cách thể chế, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; chăm lo tốt hơn đời sống Nhân dân; xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Chúng tôi hiểu rõ khát vọng lớn phải được chứng minh bằng hành động cụ thể, cụ thể là cải cách mạnh mẽ hơn, quản trị hiệu quả hơn, phát huy dân chủ rộng rãi hơn, đoàn kết toàn dân tộc sâu sắc hơn và hợp tác quốc tế thực chất hơn.
Những vấn đề đó không chỉ là yêu cầu riêng của Việt Nam. Đó cũng là câu hỏi chung của nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam và Sri Lanka: làm thế nào để phát triển nhanh hơn nhưng bền vững hơn; hiện đại hơn nhưng bao trùm hơn; hội nhập sâu hơn nhưng vẫn giữ vững độc lập, tự chủ và bản sắc dân tộc.
Mỗi quốc gia có lịch sử, văn hóa, điều kiện, nguồn lực và lựa chọn phát triển riêng. Điều chúng tôi mong muốn chia sẻ là hành trình mà chúng tôi đã đi qua, có cả những thành công và chưa thành công, với tinh thần cầu thị và sẵn sàng cùng học hỏi.
Về quan hệ song phương, chúng tôi mong muốn cùng Sri Lanka mở ra giai đoạn hợp tác mới, sâu sắc hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn.
Tôi vui mừng thông báo với Quốc hội và Nhân dân Sri Lanka rằng trên nền tảng tin cậy chính trị, tình hữu nghị truyền thống và nhu cầu hợp tác ngày càng sâu rộng, Việt Nam và Sri Lanka đã nhất trí nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác toàn diện. Đây là dấu mốc quan trọng, mở ra không gian hợp tác mới, toàn diện hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn giữa hai nước.
Với khuôn khổ quan hệ mới này, chúng ta có điều kiện thuận lợi hơn để làm sâu sắc hợp tác chính trị, quốc phòng - an ninh, kinh tế, thương mại, đầu tư, nông nghiệp, giáo dục, văn hoá, du lịch, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và phối hợp đa phương.
Trên tinh thần đó, tôi xin đề xuất một số hướng hợp tác lớn.
Thứ nhất, tăng cường tin cậy chính trị và hợp tác nghị viện.
Hai nước cần tiếp tục duy trì trao đổi đoàn cấp cao và các cấp; tăng cường hợp tác giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và địa phương hai nước; phát huy vai trò các cơ chế tham vấn, đối thoại, ủy ban hỗn hợp và các kênh hợp tác song phương.
Đặc biệt, Quốc hội hai nước có thể tăng cường trao đổi kinh nghiệm về lập pháp, giám sát, cải cách hành chính, chuyển đổi số trong hoạt động nghị viện, xây dựng pháp luật phục vụ phát triển bền vững, bảo vệ nhóm yếu thế, thúc đẩy bình đẳng giới và tạo cơ hội cho thanh niên. Việt Nam mong muốn hai Quốc hội thúc đẩy hoạt động của các nhóm nghị sĩ hữu nghị, làm cầu nối để quan hệ hai nước ngày càng gần gũi, thực chất.
Thứ hai, tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn trong hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư.
Hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Sri Lanka còn nhiều dư địa. Hai nước có thị trường, sản phẩm, vị trí địa lý và năng lực bổ trợ cho nhau. Việt Nam có thể là cầu nối để Sri Lanka tăng cường hợp tác với ASEAN và Đông Nam Á; Sri Lanka có thể là cầu nối quan trọng để Việt Nam mở rộng hợp tác với Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương.
Hai bên đã thống nhất mục tiêu đưa kim ngạch thương mại song phương lên 1 tỉ USD trong tương lai gần; đồng thời khuyến khích các biện pháp thiết thực như tạo thuận lợi thương mại, tăng kết nối doanh nghiệp, trao đổi đoàn xúc tiến, triển lãm, hội thảo, kết nối cung - cầu và xem xét các khuôn khổ pháp lý thuận lợi hơn cho đầu tư, thương mại.
Mục tiêu 1 tỉ USD không chỉ là một con số. Đó là biểu tượng cho niềm tin mới, động lực mới và không gian hợp tác mới giữa cộng đồng doanh nghiệp hai nước. Tôi đề nghị các cơ quan hữu quan hai nước phối hợp chặt chẽ, cụ thể hóa các thỏa thuận đã đạt được thành chương trình, dự án và kết quả thiết thực cho người dân, doanh nghiệp hai nước.
Các lĩnh vực có thể ưu tiên gồm nông nghiệp, chế biến thực phẩm, sản xuất, năng lượng tái tạo, linh kiện điện tử và ô tô, dược phẩm, bệnh viện, viễn thông, logistics, hạ tầng, du lịch, dịch vụ và công nghệ thông tin. Đây là những lĩnh vực mà Sri Lanka đã bày tỏ quan tâm thu hút đầu tư và hợp tác với Việt Nam.
Thứ ba, đẩy mạnh hợp tác nông nghiệp, an ninh lương thực và phát triển nông thôn.
Nông nghiệp là lĩnh vực rất gần gũi với cả hai quốc gia. Việt Nam sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với Sri Lanka như tinh thần Tuyên bố chung năm 2025. Tôi tin rằng hợp tác nông nghiệp giữa hai nước không chỉ tạo thêm giá trị kinh tế, mà còn góp phần bảo đảm an ninh lương thực, sinh kế cho người dân nông thôn, thích ứng biến đổi khí hậu và thúc đẩy phát triển bao trùm.
Thứ tư, phát triển các động lực hợp tác mới: kinh tế biển, logistics, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và tăng trưởng xanh.
Sri Lanka có vị trí chiến lược tại Ấn Độ Dương, là điểm kết nối quan trọng của các tuyến hàng hải quốc tế. Việt Nam là quốc gia ven biển ở Đông Nam Á, đang thúc đẩy chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững. Hai nước có thể hợp tác trong logistics, cảng biển, vận tải, thương mại hàng hải, bảo vệ môi trường biển, ứng phó thiên tai và phát triển kinh tế biển xanh.
Hai bên cũng có thể đẩy mạnh hợp tác trong chuyển đổi số, thương mại điện tử, trí tuệ nhân tạo, chính phủ số, dịch vụ công số, giáo dục số, y tế số, năng lượng tái tạo và tài chính xanh. Hai nước đã cam kết hợp tác trong khai thác các công nghệ mới, trong đó có trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử và chuyển đổi số, phục vụ phát triển bền vững và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Đây là những lĩnh vực không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý. Trí tuệ, công nghệ, sáng tạo và dữ liệu có thể trở thành những cây cầu mới nối liền Việt Nam và Sri Lanka.
Thứ năm, tăng cường giáo dục, văn hoá, du lịch và giao lưu Nhân dân.
Quan hệ giữa hai quốc gia chỉ thật sự bền chặt khi được nuôi dưỡng không chỉ bằng thỏa thuận và văn kiện, mà bằng sự hiểu biết, giao lưu và tình cảm của người dân hai nước.
Việt Nam và Sri Lanka có nhiều điều kiện để phát triển du lịch văn hóa, du lịch Phật giáo, du lịch di sản, du lịch biển và du lịch sinh thái. Hai bên đã nhất trí tầm quan trọng của kết nối hàng không và khuyến khích các hãng hàng không sớm mở đường bay trực tiếp; đồng thời thúc đẩy các biện pháp tạo thuận lợi cho du lịch, kinh doanh và giao lưu Nhân dân.
Hai nước cũng cần tăng cường trao đổi sinh viên, học giả, nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, doanh nghiệp trẻ; mở rộng học bổng; thúc đẩy hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu; tổ chức các tuần lễ văn hóa Việt Nam tại Sri Lanka và Sri Lanka tại Việt Nam. Việt Nam trân trọng việc Sri Lanka sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm về khảo cổ học, bảo tồn di sản văn hóa; đồng thời Việt Nam cũng mong muốn tăng cường hợp tác trong nghiên cứu Phật giáo, văn hóa và lịch sử giữa hai nước.
Tôi cũng mong Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng người Việt Nam tại Sri Lanka ổn định cuộc sống, hội nhập tốt với xã hội sở tại và đóng góp tích cực cho quan hệ hữu nghị giữa hai dân tộc.
Thứ sáu, phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế.
Trong một thế giới đầy biến động, các quốc gia đang phát triển cần tăng cường đoàn kết, hợp tác và tiếng nói chung. Việt Nam và Sri Lanka cùng coi trọng chủ nghĩa đa phương, luật pháp quốc tế, vai trò của Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết và các cơ chế hợp tác khu vực.
Hai nước cần tiếp tục phối hợp trong các vấn đề cùng quan tâm như hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải; chống tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, tội phạm mạng, nhập cư bất hợp pháp; tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; ứng phó biến đổi khí hậu; thúc đẩy tài chính khí hậu cho các quốc gia đang phát triển; và thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững. Tuyên bố chung năm 2025 cũng khẳng định tầm quan trọng của hòa bình, ổn định, an ninh, tự do hàng hải và tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Việt Nam hoan nghênh định hướng của Sri Lanka tăng cường hợp tác với Đông Nam Á và ASEAN. Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối để Sri Lanka mở rộng hợp tác với ASEAN; đồng thời mong muốn Sri Lanka tiếp tục là cầu nối để Việt Nam tăng cường quan hệ với Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương.
Các quốc gia vừa và nhỏ không tìm kiếm sức mạnh bằng đối đầu. Chúng ta tìm kiếm sức mạnh bằng đoàn kết, bằng luật pháp quốc tế, bằng năng lực tự cường, bằng chất lượng quản trị, bằng niềm tin của Nhân dân và bằng sự tin cậy giữa các dân tộc.
Việt Nam hiểu sâu sắc giá trị của hòa bình, bởi chúng tôi đã trải qua chiến tranh. Việt Nam hiểu giá trị của độc lập, bởi chúng tôi đã phải đấu tranh lâu dài để giành và giữ độc lập. Việt Nam hiểu giá trị của phát triển, bởi chúng tôi đã đi lên từ nghèo khó. Và Việt Nam hiểu giá trị của bạn bè, bởi trong những năm tháng khó khăn nhất, chúng tôi đã nhận được sự ủng hộ, đoàn kết và tình cảm quý báu của Nhân dân tiến bộ trên thế giới, trong đó có Nhân dân Sri Lanka.
Ngày nay, Việt Nam mong muốn biến tình hữu nghị truyền thống thành nguồn lực phát triển thực sự; biến sự tin cậy chính trị thành hợp tác kinh tế cụ thể; biến giao lưu văn hóa thành sự hiểu biết sâu sắc; biến khát vọng chung thành những dự án, chương trình và lợi ích thiết thực cho Nhân dân hai nước.
Tôi tin tưởng rằng với nền tảng hơn nửa thế kỷ quan hệ ngoại giao, với sự tương đồng về lịch sử, văn hóa và khát vọng phát triển, với quyết tâm của lãnh đạo và sự ủng hộ của Nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam - Sri Lanka sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới, sâu sắc hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn.
Thưa Ngài Chủ tịch Quốc hội,
Thưa các vị nghị sĩ,
Từ Hà Nội đến Colombo, từ Biển Đông đến Ấn Độ Dương, chúng ta có chung một niềm tin: hòa bình là nền tảng, Nhân dân là trung tâm, phát triển là mục tiêu và hữu nghị là cây cầu bền vững nhất nối liền hai dân tộc.
Chúc Quốc hội Sri Lanka tiếp tục là biểu tượng của ý chí, trí tuệ và khát vọng của Nhân dân Sri Lanka.
Chúc Nhà nước, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka hòa bình, ổn định, phát triển bền vững và thịnh vượng.
Chúc quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Sri Lanka không ngừng phát triển, vì lợi ích của Nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực và thế giới.
Trân trọng cảm ơn.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thế Giới
Chiến sự Ukraine ngày 1.604: Tu-95 Nga trúng không kích, Kyiv mở mặt trận châu Phi?

Thông báo trên X, Tổng thống Zelensky nói máy bay ném bom chiến lược Tu-95 bị đánh trúng nằm ở căn cứ không quân Engels ở tỉnh Saratov (Nga), nằm cách biên giới Ukraine gần 800 km.
Tu-95 là dòng máy bay ném bom chiến lược tầm xa và thường xuyên được Nga sử dụng để triển khai các đòn tấn công bằng tên lửa hành trình từ không phận Nga đến các mục tiêu trên lãnh thổ Ukraine.
Còn Cơ quan An ninh Ukraine (SBU) cho hay chiếc Tu-95 bị "hư hại nghiêm trọng", với phần đuôi bị biến dạng hoàn toàn.
SBU cho hay đây là chiếc máy bay tham gia vào nhiều cuộc không kích được Nga tiến hành ở Ukraine.
Tuy nhiên, cả SBU lẫn ông Zelensky đều không đề cập thời điểm chiến dịch được triển khai. Trong khi đó, một số kênh Telegram của Nga đưa tin căn cứ không quân Engels đã bị các máy bay không người lái (UAV) tập kích khuya 16.7.
Nga chưa bình luận về thông tin trên.
Cùng ngày, giới chức Ukraine thông báo Nga đã tấn công 2 thành phố cảng của Ukraine trên biển Đen, khiến 3 người tử vong, trong bối cảnh Moscow gia tăng sức ép lên các tuyến vận tải thương mại then chốt của đối phương.
TASS dẫn lời Bộ Quốc phòng Nga xác nhận lực lượng nước này vào khuya 16.7 rạng sáng hôm sau đã tấn công các cơ sở hạ tầng cảng biển của Ukraine ở Odessa và Chornomorsk.
Vụ việc xảy ra sau khi Nga trong những tuần gần đây tăng cường các vụ tấn công và tập trung vào những cảng nước sâu vốn xử lý phần lớn lượng ngũ cốc và những hàng hóa khác. Đây cũng là những cảng biển đóng vai trò then chốt cho nền kinh tế vào thời chiến của Ukraine.
Theo Reuters dẫn lời các nhà phân tích và các bên giao dịch, những cuộc tập kích trên đã làm gián đoạn một phần hoạt động xuất khẩu ngũ cốc và gần như làm đình trệ việc thu mua lương thực tại các bến cảng.
Một cư dân Odessa tên Viktoriia kể lại còi báo không kích cứ vang lên hết đợt này đến đợt khác, điều chưa từng diễn ra trước đó.
Về phần mình, Ukraine cũng đẩy mạnh chiến dịch nhằm làm gián đoạn hệ thống hậu cần quân sự của Nga và cô lập bán đảo Crimea.
Tư lệnh Robert Brovdi của Lực lượng không người lái Ukraine cho biết đã có thêm 12 tàu của Nga ở biển Đen trúng tập kích của UAV Ukraine hôm 17.7.
Trong một diễn biến khác, Thứ trưởng Ngoại giao Nga Georgy Borisenko cho rằng các binh sĩ Ukraine ở một số nước châu Phi đang tìm cách mở mặt trận thứ hai chống Nga, theo TASS.
Nhà ngoại giao đã đưa ra nhận định trên sau khi Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov trước đó cáo buộc phương Tây với sự hỗ trợ của các tay súng Ukraine, đang mưu đồ làm suy yếu quan hệ của Moscow với các nước ở vùng Sahara-Sahel.
Ông Borisenko đã cung cấp thêm thông tin theo sau thông báo của ông Lavrov, khẳng định nguy cơ này đang mở màn ở Mali, nơi các giảng viên huấn luyện Ukraine (bao gồm những người hướng dẫn điều khiển phương tiện không người lái), đang có mặt trong hàng ngũ các tay súng Hồi giáo.
Thứ trưởng Nga cũng nhắc đến Libya, nơi các huấn luyện viên Ukraine được cho là đã đào tạo lực lượng địa phương sử dụng UAV. Ông Borisenko cho rằng chính những người Ukraine này đã sử dụng xuồng không người lái tấn công tàu chở khí tự nhiên hóa lỏng Arctic Metagaz của Nga hôm 3.3.
Con tàu đã bị hư hại sau vụ tấn công và đến nay vẫn trôi dạt trên Địa Trung Hải.
Theo Nga, quân nhân Ukraine còn được cho xuất hiện ở một số nước châu Phi khác, như Sudan.
Kyiv chưa bình luận về thông tin trên.
Tin Gốc: Thanh Niên

